Tổng quan luận án

Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa ở chó là một trong những vấn đề sức khỏe động vật phổ biến, gây tổn thất lớn cho sự phát triển của đàn thú nuôi và tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm sang người (Robertson et al., 2000; Robertson and Thompson, 2002). Trong đó, các loài giun tròn như giun móc (Ancylostoma spp.), giun đũa (Toxocara canis), giun tóc (Trichocephalus vulpis) và giun xoăn thực quản (Spirocerca lupi) chiếm tỷ lệ lây nhiễm cao. Tác giả Sally Gardiner (2006) ghi nhận một cá thể giun móc Ancylostoma caninum có thể hút 0,8 ml máu mỗi ngày; một cá thể chó nhiễm 100 giun móc có thể mất đến 25% lượng máu của cơ thể. Tình trạng nhiễm giun làm suy nhược cơ thể thú cưng, viêm ruột xuất huyết, giảm khả năng sinh sản và có thể dẫn đến tử vong do kiệt sức (Tô Du và Xuân Giao, 2006). Ngoài ra, các ấu trùng giun móc (A. caninum, A. ceylanicum, A. braziliense) và giun đũa (T. canis) có khả năng lây truyền qua da hoặc đường tiêu hóa sang người, gây hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng và dưới da (Nguyễn Văn Đề và Phạm Văn Khuê, 2009; Trần Trọng Dương, 2014; Đỗ Trung Dũng và ctv., 2014).

Tại Việt Nam, nhiều công trình trước đây đã khảo sát dịch tễ học giun sán đường tiêu hóa ở chó tại các tỉnh phía Bắc, miền Trung hoặc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (Trịnh Văn Thịnh, 1963; Đỗ Hài, 1972; Phạm Sỹ Lăng, 1990; Lê Hữu Khương, 1998). Tuy nhiên, các dữ liệu về đặc điểm sinh học phân tử nhằm định danh chính xác các loài giun tròn, phân tích phả hệ di truyền, theo dõi chi tiết vòng đời thực nghiệm của A. caninum và nghiên cứu biến đổi bệnh lý học - huyết học tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện.

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Chúc, chuyên ngành Bệnh lý học và Chữa bệnh vật nuôi (Mã ngành: 62 64 01 02), thực hiện tại Trường Đại học Cần Thơ dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Diên, giải quyết các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định một số đặc điểm dịch tễ và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trên chó tại các tỉnh ĐBSCL.
  2. Xác định một số đặc điểm sinh học của giun móc Ancylostoma caninum và bệnh lý do A. caninum gây ra ở chó.
  3. Đề xuất biện pháp tẩy trừ bệnh giun móc, giun đũa trên chó tại các tỉnh ĐBSCL.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn chó nuôi và các loài giun tròn ký sinh trong đường tiêu hóa của chó.
  • Phạm vi không gian: 6 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Sóc Trăng, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập mẫu và khảo sát thực địa từ năm 2014 đến năm 2018; xử lý số liệu, phân tích sinh học phân tử, thực nghiệm bệnh lý và hoàn thành năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về thành phần loài, đặc điểm dịch tễ học, phân loại học và các kỹ thuật chẩn đoán giun tròn đường tiêu hóa ở chó:

