Chương 1 đã đưa ra một số lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó, chương này cũng đã trình bày và nhận xét một số nghiên cứu của các tác giả về ảnh hưởng của rủi ro nhận thức đến ý định mua cũng như sự tác động của các yếu tố trực quan đến quyết định mua hàng online, từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu. 12 CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Chương 2 mô tả cách thức tiến hành nghiên cứu: các bước trong quy trình nghiên cứu, thảo luận về phương pháp nghiên cứu, biến quan sát cho các biến và cách thức phân tích dữ liệu.1 Quy trình nghiên cứu Hình 2. Quy trình nghiên cứu 2.
Phương pháp nghiên cứu 2. Mô hình nghiên cứu đề xuất Hình 2. Mô hình nghiên cứu đề xuất Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro nhận thức, hình ảnh trực quan và ý định mua hàng. Tuy nhiên, theo như lập luận ở cơ sở lý thuyết thì nhóm tác giả đang tập trung vào việc đánh giá vai trò của hình ảnh trực quan dưới góc độ là biến điều tiết tác động lên mối quan hệ giữa rủi ro nhận thức và ý định mua hàng, trong đó hình ảnh trực quan bao gồm hai nhân tố: đánh giá xếp hạng và hình ảnh từ người dùng.
Xây dựng thang đo 2. Thang đo Ý định mua hàng 13 - Định nghĩa thang đo: Ý định mua hàng là nỗ lực có ý thức của người tiêu dùng để lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ, có thể được tạo ra khi ấn tượng hoặc thái độ dành cho người tiêu dùng đáp ứng mong đợi của họ (Spears và Singh, 2004). - Xây dựng thang đo: Thang đo này gồm 4 biến quan sát Bảng 2. Thang đo ý định mua hàng Mã Nguồn tham Các chỉ báo hóa khảo Tôi sẽ ủng hộ việc mua các sản phẩm gia dụng điện tử thông PI1 qua các trang TMĐT Tôi sẽ mua sắm các dụng cụ gia dụng điện tử trên các trang PI2 TMĐT trong thời gian đến (Spears và Tôi sẽ mua sắm các dụng cụ gia dụng điện tử trên các trang Singh, 2004).
PI3 TMĐT nhiều hơn Tôi sẽ giới thiệu người khác mua dụng cụ gia dụng điện tử PI4 trên trang TMĐT 2. Thang đo Rủi ro nhận thức - Định nghĩa thang đo: Rủi ro nhận thức được trong bối cảnh internet được định nghĩa là kỳ vọng thua lỗ được xác định một cách chủ quan của người mua hàng trên internet khi dự tính mua hàng trực tuyến cụ thể (Forsythe & Shi, 2003). - Xây dựng thang đo: Thang đo này gồm 5 biến quan sát Bảng 2. Thang đo Rủi ro nhận thức Mã Nguồn tham Các chỉ báo hóa khảo Tôi không yên tâm khi thanh toán trong giao dịch mua sắm PR1 trực tuyến Tôi không yên tâm khi cung cấp những thông tin cá nhân cho PR2 trang web TMĐT (Forsythe & Khi mua các thiết bị gia dụng điện tử, tôi sợ chất lượng không PR3 Shi, 2003).
đúng như những gì tôi yêu cầu Khi mua các thiết bị gia dụng điện tử, tôi sợ chất lượng không PR4 đúng như những gì nhà cung cấp giới thiệu PR5 Tôi không tin tưởng các trang web TMĐT giao hàng đúng hẹn 2. Thang đo Hình ảnh từ người dùng 14 - Định nghĩa thang đo: Hình ảnh từ người dùng là hình ảnh tín hiệu trực quan do người tiêu dùng đã sử dụng tạo và chia sẻ trực tuyến dưới dạng hình ảnh (Albers & James, 1988). - Xây dựng thang đo: Thang đo này gồm 4 biến quan sát Bảng 2. Thang đo Hình ảnh từ người dung Mã Nguồn tham Các chỉ báo hóa khảo Hình ảnh từ các đánh giá giúp tôi có cái nhìn khách quan về UG1 sản phẩm gia dụng điện tử Hình ảnh từ các đánh giá giúp tôi hiểu thêm về sản phẩm gia UG2 Raffaele dụng điện tử Filieri et al., Hình ảnh từ các đánh giá cung cấp thông tin về sản phẩm gia 2021 UG3 dụng điện tử Hình ảnh từ các đánh giá thu hút sự quan tâm của tôi về sản UG4 phẩm gia dụng điện tử 2.
