Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu đối chiếu tri nhận về phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt" (tên nguyên bản tiếng Hán: 汉、越语空间范畴认知对比研究) do nghiên cứu sinh Trần Minh Văn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Văn Khang. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc (mã số: 9220204.01), được bảo vệ tại Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2018.
Trong ngôn ngữ học tri nhận, không gian là một khái niệm hạt nhân, đóng vai trò một "nguyên khái niệm" (meta-concept) – tức khái niệm nền tảng được dùng để hiểu và tri nhận các khái niệm khác. Con người nhận thức thế giới khách quan thông qua sự tương tác thể nghiệm với không gian xung quanh. Dù các công trình nghiên cứu về không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt đã đạt được nhiều thành tựu ở bình diện ngữ pháp truyền thống (như nghiên cứu từ phương vị, từ nơi chốn, câu tồn hiện), các nghiên cứu đối chiếu giữa hai ngôn ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi. Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận từ những hiện tượng ngôn ngữ đơn lẻ, thiếu tính hệ thống toàn diện và chưa khái quát hóa được bức tranh tri nhận không gian ở tầm vĩ mô lẫn vi mô. Do đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tiến hành đối chiếu vĩ mô về tri nhận phạm trù không gian giữa tiếng Hán và tiếng Việt, đồng thời đi sâu phân tích các vấn đề vi mô nhằm xác định sự tương đồng và dị biệt. Luận án vận dụng lý thuyết phạm trù điển mẫu để làm sáng tỏ định hướng tri nhận điển hình của mỗi ngôn ngữ cùng các nhân tố tâm lý, tư duy và xã hội tiềm ẩn; đồng thời chỉ rõ sự khác biệt trên các bình diện quy chiếu không gian, yếu tố ngữ nghĩa và cấu trúc câu.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định theo văn bản luận án gồm:
- Tiến hành tổng quan lịch sử và phân tích đồng đại một cách toàn diện về hiện trạng nghiên cứu tri nhận phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, qua đó xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đối chiếu vĩ mô phạm trù không gian giữa hai ngôn ngữ.
- Trình bày lý thuyết, nguyên tắc và biểu hiện thực tế về mặt ngữ nghĩa và cú pháp của phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, làm rõ các điểm tương đồng và dị biệt trong nhận thức phạm trù không gian của hai ngôn ngữ.
- Đối chiếu ẩn dụ không gian giữa tiếng Hán và tiếng Việt, chỉ ra các đặc trưng tương đồng và dị biệt của ẩn dụ không gian, qua đó làm sáng tỏ tính đặc thù trong khuynh hướng tâm lý của hai dân tộc trong quá trình tri nhận.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phạm trù không gian trong không gian tri nhận – đóng vai trò cầu nối trung gian giữa không gian vật lý và không gian ngôn ngữ. Cụ thể, đối tượng bao gồm các phạm trù ngữ nghĩa không gian (thực thể, vị trí, dịch chuyển, hình dạng, chiều kích) và các miền nhận thức ẩn dụ không gian (số lượng, thời gian, trạng thái, phạm vi, quan hệ xã hội). Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở bình diện đối chiếu đồng đại các phương thức biểu đạt ngữ nghĩa không gian và cơ chế ánh xạ ẩn dụ không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại một cách hệ thống lịch sử nghiên cứu không gian trong ngữ pháp tiếng Hán, ngữ pháp tiếng Việt và các công trình đối chiếu song ngữ.
Đối với tiếng Hán, ở hướng nghiên cứu truyền thống, vấn đề không gian được khảo sát chủ yếu qua từ phương vị và từ nơi chốn:
- Mã Kiến Trung (1898) trong Mã thị văn thông đã đề cập đến cách dùng của các từ "phương", "địa", "xứ".
- Trần Thừa Trạch (1922) trong Quốc văn pháp thảo sáng liệt kê các danh từ biểu thị "sở".
- Lê Cẩm Hy (1924) trong Tân trước quốc ngữ văn pháp bàn về các từ chỉ phương vị như "đông, tây, nam, bắc, tả, hữu, thượng, hạ, lý, ngoại".
