Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Chỉ xuất và hồi chỉ 1.1 Chỉ xuất và các biểu thức chỉ xuất Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học (Tập II: Ngữ dụng học) thì chỉ xuất (dexis) là phương thức chiếu vật dựa trên hành động chỉ trỏ. Quy tắc điều khiển chỉ trỏ là: sự vật được chỉ trỏ phải ở gần (trong tầm với của người chỉ và trong tầm nhìn của cả người chỉ lẫn người được chỉ) đối với một vị trí được lấy làm mốc. Điểm lấy làm mốc để chỉ trỏ thường là cơ thể của người chỉ tính theo hướng nhìn thẳng của người này. Quy tắc này sẽ giải thích sự chiếu vật bằng chỉ xuất trong ngôn ngữ.
[2, 72] Tất cả các ngôn ngữ đều có hệ thống từ chuyên chiếu vật theo phương thức chỉ xuất. Trong đó có thể liệt kê ra ba phạm trù chỉ xuất trong các ngôn ngữ là phạm trù ngôi (nhân xưng), phạm trù chỉ xuất không gian, phạm trù chỉ xuất thời gian. - Phạm trù ngôi (tức nhân xưng): Phạm trù ngôi hay phạm trừ xưng hô bao gồm những phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn. Như thế, phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong cuộc giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là người nói.
Khi vai trò người nói luân chuyển thì ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai cũng thay đổi theo: ở lời nói của Sp1 thì Sp1 là tôi (I), còn Sp2 là anh (you). Đến khi Sp2 nói thì Sp2 sẽ là tôi (I) còn Sp1 sẽ là anh (you). [2, 72] - Phạm trù chỉ xuất không gian: Là phương thức chiếu vật bằng cách chỉ ra sự vật (sự kiện) theo vị trí tương đối của nó trong không gian theo một Hoàng Thị Hà 7 z Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt điểm mốc để định vị không gian của sự vật, sự việc. Hoặc người ta lấy một điểm không gian làm điểm mốc định vị sự vật, sự việc.
- Phạm trù chỉ xuất thời gian: Là phương thức chiếu vật bằng cách lấy lấy thời điểm nói năng làm điểm gốc. Hiện tại, quá khứ, tương lai là so với thời gian nói - điểm gốc đó. Đó là các từ như: now (bây giờ), then (bấy giờ),. Trong chỉ xuất có sự phân biệt giữa nội chỉ (endophoric) và ngoại chỉ (exophoric).
Biểu thức chỉ xuất ngoại chỉ khi sự vật - nghĩa chiếu vật của nó nằm ngoài diễn ngôn, trong thế giới thực tại. Biểu thức chiếu vật nội chỉ khi sự vật - nghĩa chiếu vật cuả nó đã nằm trong diễn ngôn (tức nằm trong nhận thức của người nói, người nghe). [2, 74] Trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi chỉ bàn về vấn đề nội chỉ, nghĩa là vấn đề chỉ xuất trong diễn ngôn (chỉ xuất trong văn bản) và cụ thể là phương thức tỉnh lược hồi chỉ trong văn bản. Nội chỉ là phương thức chỉ xuất sự vật đang được nói đến trong một lời nói, một phát ngôn theo việc nó đã được nói đến trong tiền văn hay nó sẽ được nói tới trong hậu văn hay không.
Biểu thức chiếu vật đang nói tới trong phát ngôn được dùng để thay thế cho sự vật đã được nói trước trong tiền văn hoặc sẽ được nói tới trong hậu văn. Xét ví dụ sau đây: (2) "Lớp bàn về khuyết điểm của Quân trong học tập. Về điều ấy tôi có ý kiến như thế này: Quân đã tỏ ra không tôn trọng tập thể”. Trong ví dụ trên, biểu thức "điều ấy” thay thế cho biểu thức chiếu vật “khuyết điểm của Quân trong học tập” đã được nói tới ở tiền văn; biểu thức “như thế này” thay thế cho điều sẽ được nói tới ở sau: “Quân đã tỏ ra …”.
biểu thức chiếu vật trong diễn ngôn "điều ấy” có tính chất hồi chỉ (anaphoric) còn biểu thức “như thế này” có tính chất khứ chỉ (cataphoric). Hoàng Thị Hà 8 z Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt 1. Hồi chỉ và các phương tiện hồi chỉ 1.1 Khái niệm hồi chỉ Trong văn bản cũng như trong quá trình giao tiếp, con người có thể lựa chọn những yếu tố ngôn ngữ và cách diễn đạt phù hợp để tổ chức phát ngôn nhằm phục vụ cho ý đồ thông báo riêng của mình. Thực tế, khi viết cũng như khi nói, người ta có xu hướng lựa chọn cách diễn đạt tối ưu nhất, vừa tiết kiệm ngôn từ mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả trong khi diễn đạt ngữ nghĩa của người nói theo các ý đồ thông báo khác nhau.
Các nhà ngôn ngữ đã chỉ ra rằng hồi chỉ là một trong những phương thức liên kết văn bản tối ưu góp phần tạo nên tính mạch lạc trong văn bản và có phạm vi sử dụng khá phổ biến. Hầu như trong ngôn ngữ nào cũng sử dụng hồi chỉ để liên kết. Do tầm quan trọng như vậy, đã có không ít các công trình trong nước và ngoài nước xem xét vấn đề này với phạm vi và mức độ khác nhau. Vậy hồi chỉ là gì? Bàn về khái niệm hồi chỉ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật ngữ khác nhau như: hồi chỉ, hồi chiếu, liên kết hồi quy… Có thể liệt kê các quan điểm của các tác giả: Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo và các tác giả nước ngoài như: Geogre Yule, Halliday, David Nunan…Theo đó, ta thấy thuật ngữ “hồi chiếu” được sử dụng trong các sách như “Dụng học” của George Yule; “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” của David Nunan; Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban.