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

  • Craig and Macpherson (2000) ghi nhận giun tròn đường ruột ở chó, đặc biệt là T. canis và Ancylostoma spp., có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng tại các quốc gia đang phát triển.
  • Traub et al. (2004) áp dụng kỹ thuật PCR-RFLP phân biệt các loài Ancylostoma spp. từ trứng trong phân chó tại Assam, Ấn Độ, phát hiện 24% nhiễm A. braziliense và 38% nhiễm ghép giữa A. caninum và A. braziliense.
  • E Silva et al. (2006) tại Brazil đã sử dụng vùng ITS của rDNA và 4 enzyme giới hạn để phân biệt 3 loài Ancylostoma (A. caninum, A. braziliense, A. tubaeforme), trong đó enzyme HinfI cho mô hình phân cắt rõ nét nhất.
  • Ngui et al. (2012) tại Malaysia ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun móc ở người là 9,1% và ở chó mèo là 61,9%; phân tích đa biến chỉ ra các yếu tố nguy cơ gồm không có nhà vệ sinh hợp chuẩn (OR=3,5), đi chân đất (OR=5,6) và tiếp xúc gần gũi động vật (OR=12,9). Tác giả phát hiện 46,0% chó mèo nhiễm A. ceylanicum, 52,0% nhiễm A. caninum và 2,0% nhiễm A. braziliense.
  • Traub et al. (2013) khẳng định A. ceylanicum là loài giun móc phổ biến thứ hai lây nhiễm cho người ở châu Á (chiếm 6% - 23%).
  • Inpankaew et al. (2014) khảo sát tại Campuchia phát hiện 57% dân số nhiễm giun móc, trong đó A. ceylanicum chiếm 52%; trên chó, A. ceylanicum chiếm tới 90%. Phân tích gen cox-1 cho thấy sự tồn tại của hai nhóm chủng: nhóm đặc hiệu trên người và nhóm pha trộn giữa người và động vật.
  • Torres-Chablé et al. (2015) khảo sát 302 chó nuôi tại Tabasco, Mexico, phát hiện tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa là 26,50%, trong đó A. caninum chiếm 15,9%.
  • Pumdonming et al. (2016) tại miền Bắc Thái Lan ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun sán ở chó là 40,10%, trong đó A. ceylanicum chiếm 82,10% tổng số ca nhiễm giun móc.
  • Mulinge et al. (2019) kiểm tra 1.621 mẫu phân chó tại Kenya bằng PCR-RFLP vùng ITS1, ITS2 và RNA ribosome, ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun móc là 30,23%; vùng mưa nhiều có tỷ lệ nhiễm cao hơn vùng khô hạn.
  • Wongwigkan et al. (2020) nghiên cứu chó nuôi thả tại các chùa ở Bangkok (Thái Lan) ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun móc 6,20%, trong đó A. ceylanicum chiếm 67,74% và A. caninum chiếm 32,26%.
  • Paul and Rolf (2020) tổng hợp dữ liệu tại châu Âu (1994-2019), ghi nhận tỷ lệ nhiễm T. canis trung bình ở chó là 14,60% (chó non dưới 6 tháng tuổi đạt 41,20%). Jenkins (2020) phân tích tình hình nhiễm Toxocara spp. tại Canada; Chang et al. (2020) nghiên cứu hình thái và phân tử A. ceylanicum tại Campuchia; Eslahi et al. (2020) phân tích tổng hợp tại Iran ghi nhận tỷ lệ nhiễm Toxocara ở chó là 24,2%.