- Lữ Thúc Tương (1944) trong Trung Quốc văn pháp yếu lược dành riêng một chương thảo luận về vấn đề phương sở và nêu ra khái niệm "phương sở từ".
- Văn Luyện (1956) công bố công trình Xứ sở, thời gian và phương vị, xem từ phương vị là phân lớp phụ của danh từ.
- Đinh Thanh Thụ và tập thể tác giả (1961) trong Hiện đại Hán ngữ ngữ pháp giảng thoại chuẩn hóa cách gọi "xứ sở từ" và "phương vị từ".
- Triệu Nguyên Nhiệm (1968) và Chu Đức Hy (1961, 1982) dựa trên chức năng cú pháp đã tách từ nơi chốn và từ phương vị thành một lớp từ độc lập thuộc thể từ; Trương Nghị Sinh (2000) xếp từ phương vị vào hư từ; Lưu Đan Thanh (2003) gọi là hậu trí từ phương vị thuộc nhóm giới từ.
Ở hướng nghiên cứu tri nhận tiếng Hán từ thập niên 1980 trở đi:
- Liêu Thu Trung (1983) nghiên cứu điểm tham chiếu không gian và thời gian trong văn bản.
- Phương Kinh Dân (1987) khảo sát các loại hình tụ hợp tham chiếu phương vị.
- Tề Hộ Dương (1994, 1998, 2014) thiết lập khung lý thuyết hệ thống vị trí không gian tiếng Hán hiện đại.
- Lưu Ninh Sinh (1994, 1995) lý giải cách thức biểu đạt quan hệ không gian, phân tích nguyên tắc trật tự từ lớn đến nhỏ dựa trên quan hệ giữa vật tham chiếu và vật mục tiêu.
- Đới Hạo Nhất và Tiết Phụng Sinh (1994) tiếp cận ngữ pháp tiếng Hán từ khung chức năng và tri nhận; Vương Dần (2005) hệ thống hóa các mô hình tri nhận; Thạch Dục Trí (1995) phân tích tính một chiều của thời gian ảnh hưởng đến giới từ; Trương Mẫn (1998) vận dụng tính tượng hình khoảng cách giải thích sự ẩn hiện của từ "đích" (的); Dương Ninh (1996, 1998) nghiên cứu cách ngữ Fillmore và cấu trúc không gian – thời gian; Chu Hiểu Quân (2010) tổng kết ngữ nghĩa tri nhận của phạm trù không gian.
- Về từ vựng không gian và ẩn dụ: Du Thuận Chiêu (1985, 1994) nghiên cứu sự chuyển hóa từ không gian sang thời gian của "tiền, hậu"; Đới Hạo Nhất (1990) chỉ ra xu hướng ẩn dụ thời gian vận động và trục dọc trên – dưới trong tiếng Hán; Lý Vũ Minh (1999) nghiên cứu ẩn dụ quan hệ xã hội; Lam Thuần (1999) và Ngô Thục Hùng (2000) phân tích các đường dẫn ẩn dụ của "thượng, hạ"; Ô Ninh (1998) nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc sự kiện; Mã Khánh Chu (1997) và Thẩm Gia Huyên (1999) phân tích tính chủ quan và tính bất đối xứng của từ xu hướng.
Đối với tiếng Việt và nghiên cứu đối chiếu:
- Nguyễn Kim Thản (1964) đề xuất thuật ngữ "thời vị từ"; Nguyễn Lai (1975–2001) nghiên cứu hệ thống từ chỉ hướng dưới góc độ từ vựng, tâm lý và xã hội.
- Lý Toàn Thắng (1993, 1994, 2005) trong Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt đã miêu tả không gian với đặc trưng "lấy con người làm trung tâm" và hiện tượng tái cấu trúc không gian qua các từ như ra, vào, lên, xuống, qua, trên, dưới.
