CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 1. Khái niệm về điều chỉnh lợi nhuận Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về việc điều chỉnh lợi nhuận như sau: Quan điểm thứ nhất: Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân [9]. Quan điểm thứ hai: Điều chỉnh lợi nhuận là hành động của nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu nào đó có liên quan đến lợi nhuận; hoặc; Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cá nhân hoặc gia tăng giá trị thì trường của công ty [9].
Quan điểm thứ ba: Điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán [7]. Quan điểm thứ tư: Điều chỉnh trị lợi nhuận là việc người quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán [6]. Tóm lại dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng việc điều chỉnh lợi nhuận chính là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị công ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán. Cụ thể Luan van 9 là thông qua việc điều chỉnh doanh thu và chi phí.
Mục tiêu của việc điều chỉnh lợi nhuận Với mỗi công ty trong những giai đoạn khác nhau có những động cơ khác nhau để thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu nào đó. Có thể là những động cơ sau: - Thu hút đầu tư: Đối với công ty lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc khi phát hành thêm cổ phiếu, để đủ điều kiện niêm yết trên TTCK hoặc để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và tăng giá cổ phiếu nhà quản trị công ty có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận. - Khi bị thua lỗ: Công ty bị đưa vào diện cảnh báo thua lỗ, để thoát ra khỏi diện bị cảnh báo thua lỗ và đủ điều kiện tiếp tục niêm yết trên TTCK có thể công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận. - Tối thiểu chi phí thuế: Đối với những công ty lớn thì khoản thuế TNDN là một khoản tiền khá lớn, để tối đa hoá lợi nhuận còn lại các công ty có thể điều chỉnh giảm lợi nhuận để tối thiểu chi phí thuế TNDN phải nộp.
Bên cạnh đấy khi suất thuế TNDN thay đổi để tối thiểu chi phí thuế TNDN công ty có cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận. Khi dự kiến thuế suất thuế TNDN giảm trong năm sau, công ty thường điều chỉnh giảm lợi nhuận trong năm hiện tại để chuyển một phần lợi nhuận vào năm sau để giảm chi phí thuế TNDN khi thuế suất giảm. Ngược lại khi dự kiến thuế suất thuế TNDN năm sau tăng, doanh nghiệp có thể chuyển một phần lợi nhuận của năm sau về năm hiện tại để giảm một phần chi phí thuế TNDN khi thuế suất tăng. Ví dụ công ty có thể báo cáo thu nhập chịu thuế thấp trong năm 2008 ( thuế suất 28%), chuyển số lợi nhuận này qua năm 2009 ( thuế suất 25%) để tiết kiệm 3% chi phí thuế TNDN.
Bên cạnh đấy một số công ty được miễn giảm thuế TNDN trong những năm đầu mới thành lập, thì các công ty thường có xu hướng điều chỉnh tăng Luan van 10 lợi nhuận trong những năm được ưu đãi đấy và làm giảm lợi nhuận của những năm sau không được ưu đãi, như vậy sẽ tối thiểu được chi phí thuế phải nộp. - Để tránh bị áp đặt một chính sách bất lợi: Để tránh bị áp đặt một chính sách bất lợi có thể doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận. Ví dụ, đối với công ty điện lực, giá bán điện của công ty phải được sự đồng ý của chính phủ. Như vậy muốn tăng giá bán điện thì công ty phải báo cáo lỗ để chính phủ cho phép tăng giá bán điện.
- Liên quan đến tiền thưởng, tiền phạt hoặc cơ hội thăng chức của nhà quản lý: Với một số công ty quy định mức lương, thưởng của nhà quản lý dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy để tránh bị phạt hay để được thưởng nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận để đạt mục tiêu cá nhân của mình. Hoặc nhà quản lý cũng nắm giữ cổ phần trong công ty, khi muốn bán cổ phiếu nhà quản lý có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tăng giá cổ phiếu từ đấy sẽ thu được lợi cao khi bán cổ phiếu. - Khi doanh nghiệp phải ký kết hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận.
Nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận để không vi phạm các điều khoản đã ký kết. Cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận Cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích. Cơ sở kế toán dồn tích là một trong những nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp. Theo đó, “mọi ngiệp vụ kinh tế, tài chính của công ty liên qua đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền”.
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ, bởi vì lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và Luan van 11 chi phí. Từ đó BCKQHĐKD được lập trên cở sở dồn tích tuân thủ yêu cầu trung thực trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính. Các thông tin về tài sản, nguồn vốn được báo cáo một cách đầy đủ, hợp lý, từ đó cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho việc phân tích. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các thời kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,… Bên cạnh những ưu điểm thì nhược điểm của phương pháp này là đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu “ khách quan” trong kế toán.
Bởi nó mang tính chủ quan của nhà quản lý thông qua việc tính toán chi phí cũng như việc xác định doanh thu để xác định kết quả giữa các kỳ kế toán, giữa các niên độ kế toán với nhau. Từ đó các thông tin kế toán có thể bị phản ánh sai lệch theo ý chủ quan của người làm kế toán, cũng như là của nhà quản trị công ty. Lợi nhuận giữa các kỳ kế toán được phản ảnh thiếu chính xác. Chẳng hạn như việc phân bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện trong hoạt động xây lắp thể hiện những ước tính mang tính chủ quan của nhà quản trị công ty.
Ngược lại với kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch phát sinh bằng tiền. Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau. Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ sử dụng để lập BCLCTT. Kế toán theo cơ sở tiền có ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình bày thông tin trên BCTC.
Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “ hữu hình”, số tiền và ngày thu được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp. Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó việc ghi nhận Luan van 12 doanh thu và chi phí có tính quyết định đến lợi nhuận báo cáo trong một kỳ nào đó. Chế độ kế toán hiện hành quy định rằng BCKQHĐKD phải được thực hiện theo cơ sở dồn tích. Điều này mang lại cho nhà quản trị cơ hội thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận vì một mục tiêu nào đó, vì chế độ kế toán cũng đưa ra nhiều lựa chọn cho mỗi loại giao dịch (đối tượng) có liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí.
Để thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận, nhà quản trị doanh nghiệp có thể vận dụng tổng hợp các chính sách kế toán có thể. NHỮNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐƯỢC VẬN DỤNG ĐỂ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 1. Khái niệm chính sách kế toán Theo chuẩn mực 21- Trình bày báo cáo tài chính “ Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính”. Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực.
Tuy nhiên lựa chọn chính sách kế toán là việc lựa chọn có cân nhắc nằm trong khuôn khổ chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị. Việc lựa chọn chính sách kế toán nào đó áp dụng cho một dạng giao dịch cụ thể sẽ ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận. Chính sách ghi nhận doanh thu Trong trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ và xây lắp thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của giao dịch trong từng kỳ được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công Luan van 13 việc đã hoàn thành.
Phần công việc hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ: - Đánh giá phần công việc hoành thành.