phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: 3 Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả và thảo luận 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc phân loại, giá trị của cây cà chua 1. Nguồn gốc Học thuyết về trung tâm phát sinh cây trồng của N. Valilov đề xƣớng và P.
Zukovxki bổ xung, cho rằng quê hƣơng của cây cà chua ở vùng Nam Mỹ Peru, Bolovia, Ecuador. Tại đây, ngày nay còn tìm thấy nhiều loài cà chua hoang dại gần gũi với loài cà chua trồng. Các nghiên cứu sinh học phân tử và di truyền phân tử nghiên cứu các izoenzyme, các marker phân tử, nghiên cứu khoảng cách di truyền cũng đã xác định điều đó, đồng thời khẳng định rằng Mehico là nơi đầu tiên thuần hoá, trồng trọt cà chua [31]. Có 3 chứng cứ đáng tin cậy để khẳng định Mehico là trung tâm khởi nguyên trồng trọt hóa cây cà chua: - Cà chua trồng đƣợc bắt nguồn từ Châu Mỹ.
- Đƣợc trồng trọt hóa trƣớc khi chuyển xuống Châu Âu và Châu Á. - Tổ tiên của cà chua trồng ngày nay là cà chua anh đào L.cerasiforme đƣợc tìm thấy từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới Châu Mỹ, sau đó đến vùng nhiệt đới Châu Á và Châu Phi [THEO 12]. Các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của cây cà chua trồng. Tuy nhiên nhiều tác giả khác nhận định L.cerasiforme cà chua anh đào là tổ tiên của loài cà chua trồng.
Theo Luckwill, 1943, cà chua từ Nam Mỹ đƣợc đƣa vào Châu Âu từ thế kỷ 16. Đầu tiên đƣợc trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và từ đó cà chua đƣợc lan truyền đi các nơi khác nhờ các thƣơng nhân và thực dân khai thác thuộc địa. Tuy nhiên, thời gian này cây cà chua chỉ đƣợc trồng nhƣ cây cảnh vì màu sắc, hình dạng quả đẹp mắt. Ngƣời ta cho rằng trong cà chua có chứa chất độc vì nó có họ với cà độc dƣợc.
Vào thế kỷ 18 cà chua đƣợc đƣa vào Châu Á nhờ các lái buôn ngƣời Châu Âu và thực dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Đầu tiên là Philippin, đảo Java và Malaysia, sau đó đến các nƣớc khác và trở nên phổ biến [12]. Cà chua du nhập vào Việt Nam từ thời thực dân Pháp chiếm đóng, tức là vào khoảng hơn 5 100 năm trƣớc đây, và đƣợc ngƣời dân thuần hóa trở thành cây bản địa. Mãi đến cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19, cà chua mới đƣợc xếp vào cây rau thực ph m có giá trị và từ đó ngày càng phát triển rộng khắp trên thế giới.
Phân loại Cà chua thuộc họ cà Solaneceae), chi (Lycopersicon), có bộ nhiễm sắc thể 2n=24 và gồm có 12 loài. Cà chua đƣợc nghiên cứu và lập thành hệ thống phân loại theo quan điểm riêng của nhiều tác giả: H.Muller 1940 , Daskalov và Popov 1941 , Luckwill 1943 , Lehmann 1953 , Brezhnev 1955, 1964. Ở Mỹ thƣờng dùng phân loại của Muller, ở Châu Âu, Liên Xô cũ thƣờng dùng phân loại của Bzezhnev. Đã có nhiều tác giả đƣa ra nhiều quan điểm khác nhau về phân loại cho cà chua, nhƣng hiện nay hệ thống phân loại của Breznep 1964 đƣợc sử dụng đơn giản và rộng rãi nhất đó là Eulycopersicon (chi phụ) và Eriopersicon chi phụ 2 [theo 12].
* Chi phụ 1 Eulycopersicon : là dạng cây 1 năm, gồm các dạng quả không có lông, màu đỏ hoặc màu đỏ vàng, hạt mỏng, rộng… Chi phụ này có một loài là L. Loài này gồm 3 loài phụ là: - L. spontaneum cà chua hoang dại. subspontaneum cà chua bán hoang dại.