- Nguyễn Đức Dân (1996) trong Logic và tiếng Việt phân tích nhóm giới từ và động từ chỉ hướng biểu đạt quan hệ giữa hai không gian; Trần Văn Cơ (2007, 2011) nghiên cứu lý thuyết tri nhận; Tào Dung (2009) chỉ ra hiện tượng ẩn lược yếu tố không gian trong tiếng Việt; Phan Lê Thùy An (2013) khảo sát mô hình tri nhận từ chỉ hướng.
- Các công trình đối chiếu Hán – Việt: Đào Thị Hà Ninh (2004, 2008) so sánh "thượng" với "trên"; Nguyễn Đình Bá (2009) so sánh nhóm từ biểu thị vị trí không gian; Lê Thị Thanh Tâm (2011) nghiên cứu chuyển nghĩa tri nhận của từ định hướng; Nguyễn Thị Thanh Lan (2013) nghiên cứu phạm trù dịch chuyển; Đinh Bích Thảo (2015) nghiên cứu phạm trù chiều kích không gian; cùng các nghiên cứu về giới từ và ngữ pháp sư phạm của Nguyễn Thị Ngọc Phương (2008), Trần Thị Thu Trúc (2011), Đinh Thị Thanh Nga (2014), Nguyễn Thị Huyền Trang (2012), Đỗ Thị Hồng Nhung (2012), Lê Thị Ngọc Anh (2013).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác lập là: các công trình đối chiếu Hán – Việt trước đây phần lớn dừng lại ở việc so sánh đối chiếu hình thức từ loại, các cấu trúc cú pháp riêng lẻ hoặc chỉ khảo sát một tiểu phạm trù độc lập. Chưa có công trình nào bao quát toàn diện phạm trù không gian từ ngữ nghĩa cấu trúc đến các miền ánh xạ ẩn dụ tri nhận. Luận án định vị là công trình nghiên cứu hệ thống, kết hợp phân tích vĩ mô và vi mô về tri nhận không gian giữa hai ngôn ngữ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết nền tảng của Ngôn ngữ học tri nhận và Ngôn ngữ học đối chiếu:
-
Lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận:
- Quan điểm kinh nghiệm (Experientialist view): Tiếp thu lý thuyết phạm trù điển mẫu (Prototype Theory) và cấp độ phạm trù cơ bản (Basic Level Categories) của Eleanor Rosch, khẳng định ranh giới phạm trù mang tính mờ và cấu trúc tỏa tia; kết hợp lý thuyết sơ đồ hình ảnh (Image Schema) của Lakoff, Johnson và Deane (như sơ đồ liên kết, sơ đồ vật chứa, sơ đồ bộ phận – chỉnh thể, sơ đồ nguồn – đường dẫn – đích).
- Quan điểm nổi trội (Prominence view): Khái niệm tiêu điểm hóa/cạnh biên (Profiling) và nền tảng (Base) của Langacker; tính bất đối xứng giữa Hình (Figure) và Nền (Ground) từ tâm lý học Gestalt (Koffka) áp dụng vào việc giải thích trật tự cú pháp và lựa chọn chủ ngữ.
- Khung sự kiện và sự chú ý (Frame and Attentional view): Khung ngữ nghĩa của Fillmore và khung sự kiện vận động của Talmy với các thành tố Hình thể, Nền, Đường dẫn, Vận động, kết hợp cơ chế cửa sổ chú ý (Window of attention) và sự ẩn lược chú ý (Gapping).
- Lý thuyết ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory): Quan điểm của Lakoff & Johnson (1980) xem ẩn dụ là phương thức tư duy ánh xạ từ miền nguồn (cụ thể, thể nghiệm) sang miền đích (trừu tượng).
- Lý thuyết không gian tâm lý và hòa trộn ý niệm: Lý thuyết Mental Spaces của Fauconnier (1985) và Conceptual Blending Theory của Fauconnier & Turner (1998) với mô hình mạng lưới 4 không gian: Không gian đầu vào I, Không gian đầu vào II, Không gian khái quát (Generic Space) và Không gian hòa trộn (Blending Space).