Tình hình nghiên cứu trong nước

  • Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) xác định chó ở Việt Nam nhiễm 26 loài giun sán, với A. caninum chiếm tỷ lệ cao nhất (75,87%). Trịnh Văn Thịnh (1978) ghi nhận 11 loài giun tròn.
  • Đỗ Hài (1970-1972) theo dõi chó săn và chó mẹ, ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun móc đạt 100% ở chó sau cai sữa và kéo dài suốt đời.
  • Phạm Sỹ Lăng (1990) xét nghiệm 718 mẫu phân và mổ khám 23 chó cảnh, chó nghiệp vụ tại Hà Nội, ghi nhận tỷ lệ nhiễm A. caninum là 74,80%. Phạm Sỹ Lăng và ctv. (1990, 1993) phát hiện 8 loài giun tròn, trong đó T. canis (43,24%) và A. caninum (74,80%) gây tác hại lớn nhất.
  • Phạm Văn Khuê và ctv. (1993, 1995), Ngô Huyền Thúy và ctv. (1994), Ngô Huyền Thúy (1996) khảo sát tại Hà Nội và Hải Phòng, ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun tròn từ 80,70% đến 92,10%, đồng thời thử nghiệm các loại thuốc piperazine, mebendazole và lopatol.
  • Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1998) mổ khám 253 chó và xét nghiệm 753 mẫu phân tại TP. Hồ Chí Minh, xác định tỷ lệ nhiễm giun móc là 90,51% (mổ khám) và 61,62% (xét nghiệm phân). Lê Hữu Khương (2005) định danh 8 loài giun tròn trên 73.757 mẫu vật tại miền Nam.
  • Nguyễn Hữu Hưng và Ôn Hòa Thịnh (2002), Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình (2009), Nguyễn Hữu Hưng và ctv. (2012) khảo sát tại Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long; Bùi Ngọc Thúy Linh (2003) khảo sát T. canis tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Võ Thị Hải Lê và Nguyễn Văn Thọ (2011) tại Thanh Hóa; Nguyễn Quốc Doanh (2009, 2012), Phạm Thị Lan Hương và ctv. (2013), Đỗ Thị Thu Thúy và ctv. (2015), Nguyễn Thị Kim Lan và ctv. (2015), Bùi Khánh Linh và ctv. (2017, 2018), Nguyễn Thị Hoàng Yến và ctv. (2020) đã khảo sát dịch tễ, bệnh lý và thử nghiệm thuốc tẩy trừ giun tròn ở miền Bắc.
  • Nguyễn Hồ Bảo Trân và ctv. (2015) lần đầu tiên phát hiện loài A. ceylanicum ký sinh trên chó tại Vĩnh Long bằng kỹ thuật PCR-RFLP. Nguyễn Văn Đỉnh và ctv. (2015) tại Đắk Lắk xác định 54,3% chó nhiễm đơn A. ceylanicum, 33,0% nhiễm A. caninum và 12,7% nhiễm ghép. Dương Đức Hiếu và ctv. (2016a, 2016b) mô tả vi cấu trúc khoang miệng và giải trình tự gen cox-1 phân biệt A. caninum và A. ceylanicum tại Hà Nội.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung khảo sát quy mô lớn trên 6 địa bàn trọng điểm của ĐBSCL, kết hợp phương pháp mổ khám toàn diện đường tiêu hóa và xét nghiệm phân; ứng dụng kỹ thuật PCR-RFLP và giải trình tự gen (ITS-1, cox-1) để xác lập cấu trúc loài và phân tích phả hệ di truyền; tiến hành gây nhiễm thực nghiệm để theo dõi toàn bộ các giai đoạn vòng đời của A. caninum và xác định các chỉ số bệnh lý vi thể, sinh lý máu; từ đó đánh giá hiệu lực điều trị thực tế của phác đồ thuốc levamisol và pyrantel.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng dựa trên hệ thống phân loại động vật học ký sinh trùng của Schneider (1873), Rudolphi (1808), Chitwood (1933), Looss (1905, 1911) và Skrjabin & Schulz (1940) đối với các họ Ancylostomatidae, Anisakidae, Trichocephalidae và Spiruridae. Phân tích dịch tễ học dựa trên lý thuyết tương tác giữa vật chủ (chó), mầm bệnh (các loài giun tròn), môi trường ngoại cảnh (khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng ĐBSCL) và các tập quán nuôi dưỡng của con người.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nội dung nghiên cứu Quy mô / Phương tiện / Công cụ Phương pháp và kỹ thuật phân tích
Khảo sát dịch tễ học 1.727 mẫu phân và 1.152 mẫu mổ khám tại 6 tỉnh ĐBSCL Phương pháp phù nổi (Fulleborn), sa lắng (sedimentation), đếm trứng EPG; mổ khám toàn diện đường tiêu hóa theo phương pháp Skrjabin.
Định danh hình thái học Kính hiển vi quang học, thước đo vi trường Đo đạc chiều dài, chiều rộng, cấu tạo bao miệng (số lượng răng/phiến cắt), gai giao hợp, túi đuôi của con đực và âm môn con cái.
Định danh sinh học phân tử Máy luân nhiệt PCR, buồng điện di gel agarose, enzyme giới hạn Tách chiết DNA tổng số; khuếch đại gen ITS-1 và cox-1; kỹ thuật PCR-RFLP sử dụng các enzyme cắt giới hạn (BsuN 1 / Hae III, Taq 1, HinfI); giải trình tự nucleotide và xây dựng cây phả hệ bằng phần mềm chuyên dụng (so sánh dữ liệu GenBank).
Nghiên cứu vòng đời thực nghiệm Tủ ấm thí nghiệm, kính hiển vi, chó thí nghiệm Nuôi cấy trứng trong phòng thí nghiệm ở các dải nhiệt độ; theo dõi các giai đoạn phôi bào, ấu trùng L1, L2, L3; gây nhiễm ấu trùng L3 qua đường miệng/da cho chó sạch ký sinh trùng để xác định thời gian thải trứng.
Nghiên cứu bệnh lý học Chó gây nhiễm A. caninum, máy phân tích huyết học tự động Theo dõi triệu chứng lâm sàng; mổ khám ghi nhận bệnh tích đại thể; làm tiêu bản mô bệnh học nhuộm Hematoxylin - Eosin (HE) đánh giá tổn thương vi thể niêm mạc ruột, manh tràng, phổi, hạch; đo đếm chỉ tiêu hồng cầu (RBC), bạch cầu (WBC), huyết sắc tố (Hb), hematocrit (PCV/HCT), MCV, MCH, MCHC.
Thử nghiệm điều trị Chó nhiễm giun tự nhiên và thực nghiệm Thử nghiệm hiệu lực tẩy trừ của Thuốc A (levamisol liều 180 mg/kg thể trọng) và Thuốc B (pyrantel liều 120-140 mg/kg thể trọng) sau 5 đến 10 ngày.

