Tổng quan luận án
Ung thư biểu mô trực tràng (UTBMTT) là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến của đường tiêu hóa, có xu hướng ngày càng gia tăng. Theo thống kê của GLOBOCAN năm 2020, toàn thế giới ghi nhận 732.210 ca mắc mới ung thư biểu mô trực tràng (chiếm 3,8% tổng số ca mắc mới các loại ung thư) và 339.022 trường hợp tử vong (chiếm 3,4% tổng số ca tử vong do ung thư). Tại khu vực Châu Âu, số ca mắc mới đạt khoảng 125.000 người mỗi năm, chiếm 35% tổng số bệnh nhân ung thư đại trực tràng, tương ứng tỷ lệ 15 – 25 ca/100.000 dân/năm, tỷ lệ tử vong từ 4 – 10 ca/100.000 dân/năm và độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi.
Điều trị ung thư biểu mô trực tràng mang tính chất đa mô thức, trong đó phẫu thuật giữ vai trò trung tâm. Kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME: Total Mesorectal Excision) do Heald mô tả từ năm 1982 đã trở thành tiêu chuẩn trong phẫu thuật triệt căn, giúp giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ. Mặc dù vậy, y văn vẫn ghi nhận khoảng 5 – 10% trường hợp tái phát tại chỗ sau phẫu thuật TME. Diện cắt chu vi (CRM: Circumferential Resection Margin) được xác định bởi khoảng cách ngắn nhất từ bờ ngoài khối u hoặc hạch di căn đến cân mạc treo trực tràng (MRF: Mesorectal Fascia). Tình trạng xâm lấn diện cắt chu vi (CRM dương tính khi khoảng cách $\le$ 1 mm) được chứng minh là yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng đối với nguy cơ tái phát tại chỗ và di căn xa.
Tại Việt Nam, chụp cộng hưởng từ (CHT) đã được áp dụng trong đánh giá giai đoạn trước mổ, tuy nhiên các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào độ sâu xâm lấn thành (T) và di căn hạch vùng (N). Thực tiễn nghiên cứu trong nước còn khoảng trống về việc đánh giá có hệ thống các yếu tố nguy cơ tiên lượng độc lập như xâm lấn diện cắt chu vi và xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI: Extramural Vascular Invasion) bằng CHT, cũng như việc đối chiếu, so sánh giá trị của CHT với kết quả mô bệnh học sau mổ.
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Minh Trọng, chuyên ngành Ngoại khoa (Mã số: 9720104), thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Xuân Hùng và PGS.TS. Phạm Hoàng Hà, được triển khai nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:
- Xác định giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán xâm lấn thành, di căn hạch, xâm lấn diện cắt chu vi (CRM) và giai đoạn bệnh của ung thư biểu mô trực tràng.
- Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư biểu mô trực tràng ở nhóm bệnh nhân có đánh giá diện cắt chu vi bằng cộng hưởng từ và giải phẫu bệnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô trực tràng, được thăm khám lâm sàng, chụp cộng hưởng từ đánh giá trước mổ, thực hiện phẫu thuật triệt căn và xét nghiệm mô bệnh học bệnh phẩm sau mổ tại Bệnh viện K và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề kiểm soát diện cắt và mạc treo trực tràng trong phẫu thuật ung thư trực tràng đã trải qua quá trình phát triển với nhiều nghiên cứu kinh điển và hiện đại:
- Lịch sử kỹ thuật mạc treo trực tràng và diện cắt: Năm 1982, Heald và cộng sự mô tả kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) đi dọc theo khoang vô mạch giữa lá tạng và lá thành của cân chậu, giúp hạ thấp tỷ lệ tái phát từ mức 40% xuống dưới 10%. Đến năm 1986, P. Quirke và cộng sự tại Đại học Leeds (Vương quốc Anh) công bố nghiên cứu trên tạp chí Lancet phân tích 52 bệnh phẩm ung thư trực tràng, đưa ra khái niệm xâm lấn diện cắt bên (lateral resection margin) với ngưỡng $\le$ 12 mm; nhóm có xâm lấn đạt tỷ lệ tái phát tại chỗ 85% so với 3% ở nhóm không xâm lấn. Giai đoạn 1994 – 1996, Adam và de Haas-Kock chứng minh nguyên nhân chính gây tái phát tại chỗ là do phẫu tích không trọn vẹn bờ bên và ghi nhận tỷ lệ tái phát giảm rõ rệt khi diện cắt sạch tế bào u $> 1$ mm. Năm 2002, Sobin và Wittekind bổ sung diện cắt vi thể vào hệ thống phân loại R0, R1, R2 của Hiệp hội Quốc tế Chống Ung thư (UICC).