Cultum cà chua trồng : là loại lớn nhất, có các biến chủng có khả năng th ch ứng rộng, đƣợc trồng khắp thế giới. Breznep đã chia loài phụ này thành biến chủng sau: + L. vulgare cà chua thông thƣờng : biến chủng này chiếm 75% cà chua trồng trên thế giới. Bao gồm các giống có thời gian sinh trƣởng khác nhau với trọng lƣợng quả từ 50 đến trên 100g.
Hầu hết những giống cà chua đang đƣợc trồng ngoài sản xuất đều thuộc nhóm này. grandifolium: Cà chua lá to, cây trung bình, lá láng bóng, số lá trên cây từ t đến trung bình. validum: cà chua anh đào cà chua thân bụi, thân thấp, thân có lông tơ, lá trung bình, cuống ngắn, mép cong. vyriform: cà chua hình quả lê, sinh trƣởng vô hạn.
* Chi phụ 2 Eriopersicon : là dạng cây 1 năm hoặc nhiều năm, gồm các dạng quả có lông màu trắng, xanh lá cây hoặc vàng nhạt, có các vệt màu antoxyan hay xanh thẫm. Hạt dày không có lông, màu nâu…chi phụ này có 2 loài gồm 5 loại hoang dại: L. - Lycopersicun hisrutum Humb: Đây là loại cây ngày ngắn, quả chỉ hình thành trong điều kiện chiếu sáng trong ngày 8-10 h/ngày, quả ch n xanh, có mùi đặc trƣng. Loài này thƣờng sống ở độ cao 2200 – 2500 m, t khi ở độ cao 1100m so với mặt nƣớc biển nhƣ các loài cà chua khác.
- Lycopersicum peruviarum Mill: loại này thƣờng mọc ở miền Nam Pêru, bắc Chilê, có xu hƣớng thụ phấn chéo cao hơn so với loài Lycopersicon esculentum Mill. Trong điều kiện ngày ngắn cây ra quả tốt hơn ngày dài, nó không có đặc t nh của L. hisrutum, có khả năng chống bệnh cao hơn các loài khác. Loại này thƣờng sống ở độ cao 300 – 2.000m so với mặt nƣớc biển.
Giá trị dinh dưỡng và giá trị y học Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dƣỡng cao. Trong số các loại rau, củ, quả dùng làm rau thì cà chua là thực ph m chứa vitamin, chất khoáng và nhiều chất có hoạt t nh sinh học nhất, là thực ph m có lợi cho sức khỏe. Theo các nhà dinh dƣỡng hằng ngày mỗi ngƣời sử dụng 100- 200g cà chua sẽ thỏa mãn nhu cầu các vitamin cần thiết và các chất khoáng chủ yếu. Bên cạnh những giá trị dinh dƣỡng to lớn giúp bổ sung nhiều dƣỡng chất thiết yếu cho cơ thể thì cà chua còn có ý nghĩa rất lớn về mặt y học.
Theo Võ Văn Chi 1997 , cà chua có vị ngọt, t nh mát, có tác dụng tạo năng lƣợng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khu n, chống độc, kiềm hoá máu có dƣ axit, hoà tan ure, thải ure, điều hoà bào tiết, giúp tiêu hoá dễ dàng các loại bột và tinh bột. Dùng ngoài để chữa trứng cá, mụn nhọt, viêm tấy và dùng lá để trị vết đốt của sâu bọ. Chất tomarin chiết xuất từ lá cà chua khô có tác dụng kháng khu n, chống nấm, diệt một số bệnh hại cây trồng. 7 Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh tác dụng đặc biệt của cà chua đối với sức khỏe.