Phương pháp xử lý số liệu

Dữ liệu được thu thập qua phiếu điều tra dịch tễ, xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm chuyên dụng để tính tỷ lệ nhiễm (%), cường độ nhiễm, sai số chuẩn (SE), tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR), khoảng tin cậy 95% (95% CI), kiểm định $\chi^2$, và thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính tương quan giữa số lượng trứng trong 1 gram phân (EPG) và số lượng giun móc cái ký sinh trong ruột.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu giun tròn đường tiêu hóa trên chó tại vùng ĐBSCL. Tác giả nêu rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu phân loại phân tử, vòng đời sinh học và biến đổi bệnh lý của A. caninum. Về ý nghĩa thực tiễn, luận án cung cấp căn cứ khoa học giúp cơ quan thú y và người nuôi chó xây dựng lịch trình kiểm soát ký sinh trùng, hạn chế nguy cơ lây truyền mầm bệnh sang người. Phần cuối chương tóm tắt 3 đóng góp mới của công trình.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 tổng thuật toàn diện các tài liệu khoa học liên quan đến 10 nội dung chính:

  1. Tình hình nghiên cứu bệnh giun tròn ở chó trên thế giới và trong nước.
  2. Vị trí phân loại của các loài giun móc (Ancylostoma, Uncinaria), giun đũa (Toxocara, Toxascaris), giun tóc (Trichocephalus), giun đầu gai (Gnathostoma) và giun xoăn thực quản (Spirocerca).
  3. Đặc điểm sinh học (hình thái, trứng, ấu trùng, vòng đời phát triển) của các loài giun tròn đường tiêu hóa.
  4. Đặc điểm dịch tễ học: động vật cảm nhiễm, lứa tuổi, thời tiết khí hậu, mùa vụ, giống loài và phương thức chăn nuôi.
  5. Tác hại của giun tròn đối với sức khỏe con người (hội chứng ấu trùng di chuyển).
  6. Một số chỉ tiêu sinh lý máu ở chó và chức năng của máu trong đáp ứng miễn dịch - bệnh lý.
  7. Các phương pháp chẩn đoán giun tròn trên thú sống (xét nghiệm phân) và thú chết (mổ khám).
  8. Các phương pháp xác định loài: từ hình thái học truyền thống đến các chỉ thị sinh học phân tử (vùng ITS-1, ITS-2, gen ty thể cox-1, nad-1).
  9. Các nhóm thuốc tẩy trừ giun tròn ký sinh trên chó (levamisole, pyrantel, mebendazole, fenbendazole, albendazole, ivermectin).
  10. Tình hình phát triển đàn chó tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, địa điểm (6 tỉnh, thành ĐBSCL), vật liệu, hóa chất, sinh phẩm và trang thiết bị nghiên cứu. Tác giả mô tả tường minh quy trình ước lượng dung lượng mẫu điều tra dịch tễ học, kỹ thuật kiểm tra phân phù nổi và sa lắng, quy trình mổ khám giun sán theo Skrjabin, quy trình ly trích DNA, chu kỳ nhiệt của các phản ứng PCR khuếch đại gen ITS-1 và cox-1, quy trình cắt enzyme giới hạn PCR-RFLP (BsuN 1, Taq 1, HinfI), phương pháp giải trình tự và xây dựng cây phả hệ. Chương 3 cũng nêu cụ thể quy trình bố trí thí nghiệm theo dõi vòng đời thực nghiệm của A. caninum, phương pháp gây nhiễm, quy trình lấy mẫu máu kiểm tra huyết học, quy trình làm tiêu bản mô học nhuộm HE và các công thức toán học tính toán thống kê, tỷ suất chênh OR, phương trình hồi quy.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