- Ứng dụng cộng hưởng từ đánh giá diện cắt chu vi và vi mạch: Năm 2003, Brown và cộng sự lần đầu mô tả việc đánh giá diện cắt chu vi trên CHT bằng cách đo khoảng cách từ khối u hoặc hạch đến cân mạc treo trực tràng (MRF), xác lập ngưỡng MRF (+) khi khoảng cách $\le 1$ mm. Tác giả cũng chỉ ra việc nới rộng ngưỡng lên 5 mm sẽ làm tăng tỷ lệ dương tính giả mà không cải thiện độ chính xác. Năm 2005, Peschaud và cộng sự khảo sát ngưỡng CRM 2 mm trên 38 bệnh nhân, ghi nhận độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 66%. Năm 2012, Karatag và cộng sự báo cáo CHT mảng pha (phased-array coil) đạt độ chính xác 95,8% và giá trị tiên đoán âm 100% trong chẩn đoán CRM (+). Cùng năm 2012, Al-Sukhni và cộng sự thực hiện phân tích tổng hợp từ 21 nghiên cứu, kết luận CHT đạt độ đặc hiệu 94% (dao động 88% – 97%) trong đánh giá xâm lấn CRM. Năm 2019, Sapho và cộng sự ghi nhận bệnh nhân có CRM (+) trên CHT có nguy cơ CRM (+) trên giải phẫu bệnh cao hơn với OR = 1,72 (95%CI: 1,116 – 2,679). Đối với xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI), Smith và cộng sự (2008) xác nhận CHT đạt độ chính xác 86% trong chẩn đoán EMVI trên chuỗi xung T2W.
- Tác động của CRM đến kết quả sống thêm và tái phát: Wibe và cộng sự (2002) nghiên cứu trên 686 bệnh nhân, ghi nhận tỷ lệ tái phát tại chỗ ở nhóm CRM (+) là 22% so với 5% ở nhóm CRM (-). Koen (2007) khảo sát hơn 1.800 bệnh nhân, nhận thấy nguy cơ tái phát tại chỗ ở nhóm CRM (+) là 19,7% (có hóa trị bổ trợ) đến 23,5% (chỉ mổ TME), trong khi nhóm CRM (-) chỉ từ 3,4% đến 8,7%. Hung và cộng sự (2013) ghi nhận tỷ lệ tái phát tại chỗ và di căn xa ở nhóm CRM (+) lần lượt là 15,4% và 61,5% (so với 1,8% và 13,4% ở nhóm CRM (-)), tỷ lệ sống thêm không bệnh 5 năm ở nhóm CRM (-) đạt 75,8% trong khi nhóm CRM (+) là 0%. Lieke và cộng sự (2015) ghi nhận việc tăng tỷ lệ đánh giá CRM thường quy từ 52,7% lên 94,2% đã giúp giảm tỷ lệ CRM (+) từ 14,2% xuống 5,6%. Mads và cộng sự (2019) chứng minh không có sự khác biệt về tỷ lệ CRM (+) giữa mổ mở và mổ nội soi.
- Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: Granero-Castro và cộng sự (2014) chỉ ra siêu âm nội soi trực tràng đạt độ chính xác 83,7%, độ nhạy 85,7%, độ đặc hiệu 83,3%, giá trị tiên đoán dương 46,2% và giá trị tiên đoán âm 97,2% trong đánh giá CRM, thấp hơn so với CHT (độ chính xác 91,8%, độ đặc hiệu 92,8%, giá trị tiên đoán dương 66,6%). Wolberick và cộng sự (2007) ghi nhận chụp cắt lớp vi tính chỉ đạt độ nhạy đánh giá CRM từ 43,3 – 46,7%.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Phạm Văn Tấn và cộng sự (2010) đánh giá vai trò của siêu âm nội trực tràng trong chẩn đoán mức độ xâm lấn thành T1 (độ chính xác 86,8%), T2 (83,3%), T3 (89,2%), T4 (71,4%). Nguyễn Hoàng Minh (2017) xác định CHT có độ nhạy 88,9%, độ đặc hiệu 84,3%, độ chính xác 86,5% trong chẩn đoán di căn hạch. Phạm Công Khánh và cộng sự (2019) ghi nhận CHT đánh giá giai đoạn hạch đoạn giữa và dưới đạt độ chính xác cho N0 là 89,6%, N1 là 81,1% và N2 là 91,5%.
Vị trí của luận án được xác lập thông qua việc kế thừa các tiêu chuẩn quốc tế về giải phẫu mạc treo, kết hợp chẩn đoán hình ảnh CHT độ phân giải cao và giải phẫu bệnh học chuẩn hóa, nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu thực chứng tại Việt Nam về chẩn đoán CRM, EMVI và đánh giá toàn diện kết quả điều trị ngoại khoa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên nền tảng giải phẫu học ngoại khoa vùng chậu và các hệ thống phân loại bệnh học ung thư quốc tế:
- Giải phẫu trực tràng và hệ thống cân mạc: Trực tràng có chiều dài khoảng 15 cm (bóng trực tràng 10 – 12 cm, ống hậu môn ~3 cm), được phân thành 3 đoạn: 1/3 dưới (0 – 5 cm từ rìa hậu môn), 1/3 giữa (> 5 – 10 cm) và 1/3 trên (> 10 – 15 cm). Mạc treo trực tràng (MTTT) bao bọc quanh trực tràng, chứa mô mỡ, mạch trực tràng trên và chuỗi hạch bạch huyết (dẫn lưu về hạch Mondor rồi đến gốc động mạch mạc treo tràng dưới). Cân mạc treo trực tràng (MRF / fascia propria) là lớp collagen bao quanh MTTT. Các mạc liên quan gồm mạc Denonvilliers (ở phía trước, ngăn cách trực tràng với túi tinh ở nam hoặc âm đạo ở nữ) và mạc Waldeyer (ở phía sau, nối mạc riêng trực tràng với mạc trước xương cùng tại mức đốt sống S3 – S4). Đám rối thần kinh tự động chậu hông nằm sát thành bên trực tràng, cách cơ riêng khoảng 2 – 3 mm đến 10 mm.