-
Lý thuyết phạm trù không gian:
- Kế thừa quan điểm của Aristotle về 10 phạm trù, trong đó "thực thể" là phạm trù bản nguyên độc lập, các phạm trù khác là tha nguyên.
- Phân biệt ba bình diện: Không gian vật lý (khách quan), Không gian tri nhận (tâm lý, hình ảnh chủ quan) và Không gian ngôn ngữ (biểu đạt hình thức).
- Nhận thức không gian có bờ – không bờ (Bounded – Unbounded) và quan hệ giữa vật quy chiếu (Ground) và vật mục tiêu (Figure).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp miêu tả phân tích: Miêu tả toàn diện quy tắc, hệ thống định vị không gian và các mô hình ẩn dụ trong hai ngôn ngữ.
- Phương pháp phân tích đối chiếu: So sánh ngữ nghĩa, cú pháp và cơ chế tri nhận nhằm tìm ra điểm tương đồng và dị biệt.
- Kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng: Thống kê dữ liệu ngữ liệu từ các kho ngữ liệu để lượng hóa hiện tượng, từ đó quy nạp và rút ra kết luận định tính.
- Kết hợp nghiên cứu vĩ mô và vi mô: Đi từ lý thuyết tri nhận tổng thể (ẩn dụ, sơ đồ hình ảnh) đến khảo sát chi tiết từng đơn vị từ vựng, cú pháp.
- Ba nguyên tắc đối chiếu được tuân thủ: (1) Miêu tả trước khi so sánh; (2) So sánh từng cá thể trước khi so sánh toàn hệ thống; (3) Giữ vững tính nhất quán về tiêu chuẩn so sánh trên ba bình diện: ý nghĩa, chức năng và ngữ cảnh.
Nguồn tư liệu và ngữ liệu được trích xuất từ:
- Các từ điển hiện đại và tác phẩm văn học tiếng Hán và tiếng Việt.
- Hệ thống ngữ liệu Trung tâm Nghiên cứu Ngôn ngữ học Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh (CCL), kho ngữ liệu trực tuyến cncorpus, BCC corpus và vietlex.
- Các ngữ liệu và dẫn chứng kinh điển từ các công trình nghiên cứu của Tề Hộ Dương (2014), Lý Toàn Thắng (2005), Lakoff & Johnson (1980).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng luận nghiên cứu tri nhận phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt (第一章 汉、越语空间范畴认知研究总论)
Chương 1 khái quát toàn bộ lịch sử nghiên cứu về không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, xác lập cơ sở lý luận cho đề tài:
- Trình bày tiến trình nghiên cứu tiếng Hán từ giai đoạn ngữ pháp truyền thống (chú trọng phân loại từ loại, chức năng cú pháp của từ phương vị, xứ sở từ) sang giai đoạn ngôn ngữ học tri nhận hiện đại (nghiên cứu điểm tham chiếu, ngữ pháp chức năng, chuyển nghĩa không gian sang thời gian, ẩn dụ cấu trúc sự kiện, tính bất đối xứng của từ xu hướng).
- Điểm luận các công trình nghiên cứu tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Lai, Lý Toàn Thắng, Nguyễn Đức Dân, Trần Văn Cơ, Tào Dung, Phan Lê Thùy An và các luận văn, luận án đối chiếu Hán – Việt; chỉ rõ các nghiên cứu hiện có còn phân tán, thiếu tính tổng thể ở cấp độ phạm trù tri nhận.
- Hệ thống hóa các lý thuyết công cụ: Thuyết kinh nghiệm và phạm trù điển mẫu của Rosch, cấu trúc Cạnh biên/Nền tảng của Langacker, Hình/Nền của tâm lý học Gestalt, khung sự kiện và cửa sổ chú ý của Talmy, thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson, thuyết không gian tâm lý và mạng lưới hòa trộn ý niệm 4 không gian của Fauconnier & Turner.
- Luận giải vị trí của không gian như một "nguyên khái niệm" trong nhận thức nhân loại, phân định rõ mối quan hệ tương tác giữa không gian vật lý, không gian tri nhận và không gian ngôn ngữ.