1. Đặc điểm dịch tễ của giun tròn trên chó tại các tỉnh, thành ĐBSCL

  • Tỷ lệ nhiễm chung: Xét nghiệm 1.727 mẫu phân cho thấy tỷ lệ nhiễm giun tròn trung bình là 62,77%; mổ khám 1.152 chó ghi nhận tỷ lệ nhiễm là 71,70%.
  • Thành phần loài: Xác định 8 loài giun tròn thuộc 6 giống ký sinh ở đường tiêu hóa chó:
    1. Ancylostoma caninum (chiếm tỷ lệ nhiễm cao nhất: 69,97% qua mổ khám)
    2. Ancylostoma ceylanicum
    3. Ancylostoma braziliense
    4. Uncinaria stenocephala
    5. Toxocara canis
    6. Toxascaris leonina
    7. Trichocephalus vulpis
    8. Spirocerca lupi
Yếu tố dịch tễ học Phân nhóm khảo sát Tỷ lệ nhiễm (%)
Lứa tuổi 1 - 12 tháng tuổi 66,48%
13 - 24 tháng tuổi 62,33%
> 24 tháng tuổi 55,00%
Nhóm giống Chó nội và chó lai 72,59%
Chó ngoại 51,20%
Phương thức nuôi Thả rông 78,06%
Nuôi nhốt 44,54%
Mùa vụ Mùa mưa 74,30%
Mùa nắng 52,12%
  • Phương thức chăm sóc: Chó được tắm chải vệ sinh thường xuyên và được chủ nuôi định kỳ tẩy giun có tỷ lệ nhiễm thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm không được chăm sóc vệ sinh.
  • Tương quan số trứng và số giun: Tác giả thiết lập được phương trình hồi quy tuyến tính biểu diễn mối tương quan giữa số lượng trứng giun móc A. caninum trong 1 gram phân (X) và tổng số giun móc cái ký sinh trong ruột non của chó (Y): $$Y = 11,005X$$

2. Định loài bằng hình thái học và sinh học phân tử

  • Hình thái học: Mô tả chi tiết kích thước thân, cấu trúc 3 cặp răng sắc nhọn ở bờ bụng miệng A. caninum, 1 cặp răng ở A. ceylanicum, 1 cặp phiến cắt ở A. braziliense, và 2 đôi răng hình bán nguyệt ở U. stenocephala.
  • Sinh học phân tử:
    • Kỹ thuật PCR-RFLP và giải trình tự gen ITS-1, cox-1 đã xác định rõ ràng 5 loài: A. caninum, A. ceylanicum, A. braziliense, T. canis, S. lupi.
    • Phân tích cây phả hệ (Phylogenetic tree):
      • Chủng A. caninum tại ĐBSCL có quan hệ di truyền gần gũi nhất với các chủng A. caninum tại Trung Quốc (mã số GenBank: KJ840827) và vùng hạ lưu sông Mekong (LC177194).
      • Chủng A. ceylanicum tại ĐBSCL nằm cùng nhánh phả hệ và có quan hệ di truyền gần gũi với các chủng A. ceylanicum phân lập từ người tại Malaysia và Thái Lan.
      • Trình tự gen của loài S. lupi và T. canis tại ĐBSCL có độ tương đồng nucleotide lần lượt là 97,2% và 99,0% - 100% so với các chuỗi tham chiếu trên GenBank.

3. Vòng đời của giun móc Ancylostoma caninum

  • Nuôi cấy trong phòng thí nghiệm ghi nhận trứng thải ra ngoài phân chia thành 8 phôi bào, phát triển thành ấu trùng L1, lột xác thành ấu trùng L2 và đạt giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm L3.
  • Gây nhiễm thực nghiệm trên chó sạch ký sinh trùng xác định thời gian hoàn thành toàn bộ vòng đời (từ khi ấu trùng L3 xâm nhập đến khi giun trưởng thành đẻ trứng xuất hiện trong phân) là 27,7 ngày.