- Tiêu chuẩn diện cắt chu vi (CRM): Khoảng cách từ tế bào u, hạch di căn hoặc diện xâm lấn mạch máu đến cân mạc treo trực tràng $\le 1$ mm được quy ước là CRM dương tính (CRM (+)), khoảng cách $> 1$ mm là CRM âm tính (CRM (-)).
- Tiêu chuẩn phân loại giai đoạn TNM: Phân loại giai đoạn khối u theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC phiên bản 7 năm 2010 và AJCC phiên bản 8 năm 2017). Mức độ xâm lấn thành T3 trên CHT được phân nhóm theo khoảng cách xâm lấn ngoài lớp cơ: T3a ($< 1$ mm hoặc $< 5$ mm), T3b (1 – 5 mm hoặc 5 – 10 mm), T3c (5 – 15 mm hoặc $> 10$ mm), T3d ($> 15$ mm) theo Horvat (2019) và Harmeet (2012). Đánh giá hạch di căn (N) trên CHT kết hợp kích thước và các đặc điểm hình thái ác tính (bờ không đều, tín hiệu không đồng nhất, hình tròn).
- Phân loại mô bệnh học: Dựa trên phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2010 và WHO 2019), bao gồm ung thư biểu mô tuyến thông thường, ung thư biểu mô tuyến nhầy ($> 50%$ chất nhầy ngoại bào), ung thư biểu mô tế bào nhẫn ($> 50%$ tế bào nhẫn), ung thư biểu mô thể tủy, ung thư biểu mô tuyến răng cưa, ung thư biểu mô tuyến thể vi nhú, ung thư biểu mô thể không biệt hóa và u thần kinh nội tiết.
- Đánh giá mạc treo trực tràng bệnh phẩm: Đánh giá chất lượng bệnh phẩm sau mổ thành 3 mức: Toàn vẹn (mặt ngoài nhẵn, khuyết hổng $< 5$ mm), Toàn vẹn ít (bề mặt không đều, chưa lộ lớp cơ) và Không toàn vẹn (khuyết sâu đến lớp cơ, diện cắt rất nham nhở).
- Thang điểm lâm sàng chức năng: Thang điểm Wexner đánh giá chức năng cơ thắt hậu môn, thang điểm IPSS đánh giá chức năng bàng quang và chỉ số IIEF đánh giá chức năng cương dương sau mổ.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỐI CHIẾU |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| CHẨN ĐOÁN TRƯỚC MỔ (CỘNG HƯỞNG TỪ) <---> GIẢI PHẪU BỆNH SAU PHẪU THUẬT |
| - Xâm lấn thành (T1, T2, T3a-d, T4) <---> - Mức độ xâm lấn thành vi thể |
| - Di căn hạch vùng (N0, N1, N2) <---> - Số lượng hạch di căn vi thể |
| - Xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI) <---> - Xâm lấn mạch máu vi thể |
| - Khoảng cách u/hạch đến MRF (CRM) <---> - Đo khoảng cách CRM vi thể |
+-----------------------------------------------------------------------------+
|
v
+-----------------------------------------------------------------------------+
| KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT VÀ THEO DÕI |
| - Phương pháp mổ: TME, AR, LAR, ISR, APR |
| - Đánh giá độ toàn vẹn MTTT bệnh phẩm, biến chứng gần (Rò miệng nối A/B/C) |
| - Theo dõi tái phát tại chỗ, di căn xa và sống thêm (Kaplan - Meier) |
+-----------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc tiến cứu và hồi cứu.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô trực tràng bằng giải phẫu bệnh, có chỉ định phẫu thuật triệt căn, được chụp CHT trước mổ theo đúng quy trình và có đầy đủ kết quả giải phẫu bệnh sau mổ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân ung thư trực tràng tái phát, u không thuộc biểu mô, bệnh nhân không thể chụp CHT hoặc hồ sơ bệnh án không đầy đủ dữ liệu nghiên cứu.
- Quy trình kỹ thuật:
- Chụp CHT vùng chậu trên máy cộng hưởng từ chuyên dụng, đánh giá trên các mặt cắt đứng dọc (sagittal), đứng ngang (coronal) và cắt ngang (axial) vuông góc với trục khối u trên chuỗi xung T2W không tiêm và có tiêm đối quang từ. Đo đạc khoảng cách u đến rìa hậu môn, khoảng cách từ u/hạch/EMVI đến cân mạc treo trực tràng.
