CHƯƠNG I ĐỐI TƯỢNG PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC VIỆT NAM Trong chương này chúng tôi tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu của Dương Hữu Tòng (2012) I. Khái niệm số phân số trong chương trình tiểu học Việt Nam Giáo trình Đỗ Đình Hoan đề cập các nội dung sau : * Hình thành khái niệm phân số Ở Tiểu học, khái niệm phân số được xây dựng theo hướng sau: số biểu thị một cặp số tự nhiên(a, b), trong đó b chỉ số phần bằng nhau của một đơn vị và a chỉ số phần bằng nhau lấy ra, được rồi là phân số. Số đó được biểu diễn dưới dạng Ở SGK Toán 4 còn giới thiệu còn nêu lên mối quan hệ giữa khái niệm phân số với phép chia hai số tự nhiên. Như vậy, bao giờ cũng có thể dùng phân số để ghi lại kết quả của phép chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên khác 0.
Điều này cho phép coi một số tự nhiên là phân số có mẫu số là 1. a Việc xây dựng số mới có dạng = (b ≠ 0 ) như trên làm cho các phương b trình có dạng b × x= a ( b≠ 0) luôn luôn có nghiệm. * Tính chất cơ bản của phân số Giáo trình đề cập hai tính chất cơ bản của phân số: - “Nếu ta nhân hay chia tử số và mẫu số của một phân số với cùng một số tự nhiên khác 0 thì ta được một phân số mới bằng phân số đã cho” - “Nếu ta nhân hay chia số bị chia và số chia của một phép chia với cùng một số tự nhiên khác 0 thì giá trị của thương vẫn không thay đổi”. * Rút gọn phân số Ở Tiểu học, HS không được học các khái niệm ước số, ước số chung, ước số chung lớn nhất của nhiều số, nên vấn đề “Rút gọn phân số” được mô hình như sau: 3 c a a c = Phân số đã cho là.
Phân số phải tìm sao cho: d b b d c < a và d < b * Qui đồng mẫu số các phân số Ở Tiểu học, HS không được học các khái niệm bội số, bội số chung, bội số chung lớn nhất của nhiều số, nên vấn đề “Qui đồng mẫu số các phân số” được mô hình như sau: a c m n Các phân số đã cho là =. Các phân số được qui đồng là và sao b d p p a m c n cho: = mà a < m và b < p; = mà c < n và d < p. b p d p Chú ý: Việc qui đồng mẫu số các phân số chỉ tiến hành trên các phân số có mẫu số bé hơn hoặc bằng 10. • So sánh các phân số • So sánh hai phân số cùng mẫu số Nhờ phương tiện trực quan, việc so sánh hai phân số được quy về việc so sánh hai tử số như cách so sánh hai số tự nhiên.
* So sánh phân số với 1 Viết số 1 thành phân số có tử số và mẫu số đều bằng mẫu số của phân số, rồi so sánh hai phân số có cùng mẫu số. Nhưng ì tử số của phân số biểu thị số 1 bằng mẫu số của phân số đã cho, nên việc so sánh phân số với 1 được quy về so sánh tử số với mẫu số của phân số đã cho. * So sánh hai phân số khác mẫu số - Hướng giải quyết: + Qui đồng mẫu số hai phân số đã cho. + So sánh hai phân số cùng mẫu số đã qui đồng (so sánh hai tử số).
Từ đó rút ra kết luận về so sánh hai phân số đã cho. Cộng trừ hai phân số Giáo trình đề cập như sau: - Cộng hai phân số cùng mẫu số. Tổng nhiều phân số cùng mẫu số. Tổng của số tự nhiên và phân số, hoặc tổng của phân số và số tự nhiên.
4 - Cộng hai phân số khác mẫu số. - Trừ hai phân số cùng mẫu số, trừ hai phân số khác mẫu số, số tự nhiên trừ đi phân số, phân số trừ đi số tự nhiên. Nhân hai phân số Dựa vào bài toán đơn để hình thành phép nhân phân số với số tự nhiên, trên cơ sở đó chuyển thành phép nhân phân số với phân số. 4 4 1 4 - So sánh, đối chiếu: tử số của phân số chỉ kết quả của phép nhân với tử số của hai phân số; mẫu số của phân số chỉ kết quả phép nhân các mẫu số của hai phân số trong các phép nhân.
- Nêu kĩ thuật nhân hai phân số: tử số nhân tử số, mẫu số nhân mẫu số. - Qui tắc này có thể mở rộng cho việc nhân nhiều phân số. Chia hai phân số Dựa vào bài toán đơn để hình thành phép chia phân số cho số tự nhiên, 1 trên cơ sở đó chuyển thành phép chia phân số cho phân số. Chẳng hạn: ÷3 2 1 3 rồi viết thành ÷ 2 1 1 1 Bằng phương tiện trực quan, HS nhận thấy rằng: ÷ 3 =.
Hình thức 2 6 1 1 1 1 hóa: ÷ 3 = × = Sau đó, nêu quy tắc tổng quát. 2 2 3 6 * Các tính chất của phép toán trên phân số Vì tập hợp phân số là sự mở rộng tập hợp số tự nhiên nên mọi tính chất phép toán trên số tự nhiên đều áp dụng được trên phân số. Trong SGK, các tính chất này được đưa vào phần luyện tập thực hành. Chẳng hạn: - Tính chất giao hoán của phép cộng, của phép nhân.
- Tính chất kết hợp của phép cộng, của phép nhân. - Một tổng nhân một số, một số nhân một tổng II. Khái niệm phân số trong chương trình toán ở bậc tiểu học 1.Khái niệm phân số trong chương trình toán ở bậc tiểu học 5 a. Cách hình thành khái niệm phân số trong SGK SGK hình thành khái niệm phân số như sau: Chia hình tròn thành 6 phần bằng nhau, tô màu vào 5 phần.
Ta nói: Đã tô màu vào năm phần sáu hình tròn. 5 5 Ta viết: , đọc là năm phần sáu. Ta gọi là phân số. 6 6 5 Phân số có tử số là 5, mẫu số là 6.
6 Mẫu số là số tự nhiên viết dưới dấu gạch ngang. Mẫu số cho biết hình tròn được chia thành 6 phần bằng nhau. Tử số là số tự nhiên viết trên gạch ngang. Tử số cho biết 5 phần bằng nhau đã được tô màu.
SGK giới thiệu khái niệm phân số qua việc chia cái toàn thể thành b phần bằng nhau. Sau đó, lấy a phần trong tổng số b phần đó. Như vậy có được phân số a. Cách trình bày này phù hợp với cách được đề cập trong các giáo trình b phương pháp dạy học Toán.
Ngoài ra, SGK còn nêu lên cách viết mẫu số, tử số và điều kiện của mẫu số thông qua nhận xét sau: “Mỗi phân số có tử số và mẫu số”. Tử số là số tự nhiên viết trên gạch ngang. Mẫu số là số tự nhiên khác 0 viết dưới gạch ngang”. Chúng ta thấy xuất hiện ở đây một quy tắc (R1) của hợp đồng didactic: Khi tính toán với các phân số, HS không có trách nhiệm kiểm tra mẫu số khác 0, nhưng HS có nhiệm vụ phải đưa ra một kết quả theo yêu cầu của bài toán.
Có lẽ cũng vì ảnh hưởng của hợp đồng này mà SG 2006 đưa ra chú ý như sau: “GV chỉ nên cho HS nhận biết phân số có tử số và mẫu số đều là số tự nhiên, mẫu số phải khác không. Chưa nên giải thích gì thêm”. Ngoài ra, SGK còn tiếp cận phân số như là kết quả của phép chia của hai số tự nhiên mà số chia khác 0 thông qua bài “PHÂN SỐ VÀ PHÉP CHIA SỐ TỰ NHIÊN”: “Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 em. Hỏi mỗi em được bao nhiêu phần của cái bánh”.
6 3 SGK trình bày: 3 ÷ 4 =. 4 Đến đây, ta thấy được cách giới thiệu phân số có sự phối hợp của 2 cách mà đã được đề cập trước đó: xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhu cầu của nội bộ toán học. Nhu cầu thực tế ở chỗ: SGK đưa ra tình huống như trên có từ thực tiễn cuộc sống. Đó là kết quả của những phép chia không hết.
Chứng tở, trong thực tế có những tình huống cho phép làm nảy sinh khái niệm số mới – phân số. Nhu cầu nội bộ toán học ở chỗ: Khái niệm phân số ra đời cho phép thực hiện mọi phép chia thông qua nhận xét sau trong SGK: “Thương của phép chia số tự nhiên cho số tự nhiên (khác 0) có thể viết thành một phân số, tử số là số bị chia và mẫu số là số chia”. Ngầm ẩn sau đó, phân số ra đời còn có một ý nghĩa khác. Nó cho phép mọi phương trình đại số dạng a × x =b luôn có nghiệm.
Thêm ào đó, nhận xét này cho chúng ta thấy một quy tắc (R2) của hợp đồng didactic: Có thể coi dấu gạch ngang của phân số như dấu chỉ phép chia (:). Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên mối quan hệ của một phần tử của tập N với tập số Q*: “Mọi số tự nhiên có thể viết thành một phân số có tử số là số tự nhiên đó à có mẫu số bằng 1”. Mối quan hệ sẽ tỏ ra rất hữu dụng khi thực hiện các phép tính sau này. - Tiếp đó, cần dạy HS tính chất cơ bản của phân số, SGK trình bày chủ đề: phân số bằng nhau.
Kiến thức này rất cần thiết cho việc học quy đồng mẫu số các phân số, so sánh hai phân số, làm tính ới các phân số. Phân số bằng nhau được tác giả giới thiệu qua mô hình trực quan: - Chia hai băng giấy bằng nhau. Băng giấy thứ nhất được chia thành 4 phần, lấy 3 phần. Băng giấy thứ 2 được chia thành 8 phần, lấy 6 phần.
7 3 6 3× 2 6 6 ÷ 2 3 3 6 Ta được = , với nhận xét rằng: = ; =. Rút ra kết luận: =. 4 8 4× 2 8 8 ÷ 2 4 4 8 Và SGK cũng giới thiệu nhận xét: “Nếu nhân hay chia tử số à mẫu số của một phân số với cùng một số tự nhiên khác 0 thì ta được phân số bằng phân số đó”. Kết luận này cho HS một quy tắc (R3) ngầm ẩn của hợp đồng didactic: Để tìm một phân số bằng một phân số đã cho, có thể nhân hay chia tử số à mẫu số của một phân số đó với cùng một số tự nhiên khác 0.
Điều này được thấy rõ qua việc phân bố bài tập trong SGK. Có tới 3 bài tập gồm nhiều câu có liên quan đến kết luận trên.