Thang đo Đánh giá xếp hạng - Định nghĩa thang đo: Đánh giá xếp hạng: là thông tin trực quan về hiệu suất tổng thể hoặc mức độ hài lòng về sản phẩm hoặc dịch vụ được thể hiện bởi tất cả người tiêu dùng đã truy cập, đánh giá và xếp hạng dịch vụ/sản phẩm trên một nền tảng cụ thể (Filieri, 2015). - Xây dựng thang đo: Thang đo này gồm 4 biến quan sát Bảng 2. Thang đo Đánh giá xếp hạng Mã Nguồn tham Các chỉ báo hóa khảo Các Đánh giá xếp hạng giúp tôi xác định sản phẩm gia dụng PH1 điện tử của nhà cung cấp nào được mua nhiều nhất Các Đánh giá xếp hạng định hướng cho các quyết định chọn PH2 Raffaele loại sản phẩm gia dụng điện tử của tôi Filieri et al., Các Đánh giá xếp hạng giúp tôi xác định loại sản phẩm gia 2021 PH3 dụng điện tử nào được mua nhiều nhất Các Đánh giá xếp hạng giúp tôi giúp tôi giảm bớt thời gian PH4 cân nhắc lựa chọn về loại sản phẩm gia dụng điện tử 2. Nghiên cứu sơ bộ 15 Bên cạnh thang đo tham khảo từ các nghiên cứu trước, nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu sợ bộ bằng phương pháp định tính nhằm điều chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam tình hình hậu Covid-19.
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để thu thập ý kiến của 10 người tiêu dùng – những người có tham gia mua sắm hàng điện tử gia dụng trên sàn thương mại điện tử. Bảng câu hỏi thăm dò ý kiến khách hàng (Phụ lục 1) được dùng để khai thác tối đa các ý kiến và quan điểm của người dùng về các biến rủi ro nhận thức, hình ảnh từ người dùng, đánh giá xếp hạng và ý định mua hàng. Kết quả cho thấy hầy hết các ý kiến đều xoay quanh nội dung câu hỏi đã được xây dựng ở trên về thang đo của các biến. Nghiên cứu chính thức Từ kết quả nghiên cứu định tính, nhóm tác giả giữ nguyên lại thang đo đã xây dựng ban đầu, điều chỉnh lại một số cách dùng từ cho phù hợp và tránh gây hiểu lầm cho người tham gia khảo sát.
Bảng câu hỏi chính thức (Phụ lục 2) sẽ được phát ra nhằm mục đích thu thập dữ liệu sơ cấp. Nhóm tác giả sử dụng phần mề SPSS 22.0 để tiến hành phân tích dữ liệu. Sau khi làm sạch dữ liệu, nhóm tác giả tiến hành phân tích Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo. Tiếp theo đó, phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng nhằm phân nhóm các biến trước khi đưa vào phân tích hồi quy và đánh giá vai trò điều tiết của biến Đánh giá xếp hạng và Hình ảnh từ người dùng.