- Phẫu thuật triệt căn tuân thủ nguyên tắc TME: cắt trên u $\ge 5$ cm, cắt dưới u $\ge 2$ cm (đối với u đoạn giữa và dưới) hoặc $\ge 5$ cm (u đoạn cao), vét hạch rộng rãi dọc động mạch mạc treo tràng dưới. Áp dụng các kỹ thuật: cắt trước thấp (LAR), cắt cụt trực tràng đường bụng - tầng sinh môn (APR), cắt liên cơ thắt (ISR), hoặc phẫu thuật Hartmann trong chỉ định đặc biệt.
- Xử lý bệnh phẩm giải phẫu bệnh: Bệnh phẩm được cố định trong dung dịch formol, tiến hành bôi mực tàu toàn bộ mặt ngoài mạc treo trực tràng (vùng tương ứng diện cắt chu vi), cắt lát bệnh phẩm theo chiều ngang với độ dày từ 3 – 5 mm, quan sát đại thể, lấy mảnh chuyển đúc khối nến. Đánh giá vi thể dưới kính hiển vi quang học có gắn thước đo vi học để xác định chính xác khoảng cách từ tế bào u/hạch gần nhất đến bờ mực tàu.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được quản lý và phân tích bằng các phần mềm thống kê y học. Tính toán các chỉ số chẩn đoán của CHT so với tiêu chuẩn vàng giải phẫu bệnh gồm: Độ nhạy (Se), Độ đặc hiệu (Sp), Giá trị tiên đoán dương tính (PPV), Giá trị tiên đoán âm tính (NPV), Độ chính xác (Acc). Phân tích tỷ lệ sống thêm tích lũy và thời gian sống thêm kỳ vọng bằng phương pháp Kaplan – Meier, so sánh sự khác biệt giữa các nhóm bằng kiểm định log-rank.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở giải phẫu học, lý thuyết chẩn đoán, phân loại giai đoạn và các kỹ thuật can thiệp ngoại khoa ung thư trực tràng:
- Giải phẫu và tổ chức học mạc treo: Trình bày chi tiết giải phẫu ống hậu môn - trực tràng, mạc treo trực tràng và hệ thống các lớp mạc bao quanh (mạc riêng trực tràng, mạc Denonvilliers, mạc Waldeyer). Phân tích liên quan phẫu tích thành sau, thành bên và nguy cơ tổn thương đám rối thần kinh thực vật chậu hông (cách cơ riêng 2 – 10 mm) hoặc chảy máu tĩnh mạch trước xương cùng khi bóc tách mạc Waldeyer.
- Chẩn đoán lâm sàng và hình ảnh học: Trình bày triệu chứng cơ năng (rối loạn tiêu hóa, đại tiện ra máu, phân biến dạng), thăm khám trực tràng theo phân loại Mason (độ I – IV) và Nicholls (giai đoạn I – II). Tổng kết vai trò của nội soi sinh thiết, siêu âm nội trực tràng, chụp cắt lớp vi tính và nồng độ chất chỉ điểm khối u CEA trước mổ.
- Hình ảnh cộng hưởng từ: Khảo sát chi tiết tiêu chí đánh giá vị trí u (theo chiều cao và theo chu vi mặt đồng hồ), phân loại 4 mức độ theo dải phúc mạc và cơ nâng của Nam Kyu Kim; tiêu chuẩn chẩn đoán xâm lấn thành T1 – T4; tiêu chuẩn chẩn đoán hạch di căn N0 – N2 dựa trên kích thước ($< 5$ mm, 5 – 9 mm, $> 9$ mm) và 3 dấu hiệu ác tính; tiêu chuẩn chẩn đoán xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI); tiêu chuẩn chẩn đoán di căn xa (M0, M1a, M1b).
- Mô bệnh học và phân loại giai đoạn: Điểm lại phân loại giải phẫu bệnh theo WHO 2010 và WHO 2019 (ung thư biểu mô tuyến, tuyến nhầy, tế bào nhẫn, thể tủy, răng cưa, vi nhú, thần kinh nội tiết); phân loại Dukes (A, B, C1, C2, D); hệ thống phân loại TNM theo AJCC bản 7 (2010) và AJCC bản 8 (2017).
- Diện cắt chu vi và kỹ thuật ngoại khoa: Tổng kết lịch sử khái niệm CRM từ nghiên cứu của Quirke (1986) đến các nghiên cứu hiện đại; các nguyên tắc phẫu thuật triệt căn (TME, diện cắt xa, diện cắt gần, nạo vét hạch); các phương pháp mổ (AR, LAR, APR, ISR, Babcock – Bacon, Park – Malafosse, Hartmann); đánh giá chất lượng mạc treo và phân độ rò miệng nối đại - trực tràng (độ A, B, C theo mức độ can thiệp lâm sàng).
