CHƯƠNG 1 XU HƯỚNG HỘI TỤ CỦA MẠNG VIỄN THÔNG 1. Xu hướng hội tụ các dịch vụ Viễn thông Về góc độ quản lý Nhà nước, xuất phát từ định hướng phát triển theo xu thế hội tụ năm 2007, Bộ Bưu chính Viễn thông, nay là Bộ Thông tin Truyền thông, đã mở rộng phạm vi quản lý nhà nước theo xu hướng hội tụ viễn thông - CNTT - phát thanh - truyền hình. Xu thế này là hệ quả của việc gia nhập WTO, phát triển theo xu hướng phát triển của thế giới nhằm thực hiện theo đúng cam kết tham gia của VN với tổ chức này. Nhà nước đã đóng vai trò định hướng, giám sát hoạt động của DN, không can thiệp quá sâu vào thị trường cũng như hoạt động của DN.
Đồng thời, để nhanh chóng hội nhập lĩnh vực viễn thông thời WTO, Bộ đã và đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý, các quy định chuyên ngành, các chính sách cụ thể như: quy hoạch và cấp phép các dịch vụ 3G, WiMAX, tiêu chuẩn kỹ thuật, dịch vụ. nhằm phát huy tối đa hiệu quả của công nghệ và dịch vụ mới, khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư phát triển và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia. Mục tiêu của quản lý nhà nước về ngành là đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước - doanh nghiệp và người sử dụng dịch vụ; đồng thời giảm khoảng cách số giữa nông thôn và thành thị. Nhận thức xu hướng hội tụ là một xu hướng tất yếu và sống còn trong sự phát triển của ngành viễn thông và công nghệ thông tin, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đã không ngừng đi tắt, đón đầu xu hướng phát triển này với những công nghệ mới.
Điển hình phải kể đến các doanh nghiệp lớn của Việt Nam như VNPT, VTV, VTC, Viettel…Với vai trò là tập đoàn kinh tế chủ lực của quốc gia về VT-CNTT, VNPT sở hữu một hạ tầng viễn thông được đầu tư hiện đại, cho phép phát triển và đã thành công với rất nhiều các dịch vụ viễn thông theo xu thế hội tụ như: phát hình lưu động; truyền hình hội nghị; IPTV; các dịch vụ I-VPN, MegaFun, E-Learning; các dịch vụ giá trị gia tăng, mạng xã hội trực tuyến “Cổng thông tin điện tử y tế” “Chung tay vì sức khoẻ cộng đồng”… 1. IPTV đang dần trở thành xu thế mới Tại mỗi gia đình, toàn bộ các dịch vụ truyền thông giải trí, liên lạc, tự động hoá ngôi nhà,… được kiểm soát thông qua màn hình TV với một cổng truyền thông gia đình ( Home Gateway). Đó là kỳ vọng của Chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước về CNTT và Truyền thông giai đoạn 2006 – 2010. Một phần của Chương trình này là Đề tài KC.14/06-10 do Mekong Media và Công ty VDC phối hợp thực hiện với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 mục tiêu đề xuất một mô hình khung tham chiếu chung (Reference Framework) về Open IPTV và hạ tầng kỹ thuật tích hợp đa dịch vụ truyền thông trên nền IP (Multiplay) cho các nhà cung cấp hạ tầng và dịch vụ viễn thông - truyền hình tại Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của số lượng thuê bao Internet băng rộng, Truyền hình tương tác và IPTV đã và đang dần trở thành một xu thế. Các nhà cung cấp dịch vụ IPTV ở Việt Nam hiện nay là FPT (Bắt đầu kinh doanh từ cuối Quý 1/ 2008), VTC (Triển khai từ cuối Quý 2/2009), VASC (Dự kiến triển khai từ 9/2009) và VDC (đang triển khai thử nghiệm tại một số thành phố lớn). Tuy nhiên, cũng như tình hình chung ở nhiều nơi trên thế giới, việc phát triển các mạng dịch vụ IPTV ở Việt Nam tương đối độc lập, thường chỉ giới hạn trong nội mạng, chưa thực sự định hình về tính tiêu chuẩn hoá cũng như về mô hình tổ chức triển khai dịch vụ ở quy mô lớn (liên kết mạng, liên thông dịch vụ,… trên đa dạng nền tảng mạng).1: Mô hình mạng IPTV LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 IPTV là dịch vụ truyền hình số trên giao thức Internet (Internet Protocol Television). Vì dùng chung giao thức Internet, IPTV mang các đặc tính của Internet, với khả năng hội tụ, tương tác và cá thể hoá.
Các dịch vụ IPTV cho phép các dịch vụ viễn thông và dịch vụ truyền hình hội tụ lại trên một hạ tầng truyền dẫn duy nhất. Do vậy, ngoài dịch vụ truyền hình, mạng IPTV có thể tích hợp nhiều dịch vụ đặc thù của mạng viễn thông như truyền tải dữ liệu băng rộng, Internet, điện thoại,…. và cũng có thể tích hợp cả các dịch vụ di động. Sự kết hợp Viễn thông – Truyền hình này còn cho phép hình thành các dịch vụ mới như truyền hình theo yêu cầu, điện thoại truyền hình … Không thụ động như truyền hình truyền thống, IPTV cho phép người dùng đặt lịch xem phim, xem truyền hình theo yêu cầu, không lệ thuộc vào giờ phát sóng, và thậm chí tham gia vào các chương trình truyền hình trực tuyến.