Chương 2: Nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt (第二章 汉、越语空间范畴的语义对比研究)
Chương 2 tiến hành phân tích và đối chiếu 5 tiểu phạm trù ngữ nghĩa không gian cơ bản:
- Phạm trù thực thể và tính không gian của danh từ: Phân tích bản nguyên tính của thực thể và đặc trưng ngữ nghĩa của danh từ điển mẫu. Phân tích cơ chế chuyển hóa tính không gian của danh từ. Luận án chỉ ra rằng trong tiếng Việt có hiện tượng lược bỏ từ phương vị (ví dụ danh từ chỉ địa điểm/vật thể có thể trực tiếp biểu thị nơi chốn mà không bắt buộc kèm từ phương vị như tiếng Hán), dẫn đến sự chuyển hóa không gian của danh từ thường có sự khác biệt về mặt cấu trúc so với tiếng Hán.
- Phạm trù vị trí và tính không gian của từ phương vị: Khảo sát ý nghĩa phương vị và yêu cầu quy chiếu nội tại. Luận án phát hiện quy luật quét không gian (spatial scanning) có tính tương phản:
- Tiếng Việt có xu hướng tư duy không gian vận động từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ không gian bộ phận đến không gian chỉnh thể.
- Tiếng Hán có xu hướng ngược lại: từ lớn đến nhỏ, từ ngoài vào trong, từ không gian chỉnh thể đến không gian bộ phận.
- Hiện tượng dùng lẫn/hỗn dụng từ phương vị trong tiếng Việt thể hiện rõ nét định hướng không gian mang tính "lấy con người làm trung tâm" (anthropocentric).
- Phạm trù dịch chuyển và tính không gian của động từ: Khảo sát mối quan hệ giữa dịch chuyển không gian với động từ, động từ xu hướng và giới từ. Điểm khác biệt nổi bật là cấu trúc động từ chỉ lộ trình (path verbs): hướng dịch chuyển trong tiếng Hán gắn chặt với ý nghĩa chỉ xuất "viễn chỉ – cận chỉ" (lai/khứ) có tính quy định cấu trúc nghiêm ngặt hơn tiếng Việt. Trong cấu trúc câu chữ 把 (bả) biểu đạt dịch chuyển không gian của tiếng Hán, thành phần thể dịch chuyển (figure/trajector) được đưa lên nổi bật; trong khi tiếng Việt khi biểu đạt cùng ý nghĩa lại có xu hướng nêu hành động dịch chuyển trước.
- Phạm trù hình dạng và tính không gian của lượng từ: Khảo sát lượng từ cá thể biểu thị hình dạng không gian. Kết quả đối chiếu cho thấy hiện tượng bất đối xứng: khi miêu tả cùng một sự vật, tiếng Việt có sự lựa chọn lượng từ phong phú hơn; đồng thời một lượng từ trong tiếng Việt có thể dùng để tu sức cho các đối tượng thuộc nhiều chiều kích không gian khác nhau.
- Đối chiếu tính không gian của tính từ: Khảo sát các tính từ biểu thị không gian và chiều kích không gian. Hai ngôn ngữ có sự tương đồng lớn về các chiều kích cơ bản, nhưng sự biểu hiện cụ thể phản ánh sự lựa chọn chiều kích không gian khác nhau giữa người Hán và người Việt khi tri nhận các sự vật cụ thể xung quanh.