| Phân độ rò miệng nối |
Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng |
Hướng xử trí can thiệp |
| Độ A |
Không có triệu chứng lâm sàng; phát hiện qua chẩn đoán hình ảnh cản quang trước đóng HMNT |
Không cần can thiệp chủ động |
| Độ B |
Rối loạn nhẹ - vừa; đau tiểu khung, chướng bụng; dẫn lưu đục; tăng bạch cầu, CRP; thoát thuốc cản quang |
Điều trị bảo tồn: kháng sinh, duy trì/đặt dẫn lưu tiểu khung, rửa qua hậu môn |
| Độ C |
Hội chứng nhiễm trùng, viêm phúc mạc rõ, dịch mủ, nguy cơ sốc nhiễm trùng và suy đa tạng |
Phẫu thuật lại cấp cứu: dẫn lưu áp xe làm HMNT bảo vệ hoặc phẫu thuật Hartmann |
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng:
- Đối tượng nghiên cứu: Trình bày tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân UTBMTT được phẫu thuật triệt căn, có đánh giá CHT trước mổ và giải phẫu bệnh sau mổ; tiêu chuẩn loại trừ các trường hợp không đáp ứng tiêu chí kỹ thuật.
- Phương tiện và thiết bị: Sử dụng hệ thống máy chụp cộng hưởng từ chuyên dụng; trang thiết bị phẫu thuật tiêu hóa - ung bướu; hệ thống kính hiển vi quang học có gắn thước đo vi học phục vụ đánh giá mô bệnh học vi thể.
- Quy trình thu thập và xử lý bệnh phẩm: Chuẩn hóa quy trình ghi nhận dữ liệu CHT (vị trí u, mức chiếm chu vi lòng trực tràng, độ sâu xâm lấn T, phân loại T3, hạch N, di căn M, EMVI, khoảng cách đến MRF). Quy trình nhuộm mực tàu diện ngoài mạc treo bệnh phẩm tươi sau mổ, kỹ thuật cắt lát nối tiếp 3 – 5 mm và đo đạc khoảng cách CRM vi thể.
- Biến số nghiên cứu và quản lý dữ liệu: Xác lập hệ thống biến số lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh học CHT, đặc điểm phẫu thuật, tai biến - biến chứng trong và sau mổ, phân loại mô bệnh học, biến số đánh giá chức năng sau mổ (Wexner, IPSS, IIEF) và các biến số sống thêm. Trình bày phương pháp phân tích thống kê đối chiếu bảng $2 \times 2$ (tính Se, Sp, Acc, PPV, NPV) và phân tích sống thêm Kaplan – Meier.
- Đạo đức nghiên cứu: Đảm bảo tính trung thực, bảo mật thông tin bệnh nhân và được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập và kết quả xử lý thống kê:
- Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính; lý do vào viện; thời gian mắc bệnh; tỷ lệ các triệu chứng cơ năng (rối loạn đại tiện, đi ngoài ra máu, đau quặn mót rặn, phân biến dạng) và đặc điểm thực thể qua thăm khám trực tràng, nội soi đánh giá hình thái khối u và khoảng cách u đến rìa hậu môn.
- Giá trị chẩn đoán của cộng hưởng từ:
- Thống kê mối tương quan và độ chính xác của CHT trong chẩn đoán kích thước u, mức độ chiếm lòng trực tràng và mức độ xâm lấn thành (T1, T2, T3, T4) khi đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh.
- Đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác của CHT trong chẩn đoán di căn hạch vùng (giai đoạn N) và giai đoạn bệnh tổng thể theo AJCC.
- Xác định giá trị của CHT trong chẩn đoán xâm lấn diện cắt chu vi (CRM (+)/CRM (-)) so với giải phẫu bệnh; phân tích mối liên quan giữa chẩn đoán CRM trên CHT và mô bệnh học theo vị trí u (1/3 dưới, giữa, trên), theo mức độ xâm lấn thành T, theo tình trạng xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI) và theo giai đoạn bệnh.
- Đặc điểm phẫu thuật và tai biến, biến chứng:
- Thống kê các phương pháp phẫu thuật được thực hiện (LAR, APR, ISR...), khoảng cách diện cắt trên và diện cắt dưới khối u trên bệnh phẩm thực tế.
- Đánh giá mức độ toàn vẹn của mạc treo trực tràng và mối liên quan với vị trí khối u, đường mổ (mổ mở, mổ nội soi) và phương pháp phẫu thuật.
- Tỷ lệ tai biến trong mổ và các biến chứng sớm sau mổ (chảy máu, nhiễm trùng vết mổ, phân độ rò miệng nối đại - trực tràng).
- Kết quả theo dõi sau phẫu thuật và sống thêm:
- Đánh giá chất lượng cuộc sống sau mổ dựa trên thang điểm Wexner, IPSS và chỉ số IIEF.
- Tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa sau mổ và phân tích các yếu tố liên quan, đặc biệt là mối liên quan giữa tình trạng diện cắt chu vi (CRM) với tái phát và di căn.
- Ước tính thời gian sống thêm kỳ vọng và tỷ lệ sống thêm tích lũy bằng phương pháp Kaplan – Meier; so sánh đường cong sống thêm theo mức độ xâm lấn thành, mức độ di căn hạch, giai đoạn bệnh, dạng đại thể, loại vi thể mô bệnh học và tình trạng xâm lấn diện cắt chu vi (CRM (+) so với CRM (-)).
+-----------------------------------------------------------------------------+
| CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SỐNG THÊM (KAPLAN - MEIER) |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| 1. Tình trạng diện cắt chu vi (CRM (+) vs CRM (-)) |
| 2. Mức độ xâm lấn thành trực tràng (Giai đoạn T) |
| 3. Tình trạng di căn hạch vùng (Giai đoạn N) |
| 4. Phân loại giai đoạn bệnh tổng thể (AJCC) |
| 5. Dạng đại thể tổn thương (Loét sùi, sùi, thâm nhiễm) |
| 6. Đặc điểm mô bệnh học vi thể (Biệt hóa, tuyến nhầy, tế bào nhẫn...) |
+-----------------------------------------------------------------------------+
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 biện giải các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn:
- Đặc điểm bệnh lý học và lâm sàng: Bàn luận về phân bố tuổi, giới tính, thời gian khởi phát và giá trị của các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng trong chẩn đoán sớm ung thư biểu mô trực tràng.
- Bàn luận giá trị của cộng hưởng từ:
- Phân tích khả năng của CHT trong đánh giá kích thước, mức độ xâm lấn thành và sự phù hợp với mô bệnh học. Biện giải nguyên nhân các trường hợp chẩn đoán sai lệch (dương tính giả hoặc âm tính giả), đặc biệt ở giai đoạn T2 và T3a, do khó khăn trong việc phân biệt giữa phản ứng xơ hóa quanh u và xâm lấn tế bào ung thư thực sự.
- Đánh giá độ tin cậy của CHT trong chẩn đoán hạch di căn dựa trên kích thước kết hợp tiêu chuẩn hình thái ác tính.
- Bàn luận sâu về giá trị chẩn đoán diện cắt chu vi (CRM) của CHT; phân tích độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán so sánh với các nghiên cứu quốc tế của Brown, Al-Sukhni, Karatag và các tác giả trong nước. Làm rõ vai trò của CHT trong phát hiện xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI).
- Bàn luận kết quả phẫu thuật và theo dõi sau mổ:
- Phân tích việc lựa chọn phương pháp mổ triệt căn phù hợp với vị trí và giai đoạn u; đánh giá việc thực hiện kỹ thuật TME và mức độ toàn vẹn của mạc treo trực tràng qua các đường mổ.
- Bàn luận về tỷ lệ tai biến, biến chứng gần (đặc biệt là biến chứng rò miệng nối và hướng xử trí theo phân độ lâm sàng).
- Đánh giá chức năng cơ thắt, tiết niệu, sinh dục sau mổ và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phân tích mối tương quan giữa CRM (+) với nguy cơ tái phát tại chỗ, di căn xa và tỷ lệ sống thêm không bệnh, sống thêm toàn bộ; khẳng định ý nghĩa của việc kiểm soát diện cắt chu vi trong nâng cao kết quả điều trị ung thư biểu mô trực tràng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Xác lập giá trị chẩn đoán của CHT đối với diện cắt chu vi: Luận án cung cấp hệ thống số liệu khoa học thực chứng tại Việt Nam về độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính và giá trị tiên đoán âm tính của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán xâm lấn diện cắt chu vi (CRM) và xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI), đối chiếu trực tiếp với tiêu chuẩn vàng giải phẫu bệnh học sau mổ.
- Chứng minh mối liên quan tiên lượng của CRM: Luận án làm sáng tỏ mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng xâm lấn diện cắt chu vi vi thể với tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa và đường cong sống thêm tích lũy (Kaplan – Meier) của bệnh nhân sau phẫu thuật triệt căn ung thư trực tràng.
- Đánh giá toàn diện giá trị phân kỳ bệnh của CHT: Làm rõ sự phù hợp giữa hình ảnh CHT và giải phẫu bệnh trong xác định độ sâu xâm lấn thành trực tràng (T), di căn hạch vùng (N) và phân loại giai đoạn bệnh TNM theo các phiên bản cập nhật của AJCC.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán hình ảnh trước mổ: Đưa tiêu chí đo đạc khoảng cách u/hạch đến cân mạc treo trực tràng ($\le 1$ mm) và đánh giá EMVI trên CHT vào quy trình thăm khám thường quy trước phẫu thuật, giúp các phẫu thuật viên đánh giá chính xác nguy cơ diện cắt trước khi can thiệp.
- Định hướng chiến lược điều trị ngoại khoa và đa mô thức: Cung cấp cơ sở khoa học để lựa chọn phương pháp phẫu thuật triệt căn phù hợp (cắt trước thấp - LAR, cắt liên cơ thắt bảo tồn cơ thắt - ISR, hoặc cắt cụt trực tràng đường bụng - tầng sinh môn - APR), đồng thời định hướng chỉ định điều trị tân bổ trợ (hóa xạ trị tiền phẫu) cho các trường hợp có nguy cơ CRM (+) hoặc EMVI (+) nhằm hạ giai đoạn khối u và giảm tỷ lệ tái phát.
- Chuẩn hóa kỹ thuật xử lý bệnh phẩm mạc treo trực tràng: Ứng dụng quy trình bôi mực tàu toàn bộ bề mặt mạc treo trực tràng, cắt lát liên tục độ dày 3 – 5 mm và sử dụng thước đo vi học trên kính hiển vi để đánh giá diện cắt chu vi vi thể và chất lượng toàn vẹn của mạc treo trực tràng (TME) sau phẫu thuật.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án
- Khuyến cáo áp dụng thường quy chụp cộng hưởng từ vùng chậu có độ phân giải cao cho tất cả bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng trước khi lập kế hoạch điều trị, tập trung đánh giá khoảng cách đến cân mạc treo trực tràng và tình trạng xâm lấn mạch ngoài thành.
- Phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật viên, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ giải phẫu bệnh trong quy trình điều trị đa mô thức ung thư trực tràng.
- Thực hiện nghiêm ngặt kỹ thuật nhuộm mực tàu và cắt lát bệnh phẩm mạc treo trực tràng tại các khoa giải phẫu bệnh để kiểm soát chất lượng phẫu thuật triệt căn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Giới hạn kỹ thuật của CHT: Hình ảnh cộng hưởng từ gặp khó khăn nhất định trong việc phân biệt giữa phản ứng xơ hóa quanh khối u đơn thuần với tổ chức xơ có tế bào ung thư xâm lấn, dẫn đến một số trường hợp chẩn đoán dương tính giả hoặc âm tính giả trong đánh giá giai đoạn T2/T3 và diện cắt chu vi.
- Đánh giá di căn hạch kích thước nhỏ: Độ chính xác của CHT trong chẩn đoán hạch di căn còn phụ thuộc nhiều vào kích thước hạch; các vi di căn trong hạch có kích thước $< 5$ mm khó phát hiện toàn diện nếu hạch chưa biến đổi hình thái rõ rệt.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được triển khai tại hai bệnh viện tuyến trung ương (Bệnh viện K và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), nơi có trang thiết bị hiện đại và phẫu thuật viên chuyên khoa sâu, do đó việc áp dụng rộng rãi quy trình tại các cơ sở tuyến dưới có thể gặp rào cản về trang thiết bị và kinh nghiệm đọc phim CHT.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi dọc thuần tập bệnh nhân trong thời gian dài hơn để đánh giá tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (DFS) sau 5 năm và 10 năm.
- Mở rộng nghiên cứu ứng dụng các chuỗi xung cộng hưởng từ chức năng (như chuỗi xung khuếch tán DWI, chuỗi xung tưới máu) để nâng cao độ chính xác trong đánh giá đáp ứng khối u sau điều trị hóa xạ trị tân bổ trợ và đánh giá diện cắt chu vi còn lại sau điều trị tiền phẫu.
- Triển khai nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để xây dựng các mô hình tiên lượng kết hợp giữa các dấu ấn sinh học phân tử, hình ảnh CHT và mô bệnh học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều đối tượng trong ngành y tế:
- Đối với phẫu thuật viên tiêu hóa và ung bướu: Luận án cung cấp các dữ liệu giải phẫu ngoại khoa chi tiết về các lớp mạc trực tràng (MRF, Denonvilliers, Waldeyer), khoang phẫu tích vô mạch sau trực tràng và vị trí đám rối thần kinh thực vật. Bác sĩ ngoại khoa có thể tham khảo chỉ định, kỹ thuật phẫu tích TME chuẩn mực, các phương pháp phẫu thuật bảo tồn cơ thắt (LAR, ISR) và cách xử trí biến chứng rò miệng nối theo từng phân độ A, B, C.
- Đối với bác sĩ chẩn đoán hình ảnh: Chương tổng quan và bàn luận cung cấp khung tiêu chuẩn phân tích CHT vùng chậu chi tiết: tiêu chuẩn phân loại T3a – T3d theo Horvat, tiêu chí nhận diện hạch ác tính phối hợp kích thước và hình thái, nhận diện xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI) trên chuỗi xung T2W và phương pháp đo khoảng cách đến MRF để chẩn đoán CRM.
- Đối với bác sĩ giải phẫu bệnh: Cung cấp quy trình chuẩn hóa từ khâu cố định bệnh phẩm, kỹ thuật bôi mực tàu diện cắt, phương pháp cắt lát 3 – 5 mm đến cách đo lường khoảng cách CRM vi thể dưới kính hiển vi có thước đo, phân loại mô bệnh học theo WHO 2010/2019 và đánh giá mức độ toàn vẹn của mạc treo trực tràng.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu y học: Luận án là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng đối chiếu hình ảnh học với giải phẫu bệnh học, quy trình thu thập dữ liệu phẫu thuật và phương pháp phân tích thống kê sống thêm Kaplan – Meier trong ung thư học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn xác định diện cắt chu vi dương tính (CRM (+)) trên cộng hưởng từ và giải phẫu bệnh được quy ước như thế nào?