Mô hình chính thức Mô hình nghiên cứu chính thức được giữ nguyên như đã đề xuất ban đâu: Đánh giá tác động của biến điều tiết hình ảnh trực quan (Đánh giá xếp hạng và Hình ảnh từ người dùng). Mô hình nghiên cứu chính thức Bảng câu hỏi chính thức phục vụ cho nghiên cứu được thể hiện trong bảng 3.5 dưới đây Bảng 2. Thang đo chính thức của mô hình nghiên cứu Thành phần BQS Chỉ báo Biến Rủi ro Tôi không yên tâm khi thanh toán trong giao dịch mua sắm PR1 nhận thức trực tuyến 16 Thành phần BQS Chỉ báo Tôi không yên tâm khi cung cấp những thông tin cá nhân PR2 cho trang web TMĐT Khi mua các thiết bị gia dụng điện tử, tôi sợ chất lượng PR3 không đúng như những gì tôi yêu cầu Khi mua các thiết bị gia dụng điện tử, tôi sợ chất lượng PR4 không đúng như những gì nhà cung cấp giới thiệu Tôi không tin tưởng các trang web TMĐT giao hàng đúng PR5 hẹn Hình ảnh từ các đánh giá giúp tôi có cái nhìn khách quan về UG1 sản phẩm gia dụng điện tử Hình ảnh từ các đánh giá giúp tôi hiểu thêm về sản phẩm gia UG2 Biến hình ảnh dụng điện tử từ người dùng Hình ảnh từ các đánh giá cung cấp thông tin về sản phẩm UG3 gia dụng điện tử Hình ảnh từ các đánh giá thu hút sự quan tâm của tôi về sản UG4 phẩm gia dụng điện tử Các Đánh giá xếp hạng giúp tôi xác định sản phẩm gia PH1 dụng điện tử của nhà cung cấp nào được mua nhiều nhất Các Đánh giá xếp hạng định hướng cho các quyết định PH2 Biến đánh giá chọn loại sản phẩm gia dụng điện tử của tôi xếp hạng Các Đánh giá xếp hạng giúp tôi xác định loại sản phẩm gia PH3 dụng điện tử nào được mua nhiều nhất Các Đánh giá xếp hạng giúp tôi giúp tôi giảm bớt thời gian PH4 cân nhắc lựa chọn về loại sản phẩm gia dụng điện tử Tôi sẽ ủng hộ việc mua các sản phẩm gia dụng điện tử thông PI1 qua các trang TMĐT Tôi sẽ mua sắm các dụng cụ gia dụng điện tử trên các trang Biến Ý định PI2 TMĐT trong thời gian đến mua hàng Tôi sẽ mua sắm các dụng cụ gia dụng điện tử trên các trang PI3 TMĐT nhiều hơn PI4 Tôi sẽ giới thiệu người khác mua dụng cụ gia dụng điện tử 17 Thành phần BQS Chỉ báo trên trang TMĐT 18 2. Nghiên cứu chính thức a.
Mẫu điều tra Mặc dù số lượng mẫu không đánh giá hết được độ chính xác của nghiên cứu, tuy nhiên, theo như thống kê, kích thước mẫu càng lớn thì sai lệch với tổng thể càng nhỏ, tính đại điện tổng thể càng cao. Với các mô hình nghiên cứu có số lượng biến lớn thì kích thước mẫu thường phải lớn hơn 100 (Hair, 1998). Trong khi đó, Guilford (1954) đề nghị mức 200 cho kích thước mẫu tối thiểu. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đề nghị kích thước mẫu theo khoảng: dưới 100: mẫu kém, dưới 200: tạm được, dưới 300: mẫu tốt, từ 500 trở lên: rất tốt (Comrey và Lee, 1992; MacCallum, 1999).
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng kích thước mẫu phụ thuộc vào số lượng biến quan sát. Theo Gorsuch (1983), tỷ lệ này là 1:5, tức là cứ mỗi biến quan sát thì cần 5 bảng trả lời. Tỷ lệ này cũng gần với con số mà Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) đề nghị: 1:5 hoặc 1:4. Theo như cách tính kích thước mẫu này, đề tài có 17 câu hỏi, số lượng bảng câu hỏi cần phát ra là 75 bảng, tuy nhiên, theo như đã giải thích ở trên, để đảm bảo tính chính xác cao cho nghiên cứu và tình hình tài chính, nhóm tác giả lựa chọn mức bảng câu hỏi phát ra là 250 để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu.