ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, chăm sóc sức khỏe nhân dân đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Với lứa tuổi học sinh, sinh viên, công tác y tế học đường đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thế hệ tương lai cho dân tộc. Trong những năm qua, bệnh tật học đường đang có xu hướng gia tăng, bao gồm các bệnh thể chất và các bệnh tinh thần. Các tật khúc xạ, bệnh răng miệng, cong vẹo cột sống, các bệnh liên quan đến dinh dưỡng và vận động gia tăng mạnh đang là những bệnh học đường phổ biến hiện nay.
Ngoài ra các bệnh rối nhiễu tâm lý cũng đang có nguy cơ đe dọa đến sức khỏe học sinh. Đây là những bệnh có biểu hiện không rõ ràng, khó nhận biết, nhưng hậu quả lại nghiêm trọng và khó điều trị. Nguyên nhân của các bệnh học đường này bao gồm các yếu tố như: điều kiện vệ sinh học đường, sức ép học tập, kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về vệ sinh học đường [1]. Khảo sát của liên ngành Giáo dục và Bộ Y tế trong thời gian gần đây cho thấy tình trạng mắc bệnh học đường trong học sinh là khá nghiêm trọng và ngày càng gia tăng.
Có trường với 40% số học sinh bị cận thị, có trường có 44% học sinh bị cong vẹo cột sống, có trường trung học phổ thông (THPT) có tới 26% nữ sinh và 16% nam sinh có dấu hiệu trầm cảm [2]. Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc của Viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh đã cho kết quả tỷ lệ sâu răng của trẻ 6-8 tuổi là 25,4%; 9-11 tuổi là 54,6%; 12-14 tuổi là 64,1% và ở tuổi 15-17 tuổi là 68,6% [1]. Các vấn đề bất lợi về sức khỏe không chỉ gây ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe về thể chất mà còn gây ảnh hưởng tới khả năng học tập và các hoạt động trong chương trình chính khóa của học sinh. Cha mẹ học sinh là người chịu trách nhiệm đầu tiên về tình trạng sức khỏe của các em, bao gồm cả thể chất và tinh thần.
Các dịch vụ y tế tư và công là những nguồn lực quan trọng để giúp phụ huynh học sinh duy trì và tăng cường sức khỏe cho học sinh. Tuy 2 nhiên, do hầu hết thời gian ban ngày của các em là ở nhà trường. Vì vậy, các hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhà trường đóng vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc, phòng chống các bệnh thường gặp và tăng cường, nâng cao sức khỏe cho các em. Nghiên cứu về sức khoẻ trường học (SKTH), các yếu tố môi trường, điều kiện học tập, đặc điểm tâm sinh lý học sinh, các bệnh liên quan đến lứa tuổi học sinh là rất cần thiết để từ đó xây dựng các phương pháp, kỹ thuật đánh giá và giám sát SKTH, các giải pháp cải thiện điều kiện học tập của học sinh các lứa tuổi, nhằm phòng chống bệnh tật, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao khả năng học tập của học sinh [3].
Chính vì vậy, nghiên cứu một cách hệ thống về hoạt động y tế trường học tại Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách đẩy mạnh hoạt động này nhằm nâng cao sức khỏe cho học sinh. ―Bệnh lý học đường nào phổ biến ở học sinh tiểu học? Yếu tố nào ảnh hưởng đến các bệnh lý đó? Làm thế nào để giảm thiểu bệnh lý học đường?‖. Để trả lời những câu hỏi này chúng tôi nghiên cứu đề tài: ―nghiên cứu điều kiện học tập, sức khỏe học sinh và đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống cận thị ở trường tiểu học quận thanh xuân hà nội trong 3 năm 2009 - 2012‖ nhằm các mục tiêu sau: 1. Mô tả một số điều kiện vệ sinh trường học của học sinh tiểu học Quận Thanh Xuân năm học 2010-2011.
Mô tả tình hình bệnh tật và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại Quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khoẻ phòng chống cận thị tại trường tiểu học Quận Thanh Xuân năm học 2011-2012. Các kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược can thiệp nhằm nâng cao sức khỏe cho học sinh. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Thực trạng vệ sinh trƣờng học và công tác y tế trƣờng học 1. Một số khái niệm Bệnh tật lứa tuổi học đƣờng: Trẻ em lứa tuổi học đường mắc các bệnh gần giống người lớn và có các bệnh ảnh hưởng do môi trường học tập gây nên. Các bệnh có thể chia ra là bệnh truyền nhiễm và bệnh không truyền nhiễm. Các bệnh truyền nhiễm gây ra bởi các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, là những vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm… Còn tất cả các bệnh khác có thể được gọi là bệnh không truyền nhiễm.
Các bệnh lứa tuổi học sinh hay gặp là bệnh về mắt, cong vẹo cột sống, bệnh răng miệng, bệnh liên quan đến dinh dưỡng như thừa cân, béo phì, rối loạn tâm thần [4],[5]… Bệnh học đƣờng: Bệnh học đường là các bệnh có thể phát sinh từ những nguy cơ hay có liên quan tới các nguy cơ phát sinh bệnh trong quá trình học tập của học sinh. Trong quá trình học tập của học sinh, do các điều kiện vệ sinh không đảm bảo, những gánh nặng học tập quá mức, những kỳ vọng của gia đình và đòi hỏi của xã hội làm tăng các gánh nặng lên thể chất và tinh thần của học sinh làm tăng nguy cơ mắc các bệnh học đường như cận thị, CVCS, các vấn đề về tâm thần. Nói như vậy không có nghĩa là sự phát sinh bệnh hoàn toàn do yếu tố nguy cơ từ điều kiện vệ sinh, gánh nặng học tập. Ví dụ như cận thị học đường, nguyên nhân sinh bệnh có 2 nguyên nhân phát sinh bệnh chính là di truyền và yếu tố môi trường, lối sống.
Yếu tố môi trường, lối sống thường gặp là khoảng cách nhìn bị thu hẹp do thiếu ánh sáng, bàn ghế không phù hợp, chơi điện tử nhiều… 4 Như vậy, bệnh học đường cũng là bệnh tật lứa tuổi học đường và có các yếu tố liên quan đến môi trường học tập gây ra, ví dụ như cận thị, cong vẹo cột sống [4], [5]… Điều kiện vệ sinh trƣờng học: Bao gồm các nội dung: Quy hoạch thiết kế xây dựng trường học, xây dựng, sử dụng và bảo quản các công trình vệ sinh, cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, rác thải; Điều kiện vệ sinh phòng học như chiếu sáng, tiếng ồn, vi khí hậu, trang thiết bị giảng dạy và bàn ghế học sinh; Chế độ học tập, rèn luyện sức khỏe của học sinh. Trƣờng học nâng cao sức khỏe: Theo Tổ chức Y tế thế giới, ―Trường học nâng cao sức khỏe là trường học trong đó có cả lời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ trợ và cam kết thúc đẩy sức khỏe toàn diện cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng, trong nhà trường từ tình cảm, thể chất đến các vấn đề đạo đức‖ [6-8]. Môi trường học Sự tham gia của gia đình và cộng đường lành mạnh đồng Truyền thông giáo dục sức khỏe Nâng cao chất Giáo dục thể chất lượng cán bộ y tế học đường Dịch vụ tư vấn tâm lý Dịch vụ dinh và xã hội dưỡng học đường Dịch vụ chăm sóc sức khỏe Hình 1.1: Mô hình trường học phối hợp nâng cao sức khỏe http://www.org/School_Health/ 5 Chú giải: 8 thành tố của mô hình NCSK bao gồm: Giáo dục thể chất cho học sinh (Physical Education), Truyền thông giáo dục sức khỏe (Health Education), Môi trường học đường lành mạnh (Healthy School Environment), Sự tham gia của gia đình và cộng đồng (Family/Community Involvement), Dich vụ chăm sóc sức khỏe (Health Services), Dịch vụ dinh dưỡng học đường (Nutrition Services), Dịch vụ tư vấn tâm lý và xã hội (Counseling Psychological & Social Services), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế học đường (Health Promotion for Staff). Vệ sinh trường học 1.
Các yêu cầu vệ sinh trường học Kích thƣớc phòng học Hình dáng phòng học tốt nhất là hình chữ nhật, bố trí hướng lấy ánh sáng chính từ phía không có hành lang và tạo cho ánh sáng chiếu lên bàn học sinh từ bên trái. Tỷ lệ các cạnh của lớp học hợp lý là 3: 4, trong đó chiều ngang lớp học trong khoảng từ 6 – 6,5m , chiều dài lớp học khoảng từ 8 – 8,5m. Yêu cầu về diện tích lớp học tối thiểu cho 1 học sinh từ 1,10 đến 1,25m2. Chiều cao hợp lý sẽ làm cho phòng học thông thoáng, kết hợp với cửa thông gió và quạt để đáp ứng các yêu cầu về vi khí hậu.
Chiều cao phòng học không được thấp hơn 3,6m [9]. Cửa sổ phòng học Cửa sổ phòng học cần phải có diện tích đủ lớn để đảm bảo chiếu sáng tự nhiên tốt. Cửa sổ phải có cửa chính và cửa chớp để chắn nắng che mưa. Hình dáng cửa sổ tốt nhất là hình chữ nhật, không nên xây cửa sổ hình ô van hay gô tích.
Tỷ lệ chiều cao mép trên cửa sổ và chiều ngang phòng không nhỏ hơn 1/2, khoảng cách giữa hai cửa sổ từ 50 – 90cm [9]. Màu sơn của phòng học Màu sơn của phòng học có ảnh hưởng tới cường độ chiếu sáng trong phòng học. Tường nên sơn màu vàng nhạt, trần sơn màu trắng. Tường sơn màu sáng có thể làm tăng cường độ chiếu sáng trong phòng học lên 20 – 30% nhờ ánh sáng phản xạ [9].
6 Thông khí phòng học Môi trường không khí trong phòng học có ảnh hưởng tới tỷ lệ bệnh tật, tình trạng sức khỏe và khả năng học tập của học sinh. Nếu phòng học không được thông khí tốt thì chất lượng không khí có sự thay đổi đáng kể về thành phần hóa học cũng như tính chất lý học, học sinh sẽ có cảm giác khó chịu, ngột ngạt. Tiêu chuẩn cho phép của hàm lượng CO2 là dưới 0,1%. Vi khí hậu trong phòng học Ba tiêu chuẩn quan trọng nhất của vi khí hậu lớp học là: nhiệt độ, độ ẩm và độ chuyển động không khí [9].
Nhiệt độ Dưới tác động của nhiệt độ, nhiều biến đổi sinh lý khác nhau diễn ra trong các cơ quan của cơ thể. Tùy theo nhiệt độ trong phòng cao hay thấp mà có thể nhận thấy học sinh bị lạnh hay bị nóng. Khi nhiệt độ trong phòng tăng (25 – 35oC), các quá trình oxy hóa trong cơ thể giảm đi một chút, nhưng sau đó có thể lại tăng lên. Nhịp thở nhanh và nông.
Thông khí phổi đầu tiên tăng lên, sau đó thì không thay đổi.