Trên hình ảnh cộng hưởng từ (chuỗi xung T2W mặt cắt ngang), diện cắt chu vi được xác định bằng khoảng cách ngắn nhất từ bờ ngoài khối u, hạch di căn hoặc diện xâm lấn mạch ngoài thành (EMVI) đến cân mạc treo trực tràng (MRF). Khoảng cách $\le 1$ mm được xác định là CRM dương tính (MRF (+)). Trên giải phẫu bệnh, bệnh phẩm được bôi mực tàu toàn bộ mặt ngoài mạc treo; sau khi cắt lát và soi dưới kính hiển vi quang học có thước đo vi học, khoảng cách từ tế bào u/hạch di căn gần nhất đến bờ mực tàu $\le 1$ mm là CRM dương tính (CRM (+)), khoảng cách $> 1$ mm là CRM âm tính (CRM (-)).
2. Ý nghĩa ngoại khoa của các lớp mạc trực tràng (Denonvilliers, Waldeyer) trong phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) là gì?
Mạc Denonvilliers nằm ở mặt trước trực tràng, tạo thành ranh giới giữa trực tràng với túi tinh ở nam hoặc âm đạo ở nữ; nhận biết đúng mạc này giúp phẫu tích trọn vẹn bờ trước mà không làm tổn thương cơ quan lân cận. Mạc Waldeyer là dải mô liên kết dày đặc giữa mạc riêng trực tràng và mạc trước xương cùng tại mức S3 – S4; việc nhận biết và phẫu tích sắc bằng dao điện qua lớp mạc này giúp giải phóng hoàn toàn trực tràng, tránh nguy cơ rách đám rối tĩnh mạch trước xương cùng gây chảy máu dữ dội khó cầm và tránh thủng trực tràng.
3. Tiêu chuẩn chẩn đoán hạch vùng di căn trên cộng hưởng từ được luận án xác định dựa trên những yếu tố nào?
Chẩn đoán hạch di căn trên CHT kết hợp giữa kích thước hạch và 3 đặc điểm hình thái ác tính (bờ không đều, tín hiệu không đồng nhất, hình tròn). Khi kích thước hạch $< 5$ mm, nghi ngờ di căn khi có đủ cả 3 đặc điểm hình thái; khi kích thước hạch từ 5 – 9 mm, nghi ngờ di căn khi có 2 đặc điểm hình thái; các hạch có kích thước $> 9$ mm luôn được coi là nghi ngờ di căn.
4. Biến chứng rò miệng nối đại - trực tràng sau mổ được phân loại thành những mức độ nào và nguyên tắc can thiệp ra sao?
Rò miệng nối được phân thành 3 độ:
- Độ A: Rò chỉ phát hiện trên chẩn đoán hình ảnh cản quang, không có biểu hiện lâm sàng, không cần can thiệp điều trị chủ động.
- Độ B: Rò có biểu hiện rối loạn nhẹ đến vừa (đau tiểu khung, bụng chướng, dẫn lưu đục, tăng bạch cầu/CRP), điều trị bảo tồn bằng kháng sinh, duy trì hoặc đặt thêm dẫn lưu tiểu khung, rửa qua hậu môn.
- Độ C: Rò gây viêm phúc mạc, nhiễm trùng nặng, dịch mủ, đòi hỏi phải phẫu thuật lại cấp cứu để dẫn lưu áp xe làm hậu môn nhân tạo bảo vệ phía trên hoặc tháo bỏ miệng nối làm phẫu thuật Hartmann.
5. Tình trạng diện cắt chu vi dương tính (CRM (+)) ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ tái phát và thời gian sống thêm của bệnh nhân?
Y văn và các số liệu nghiên cứu đối chiếu trong luận án khẳng định CRM (+) là yếu tố tiên lượng độc lập xấu. Bệnh nhân có CRM (+) có tỷ lệ tái phát tại chỗ cao hơn rõ rệt (trong các nghiên cứu ghi nhận từ 15,4% – 23,5% so với 1,8% – 8,7% ở nhóm CRM (-)), tỷ lệ di căn xa tăng cao (lên đến 61,5% so với 13,4%) và làm giảm đáng kể thời gian sống thêm không bệnh cũng như tỷ lệ sống thêm tích lũy 5 năm (như nghiên cứu của Hung ghi nhận sống thêm không bệnh 5 năm đạt 75,8% ở nhóm CRM (-) trong khi nhóm CRM (+) là 0%).
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Minh Trọng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngoại khoa tiêu hóa và ung bướu, giải quyết thành công mục tiêu xác định giá trị của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán mức độ xâm lấn thành, di căn hạch, xâm lấn diện cắt chu vi và giai đoạn bệnh của ung thư biểu mô trực tràng khi so sánh với tiêu chuẩn vàng giải phẫu bệnh. Công trình đã chứng minh giá trị chẩn đoán cao của cộng hưởng từ trong việc phát hiện sớm các yếu tố tiên lượng nguy cơ cao như CRM (+) và EMVI (+), hỗ trợ định hướng chiến lược can thiệp phẫu thuật triệt căn TME và điều trị đa mô thức cá thể hóa. Đồng thời, luận án đã đánh giá toàn diện kết quả điều trị ngoại khoa, phân tích các tai biến, biến chứng gần và khẳng định vai trò quyết định của việc kiểm soát âm tính diện cắt chu vi đối với việc giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân ung thư biểu mô trực tràng.