Trong đó khái niệm “hồi chiếu ” mà Diệp Quang Ban đưa ra như sau: "Hồi chiếu là trường hợp yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiện sau. Vì vậy muốn hiểu yếu tố được giải thích thì phải quay trở lại với yếu tố giải thích nằm trong phần lời đã nói trước đó, tức tham khảo ở phần lời đã có trước yếu tố được giải thích. Trong khi đó các tác giả Trần Ngọc Thêm, Võ Văn Chương, Nguyễn Thị Việt Thanh… lại gọi đây là liên kết hồi quy. Tiêu biểu là ý kiến do Trần Ngọc Thêm đưa ra trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt ”.
Hoàng Thị Hà 9 z Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt "Trong phần lớn các liên kết hiện diện, kết ngôn đứng sau chủ ngôn, nó chỉ ra sự liên kết với phần văn bản đã qua. Loại liên kết này, ta sẽ gọi là liên kết hồi quy. Các phát ngôn có liên kết hồi quy không bao giờ đứng đầu văn bản". Tuy nhiên, phần đông các tác giả dùng thuật ngữ hồi chỉ (Anaphora) như: Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Halliday, Đường Công Minh… Tiêu biểu phải kể đến quan niệm mà tác giả Cao Xuân Hạo đã đưa ra trong cuốn “Cơ sở ngữ pháp chức năng (q.1)” như sau: "Các câu làm thành một tổ hợp câu hay một đoạn văn có thể gồm có những sở chỉ chung.
Trường hợp đó sở chỉ của những danh ngữ, động ngữ trong một câu hay của cả câu đó có thể biểu thị bằng những yếu tố hồi chỉ (anaphoric) trong các câu kế tiếp theo…" [7, 195]. Nhìn chung, “hồi chỉ” có nhiều cách gọi khác nhau nhưng hầu như các nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm là yếu tố hồi chỉ chỉ ra một đối tượng bên ngoài nhờ vào mối quan hệ đồng sở chỉ với một yếu tố có mặt ở tiền biểu thức (hoặc tiền từ). Muốn xác định được quy chiếu của yếu tố hồi chỉ phải dựa vào các phát ngôn chứa tiền từ đứng ở phía trước. Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến cuả các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Võ Văn Chương đã đề ra ba điều kiện để xác định một liên kết hồi quy trong bài báo “Liên kết hồi quy trong ngôn ngữ học văn bản - Vài kiến nghị về cách xác định và phân loại” (Ngôn ngữ số 7, 2004).
(1) Sự phụ thuộc vào ngôn cảnh của kết tố: tức là đòi hỏi sự giải nghĩa của kết tố hồi quy phải dựa vào ngôn cảnh mà nó xuất hiện. (2) Chủ tố phải hiện diện trong ngôn cảnh đặt trước kết tố và được xác định một cách rõ ràng. (3) Bắt buộc phải có sự lặp lại của chủ tố. Hoàng Thị Hà 10 z Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “hồi chỉ” và lấy khái niệm mà tác giả Diệp Quang Ban đưa ra làm cơ sở nghiên cứu của luận văn.2 Các phương tiện hồi chỉ (Anaphoric Devices) Theo tìm hiểu của chúng tôi, mặc dù hồi chỉ là vấn đề phổ quát, thế nhưng các phương tiện hồi chỉ (Anaphoric Devices) vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ đối với các nhà ngôn ngữ, đặc biệt là trong giới Việt ngữ học.
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng nhà ngôn ngữ học người Anh Richard Hudson (hay còn gọi là Dick Hudson) là một trong số ít những nhà ngôn ngữ xem xét đến vấn đề này trong cuốn “Coherence: Anaphora and Reference” (Liên kết: Hồi chỉ và Quy chiếu). Theo quan điểm của Richard Hudson [30], hồi chỉ là một dạng của liên kết vì nó kết nối bằng cách quy chiếu một từ ngược trở lại với một từ khác đứng trước có cùng sở chỉ với nó. Theo nhà ngôn ngữ học người Anh này thì có 5 phương tiện hồi chỉ như sau: a. Đại từ nhân xưng (Pronouns) Đại từ là lớp từ được sử dụng phổ biến nhất để tạo nên chuỗi quy chiếu về người hoặc vật dù trong cùng một câu hoặc câu đi trước là sử dụng đại từ nhân xưng và hình thức sở hữu (chẳng hạn “she- cô ấy”; “her - cuả cô ấy”, “it - nó”, “they - họ”, “them- họ”, “their - cuả họ”…).
Ta xét ví dụ sau: (3) "Once upon a time there was an old woman who had a lazy son. She was forever scolding him, but it made no difference - he spent all his time lying in the sunshine, ignoring her. His main job was to look after her goats, but he preferred to sleep in the sun". (Ngày xưa có một bà già có một người con trai rất lười.
Bà ta luôn luôn rầy la hắn, nhưng điều đó chẳng có ảnh hưởng gì cả - hắn dành tất cả thời gian để nằm sưởi nắng, phớt lờ bà mẹ. Công việc chủ yếu của hắn là trông coi đàn dê của mẹ nhưng mà hắn lại thích nằm ngủ sưởi nắng hơn.