| Phạm trù ngữ nghĩa | Tiếng Hán | Tiếng Việt |
|---|---|---|
| Trật tự quét vị trí | Từ lớn đến nhỏ, từ ngoài vào trong, từ chỉnh thể đến bộ phận | Từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ bộ phận đến chỉnh thể |
| Chuyển hóa danh từ | Thường yêu cầu kết hợp bắt buộc với từ phương vị để chỉ nơi chốn | Có hiện tượng lược bỏ từ phương vị, danh từ chuyển hóa trực tiếp |
| Biểu đạt dịch chuyển | Câu chữ 把 làm nổi bật thể dịch chuyển; động từ xu hướng phân định nghiêm ngặt viễn chỉ/cận chỉ | Nêu động từ hành động trước; phân định chỉ xuất linh hoạt hơn |
| Lượng từ không gian | Hệ thống lượng từ hình dạng chặt chẽ theo chiều kích | Hệ thống lượng từ phong phú hơn, một lượng từ áp dụng cho nhiều chiều kích |
Chương 3: Nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt (第三章 汉、越语空间范畴隐喻对比研究)
Chương 3 khảo sát cơ chế ý niệm hóa và ánh xạ ẩn dụ không gian qua 5 miền nhận thức cơ bản và đề xuất ứng dụng sư phạm:
- Ẩn dụ không gian về số lượng: Cả hai ngôn ngữ đều sử dụng trục thẳng đứng "trên – dưới" (上 – 下 / trên – dưới) làm miền nguồn để biểu đạt số lượng (nhiều là trên, ít là dưới). Tuy nhiên, tiếng Hán sử dụng các cặp từ không gian sóng đôi như "上下" (thượng hạ), "左右" (tả hữu) để biểu thị số lượng ước chừng/khái số; trong khi tiếng Việt chỉ sử dụng cấu trúc tương đương "trên dưới" (không dùng "trái phải" để chỉ số lượng ước chừng).
- Ẩn dụ không gian về thời gian: Cả hai ngôn ngữ đều dùng trục nằm ngang "trước – sau" (前 – 后 / trước – sau) để biểu thị thời gian quá khứ hoặc tương lai. Khác biệt cốt lõi: tiếng Hán sử dụng phổ biến trục dọc "trên – dưới" (上 – 下) để biểu thị thời gian (như 上个月 – tháng trước, 下个星期 – tuần sau), trong khi tiếng Việt không sử dụng trục dọc "trên – dưới" cho các khái niệm thời gian này.
- Ẩn dụ không gian về trạng thái: Cả hai ngôn ngữ đều dùng sơ đồ "trên – dưới" để ẩn dụ trạng thái: trạng thái tích cực/tốt đẹp tương ứng với "trên/lên", trạng thái tiêu cực/kém cỏi tương ứng với "dưới/xuống".
- Ẩn dụ không gian về phạm vi: Cả hai ngôn ngữ sử dụng các khái niệm "thượng, hạ, lý, ngoại" (trên, dưới, trong, ngoài) để ẩn dụ độ lớn và độ rộng của phạm vi. Điểm khác biệt: tiếng Hán có xu hướng sử dụng nhiều "thượng, hạ" (上, 下), trong khi tiếng Việt ưu tiên sử dụng "trong" (trong phạm vi, trong khuôn khổ).
- Ẩn dụ không gian về quan hệ xã hội: Quan hệ xã hội được biểu đạt qua các chiều không gian (trên – dưới, trước – sau, trong – ngoài, xa – gần). Luận án chỉ ra rằng trong tiếng Việt, cặp từ "nội / ngoại" chủ yếu đóng vai trò phân định xưng hô thân tộc cụ thể, ý niệm về sự phân biệt ranh giới lợi ích bên trong/bên ngoài thân tộc mờ nhạt hơn so với quan niệm "nội / ngoại" (内 / 外) trong văn hóa Hán.
- Góc nhìn ẩn dụ trong giảng dạy từ vựng phương vị tiếng Hán: Đề xuất phương pháp tiếp cận từ vựng phương vị Hán ngữ cho người học Việt Nam dựa trên việc giải thích cơ chế ánh xạ tri nhận, giúp người học hiểu được bản chất ngữ nghĩa thay vì ghi nhớ máy móc các cấu trúc ngữ pháp.