Do đó nó thể hiện rõ tính tương tác cao. Đồng thời, nhờ khả năng tương tác những người dùng có thể đăng nhập hệ thống dịch vụ với các tài khoản khác nhau vào các không gian giải trí trực tuyến khác nhau và có thể tự do tuỳ biến giao diện khiến IPTV có khả năng cá thể hóa. Với IPTV, khán giả có thể tuỳ ý yêu cầu, lựa chọn các nội dung muốn xem mà không lệ thuộc vào giờ phát sóng, với âm thanh, hình ảnh chất lượng cao, đồng thời có thể cung cấp một cách không giới hạn các dịch vụ tương tác qua truyền hình như chăm sóc sức khoẻ tại nhà, học tập từ xa, mua sắm trực tuyến, giao dịch ngân hàng tại nhà,. Đây thực sự là một cuộc cách mạng về hạ tầng truyền thông - truyền hình, cho phép cung cấp các dịch vụ truyền hình kỹ thuật số hai chiều trên các hạ tầng mạng IP băng rộng như ADSL, FTTH, HFC, 3G, Wimax….
Việc hội tụ đa dịch vụ truyền thông trên một hạ tầng truyền dẫn duy nhất này được gọi là Multiplay. Những ưu điểm nổi bật kể trên khiến IPTV đã và đang dần trở thành một xu thế mới. Bài toán về hiệu quả Theo số liệu nghiên cứu của Cissco, dự kiến đến năm 2013, doanh thu video trực tuyến là 31 tỷ đô la so với 2.1 tỷ đô la năm 2007 (ABI Research); Cũng đến năm 2013, có 1 tỷ người dùng video trực tuyến từ con số 295 triệu người năm 2007 (ABI Research);Các luồng VOD sẽ vượt con số 7 tỷ vào năm 2012, tăng 6 lần so với 2007; 55% số TV số sử dụng tại gia đình sẽ là HDTV vào năm 2012, tăng từ con số 34% vào năm 2007. Internet Video làm gia tăng băng thông với tỷ lệ tăng trưởng gộp hàng năm (CAGR) là 41%.
Tới 2012, 90% lưu lượng Internet sẽ là video. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Live TV, VoD phía người sử dụng Nhu cầu và tốc độ phát triển của loại hình dịch vụ tích hợp viễn thông – truyền hình được dự đoán khá khả quan. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất được đặt ra hiện nay là làm thế nào để có thể triển khai IPTV ở quy mô lớn với chi phí thấp và phù hợp với những điều kiện đặc thù ở Việt Nam. Do yêu cầu khắt khe của một mạng truyền hình chất lượng cao, các mạng dịch vụ IPTV thường phải là các mạng cam kết chất lượng theo mô hình cung cấp từ- đầu- cuối-đến-đầu-cuối (end-to-end).
Bên cạnh đó, cùng với nhiều nguyên nhân từ bài toán kinh tế cục bộ, nên các giải pháp IPTV hiện nay thường có xu thế đóng kín với các công nghệ độc quyền, để có thể tối đa hoá lợi nhuận với đầu tư tối thiểu mà không phải quan tâm nhiều đến các tham số phức tạp của bài toán chung. Tính cục bộ trong giải pháp và hiện trạng phân tán về tiêu chuẩn trên từng mạng dịch vụ riêng biệt (mạng đóng) dẫn đến hạn chế khả năng phát triển thuê bao (giới hạn trong nội mạng) và tăng chi phí cho thiết bị đầu cuối cũng như tăng chi phí phát triển thuê bao mỗi khi kết nối, mở rộng và khó khăn cho việc phối hợp chia sẻ dịch vụ giữa các nhà cung cấp do bị lệ thuộc vào các công nghệ độc quyền. Việc thiếu sự thống nhất các tiêu chuẩn tham chiếu chung cũng dẫn đến những hạn chế trong khả năng kết nối liên mạng dịch vụ, gây nhiều bất tiện cho người sử dụng, hạ tầng đầu tư chồng chéo gây nhiều lãng phí cho xã hội. Bên cạnh đó, việc tăng trưởng tối ưu lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến bài toán tổng thể sẽ nhanh chóng tạo ra các mâu thuẫn và xung đột lợi ích với người tiêu dùng, đồng thời gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý nhà nước.
Về lâu dài, chính các nhà cung cấp dịch vụ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn khi thị trường chỉ bó hẹp trong số thuê bao hiện có, với các dịch vụ tự phát triển hiện có. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3: Mô hình triển khai Home Media Công việc thiết lập các khung tham chiếu tiêu chuẩn chung cho một địa bàn rộng lớn ở tầm quốc gia và khu vực thông thường sẽ vượt ra ngoài phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp đơn lẻ, mà thuộc về phạm vi của các cơ quan quản lý nhà nước, với những hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của các dự án như KC.14/06-10 cùng sự tư vấn chặt chẽ của của các liên minh công nghệ lớn và sự phối hợp của nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông - truyền hình trên toàn quốc. Việc thống nhất các mô hình triển khai với một khung tham chiếu chung cho phép các mạng dịch vụ có thể liên thông (roaming), làm giảm giá thành và nâng cao tiện nghi cho người tiêu dùng khi đăng ký và sử dụng dịch vụ, đồng thời cũng góp phần hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về kiểm soát và nâng cao chất lượng dịch vụ. Một mô hình được đưa ra trong đề án KC.14/06-10 tạo ra một hướng đi cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông truyền hình trong việc phát triển dịch vụ mới IP TV.
Tôi xin trình bày cắn tăt đề án đó như sau: 1. Giải pháp từ Đề án KC.14/06-10 Xuất phát từ việc nghiên cứu, phân tích các yêu cầu của người sử dụng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, và của hoạt động quản lý nhà nước, KC.14/06-10 đề xuất 2 khung tham chiếu chính: HomeMedia® Framework: Khung tham chiếu cục bộ cho thiết lập một hạ tầng mạng tích hợp đa dịch vụ truyền thông tại một khu đô thị hay cụm dân cư.