Quả cà chua có nhiều vitamin, chất khoáng và vi khoáng dễ hấp thu, giúp cho cơ thể tăng cƣờng khả năng miễn dịch, phòng chống nhiễm trùng. Lycopen và beta-caroten, đây là một chất oxi hóa tự nhiên mạnh gấp 2 lần so với beta-caroten và gấp 100 lần so với vitamin E, có tác dụng chống oxy hóa mạnh, chế độ ăn tăng cƣờng cà chua đã góp phần làm chậm quá trình lão hoá và làm giảm nguy cơ ung thƣ vú, ung thƣ tuyến tiền liệt, ung thƣ đại tràng, ung thƣ vòm họng…. Ngoài ra cà chua còn chứa nhiều hợp chất hóa thực vật khác và chất xơ giúp cho cơ thể bài xuất cholesterol, giảm cục máu đông, đề phòng các tai biến của bệnh tim mạch, bệnh béo phì. Cà chua ăn tƣơi, làm nƣớc ép thì không bị mất vitamin C nhƣng khi nấu ch n nhƣ làm sốt cà chua, nấu canh với sƣờn, với thịt nạc hay riêu cua, riêu cá… lại làm tăng khả năng hấp thu Lycopen và betacaroten.
Cà chua có lợi cho sức khỏe ở mọi lứa tuổi. Đối với chị em phụ nữ, ăn nhiều cà chua sẽ có làn da khỏe đẹp, giảm nguy cơ béo phì và giảm nguy cơ ung thƣ vú. Ngoài ra nếu sử dụng nhiều cà chua thì tỉ lệ oxi hóa làm hƣ các cấu trúc sinh hóa của ADN giảm xuống thấp nhất. Giá trị kinh tế Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dƣỡng và có nhiều cách sử dụng.
Có thể dùng ăn tƣơi thay hoa quả, trộn Salat, nấu canh, xào, nấu sốt vang và cũng có thế chế biến thành các sản ph m nhƣ cà chua cô đặc, tƣơng cà chua, nƣớc sốt nấm, cà chua đóng hộp, mứt hay nƣớc ép. Ngoài ra, có thể chiết tách hạt cà chua để lấy dầu. Quả cà chua vừa có thể dùng để ăn tƣơi, nấu nƣớng vừa là nguyên liệu cho chế biến công nghiệp với các loại sản ph m khác nhau. Do đó, với nhiều nƣớc trên thế giới thì cây cà chua là một cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rất cao và là mặt hàng xuất kh u quan trọng.
Theo FAO 1999 Đài Loan hằng năm xuất kh u cà chua tƣơi với tổng trị giá là 952.000 USD cà chua chế biến. Lƣợng cà chua trao đổi trên thị trƣờng thế giới năm 1999 là 36,7 tấn trong đó cà chua đƣợc dùng ở dạng ăn tƣơi chỉ 5-7%. Ở 8 Mỹ 1997 tổng giá trị sản xuất 1ha cà chua cao hơn gấp 4 lần so với lúa nƣớc, 20 lần so với lúa mì [29]. Cà chua là một trong những mặt hàng có giá trị xuất kh u cao kể cả dạng tƣơi và dạng chế biến.
Lƣợng cà chua trao đổi trên thị trƣờng quốc tế là 32,7 triệu tấn, trong đó 10% ở dạng quả tƣơi. Ở Việt Nam cà chua đƣợc trồng trên 100 năm nay, diện t ch gieo trồng cà chua hàng năm biến động từ 15 – 17 ngàn ha, sản lƣợng 280 ngàn tấn. Mức tiêu thụ bình quân đầu ngƣời của nƣớc ta là: 3 kg/ngƣời/năm [theo 12]. Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng sản xuất cà chua cho thu nhập bình quân 42 - 68,4 triệu đồng/ha/vụ, lãi thuần đạt 15-26 triệu đồng, cao hơn nhiều so với trồng lúa.
Trồng lúa chỉ giải quyết 230-250 công lao động, trong đó trồng cà chua giải quyết đƣợc 1100 - 1200 công lao động. Theo Đề án phát triển rau – quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2010 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn, cà chua là mặt hàng chủ yếu đƣợc quan tâm phát triển. Năm 2005 diện t ch trồng cà chua sẽ là 2000ha. Với sản lƣợng 80.000 tấn, cho giá trị xuất kh u là 10 triệu USD; năm 2010 diện t ch tăng lên 6000ha, tổng sản lƣợng đạt 240.000 tấn, cho giá trị xuất kh u là 100 triệu USD.
Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua 1.