| Miền nhận thức ẩn dụ | Biểu hiện trong tiếng Hán | Biểu hiện trong tiếng Việt |
|---|---|---|
| Số lượng | Dùng "trên – dưới"; dùng "上下", "左右" chỉ số lượng ước chừng | Dùng "trên – dưới"; chỉ dùng "trên dưới" (không dùng "trái phải") |
| Thời gian | Dùng cả trục ngang (前 – 后) và trục dọc (上 – 下) | Chỉ dùng trục ngang (trước – sau); không dùng trục dọc |
| Trạng thái | Trục "trên – dưới" (tốt là trên, xấu là dưới) | Trục "trên – dưới" (tốt là trên, xấu là dưới) |
| Phạm vi | Ưu tiên dùng "thượng – hạ" (上 – 下) | Ưu tiên dùng "trong" (trong phạm vi, trong khuôn khổ) |
| Quan hệ xã hội | "Nội – ngoại" nhấn mạnh ranh giới lợi ích thân tộc và tôn ti | "Nội – ngoại" thiên về xưng hô thân tộc, ranh giới lợi ích mờ hơn |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tiến hành đối chiếu toàn diện phạm trù không gian giữa tiếng Hán và tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, khắc phục tính phân tán của các nghiên cứu trước đó.
- Xác lập và chứng minh quy luật quét không gian tương phản giữa hai ngôn ngữ: tiếng Hán theo định hướng "từ lớn đến nhỏ, từ ngoài vào trong, từ chỉnh thể đến bộ phận", trong khi tiếng Việt vận động "từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ bộ phận đến chỉnh thể".
- Làm rõ bản chất tri nhận "lấy con người làm trung tâm" của tiếng Việt thể hiện qua hiện tượng hỗn dụng từ phương vị và tính đa chiều kích trong việc sử dụng lượng từ không gian.
- Hệ thống hóa các cơ chế ánh xạ ẩn dụ không gian sang các miền trừu tượng (số lượng, thời gian, trạng thái, phạm vi, quan hệ xã hội), giải thích căn nguyên tư duy, tâm lý và văn hóa quy định sự lựa chọn ngôn ngữ của mỗi dân tộc.
Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp cơ sở lý luận tri nhận giúp giải thích các hiện tượng ngữ pháp tiếng Hán và tiếng Việt mà các lý thuyết ngữ pháp hình thức hoặc cấu trúc truyền thống chưa lý giải thỏa đáng.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam: đề xuất phương pháp giảng dạy từ vựng phương vị và từ xu hướng thông qua cơ chế ý niệm hóa và sơ đồ hình ảnh, giúp người học nắm bắt quy luật tri nhận, hạn chế lỗi chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác biên phiên dịch Hán – Việt trong việc xử lý các cấu trúc chuyển dịch không gian, vị trí và các biểu đạt ẩn dụ tương đương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn nghiên cứu:
- Do phạm trù không gian trong ngôn ngữ có nội dung vô cùng phong phú và phức tạp, luận án không thể bao quát toàn bộ mọi khía cạnh biểu hiện của không gian trong hai ngôn ngữ.
- Nghiên cứu giới hạn phạm vi khảo sát ở các phạm trù ngữ nghĩa cốt lõi (thực thể, vị trí, dịch chuyển, hình dạng, chiều kích) và 5 miền nhận thức ẩn dụ tiêu biểu (số lượng, thời gian, trạng thái, phạm vi, quan hệ xã hội). Các cấu trúc cú pháp không gian chuyên biệt khác hoặc các biến thể phương ngữ chưa được đưa vào khảo sát chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là: tiếp tục mở rộng khảo sát đối chiếu trên các cấu trúc cú pháp phức hợp biểu đạt không gian, nghiên cứu thực nghiệm thụ đắc ngôn ngữ đối với người học tiếng Hán/tiếng Việt, và khảo sát sâu hơn sự tác động của các yếu tố văn hóa – phương ngữ đối với tri nhận không gian.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Trung Quốc, Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp giữa ngữ pháp tri nhận, lý thuyết điển mẫu, sơ đồ hình ảnh, lý thuyết hòa trộn ý niệm và phương pháp đối chiếu đa bình diện.
- Giảng viên giảng dạy tiếng Hán và tiếng Việt: Tham khảo nội dung đối chiếu ở Chương 2 (vị trí, dịch chuyển, lượng từ) và Mục 3.7 Chương 3 về phương pháp giảng dạy từ vựng phương vị tiếng Hán qua lăng kính ẩn dụ tri nhận để thiết kế bài giảng ngữ pháp – từ vựng.
- Biên phiên dịch viên tiếng Hán – tiếng Việt: Vận dụng các phát hiện về trật tự quét không gian (lớn đến nhỏ ở tiếng Hán đối lập với nhỏ đến lớn ở tiếng Việt) và sự khác biệt trong ẩn dụ thời gian/phạm vi để chuyển dịch câu văn tự nhiên, chính xác về ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chỉ ra điểm khác biệt cơ bản nào trong quy luật quét không gian (spatial scanning) giữa tiếng Hán và tiếng Việt? Tiếng Hán tuân thủ quy luật quét không gian từ lớn đến nhỏ, từ ngoài vào trong, từ chỉnh thể đến bộ phận. Ngược lại, tiếng Việt tuân thủ quy luật tư duy không gian từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ bộ phận đến chỉnh thể.
2. Điểm khác biệt trong biểu đạt ý nghĩa dịch chuyển không gian giữa cấu trúc câu tiếng Hán và tiếng Việt là gì? Trong câu chữ 把 (bả) của tiếng Hán, cấu trúc cú pháp đặt trọng tâm làm nổi bật thể dịch chuyển (figure/trajector) trước. Khi biểu đạt cùng ý nghĩa đó, tiếng Việt có xu hướng nêu hành động dịch chuyển trước. Đồng thời, động từ chỉ hướng trong tiếng Hán mang tính quy định chặt chẽ về hướng chỉ xuất "cận chỉ – viễn chỉ" (lai/khứ) hơn so với tiếng Việt.
3. Sự khác biệt trong việc sử dụng các trục không gian để ẩn dụ thời gian giữa hai ngôn ngữ là gì? Cả hai ngôn ngữ đều dùng trục nằm ngang "trước – sau" (前 – 后 / trước – sau) để biểu thị quá khứ và tương lai. Tuy nhiên, tiếng Hán sử dụng thêm trục thẳng đứng "trên – dưới" (上 – 下) để biểu thị thời gian (như 上个月, 下个星期), trong khi tiếng Việt không sử dụng trục dọc này cho thời gian.
4. Hệ thống lượng từ không gian trong tiếng Việt có đặc điểm gì nổi bật khi đối chiếu với tiếng Hán? Khi miêu tả cùng một sự vật, tiếng Việt có sự lựa chọn lượng từ phong phú hơn tiếng Hán. Đồng thời, tồn tại hiện tượng bất đối xứng khi một lượng từ trong tiếng Việt có thể được sử dụng để tu sức cho các đối tượng thuộc nhiều chiều kích không gian khác nhau.
5. Ẩn dụ quan hệ xã hội qua cặp từ "nội / ngoại" (内 / 外) phản ánh sự khác biệt văn hóa nào giữa hai ngôn ngữ? Trong tiếng Việt, cặp từ "nội / ngoại" chủ yếu đảm nhận chức năng định danh xưng hô thân tộc cụ thể, ranh giới phân định lợi ích bên trong và bên ngoài thân tộc mờ nhạt hơn. Trong tiếng Hán, ý niệm "nội / ngoại" phản ánh sâu sắc cấu trúc tôn ti và ranh giới phân chia lợi ích thân tộc khép kín.
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu đối chiếu tri nhận về phạm trù không gian trong tiếng Hán và tiếng Việt" của tác giả Trần Minh Văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về phạm trù không gian dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ học đối chiếu. Thông qua việc phân tích các phạm trù ngữ nghĩa (thực thể, vị trí, dịch chuyển, hình dạng, chiều kích) và các miền ánh xạ ẩn dụ (số lượng, thời gian, trạng thái, phạm vi, quan hệ xã hội), luận án đã làm sáng tỏ các quy luật tri nhận không gian tương phản và đặc trưng "lấy con người làm trung tâm" của tiếng Việt trong mối tương quan với tiếng Hán. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận cho ngành ngôn ngữ học đối chiếu Hán – Việt, đồng thời mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy ngôn ngữ và biên phiên dịch.