4. Bệnh lý học ở chó nhiễm Ancylostoma caninum

  • Triệu chứng lâm sàng: Chó gầy ốm, chậm lớn, lông xù xơ xác, niêm mạc nhợt nhạt, nôn mửa, tiêu chảy phân màu nâu đen hoặc có máu tươi lẫn chất nhầy.
  • Bệnh tích đại thể: Niêm mạc ruột non sung huyết, xuất huyết lan tràn, thành ruột non bị bong tróc lẫn máu và dịch ruột; xuất huyết manh tràng; xuất huyết phổi; các hạch bạch huyết mạc treo ruột sưng to và phù nề.
  • Bệnh tích vi thể: Các tế bào biểu mô niêm mạc ruột non bị bong tróc diện rộng, nhung mao ruột bị đứt nát, thâm nhiễm dày đặc tế bào viêm, đặc biệt là sự gia tăng mạnh mẽ của bạch cầu ái toan (eosinophil) tại các ổ viêm.
  • Biến đổi chỉ số huyết học: So với chó khỏe mạnh không nhiễm bệnh, chó nhiễm A. caninum có:
    • Số lượng hồng cầu (RBC), hàm lượng huyết sắc tố (Hb) và tỷ khối hồng cầu (PCV/HCT) giảm rõ rệt (biểu hiện thiếu máu nhược sắc).
    • Số lượng bạch cầu tổng số (WBC) tăng cao, phản ánh đáp ứng viêm và phản ứng miễn dịch dị ứng do ký sinh trùng.

5. Thử nghiệm hiệu lực thuốc tẩy trừ

Thực nghiệm điều trị trên chó nhiễm giun móc và giun đũa cho thấy:

  • Thuốc B (pyrantel) ở mức liều 120 - 140 mg/kg thể trọng đạt hiệu quả tẩy trừ cao đối với giun móc và giun đũa sau 5 - 10 ngày sử dụng.
  • Thuốc A (levamisol) ở mức liều 180 mg/kg thể trọng đạt hiệu lực cao trong việc làm sạch trứng và tống thải giun móc, giun đũa ra khỏi đường tiêu hóa sau 5 - 10 ngày điều trị.

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Tổng hợp 5 kết luận cốt lõi về dịch tễ học, thành phần loài, phân tích phân tử, vòng đời 27,7 ngày, bệnh lý học và phác đồ điều trị. Đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho công tác kiểm soát thú y vùng ĐBSCL.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Dữ liệu dịch tễ học toàn diện: Cung cấp bộ dẫn liệu có hệ thống về tỷ lệ nhiễm (62,77% qua xét nghiệm phân, 71,70% qua mổ khám), cường độ nhiễm và các yếu tố nguy cơ (lứa tuổi, nhóm giống, phương thức nuôi, mùa vụ, điều kiện vệ sinh) đối với 8 loài giun tròn đường tiêu hóa trên đàn chó tại 6 tỉnh, thành vùng ĐBSCL.
  2. Định danh phân tử và vị trí phả hệ di truyền: Ứng dụng thành công kỹ thuật PCR-RFLP và giải trình tự các đoạn gen ITS-1, cox-1 để xác định chính xác các loài giun tròn ký sinh, chứng minh mối quan hệ di truyền gần gũi của chủng A. caninum ĐBSCL với các chủng ở Trung Quốc (KJ840827) và hạ lưu sông Mekong (LC177194); đồng thời chứng minh chủng A. ceylanicum tại ĐBSCL có quan hệ di truyền chặt chẽ với các chủng A. ceylanicum lây nhiễm trên người tại Malaysia và Thái Lan.
  3. Dữ liệu sinh học và bệnh lý học thực nghiệm: Xác định chính xác thời gian hoàn thành chu kỳ vòng đời của A. caninum là 27,7 ngày; mô tả đầy đủ các tổn thương đại thể, vi thể (đứt nát nhung mao ruột, tăng sinh bạch cầu ái toan) và sự suy giảm các chỉ tiêu hồng cầu, Hb, PCV kết hợp tăng bạch cầu do A. caninum gây ra.
  4. Mô hình toán học dịch tễ: Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính $Y = 11,005X$ cho phép ước lượng số lượng giun móc cái trong cơ thể chó dựa trên số lượng trứng giun đếm được trong 1 gram phân (EPG).

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý thú y và y tế dự phòng địa phương đánh giá nguy cơ lây truyền bệnh ký sinh trùng từ chó sang người (Zoonosis), đặc biệt là loài A. ceylanicum và T. canis.
  • Đề xuất phác đồ điều trị hiệu quả sử dụng pyrantel (liều 120 - 140 mg/kg thể trọng) hoặc levamisol (liều 180 mg/kg thể trọng) định kỳ để tẩy trừ giun móc và giun đũa cho chó.
  • Khuyến cáo người nuôi chuyển đổi phương thức nuôi từ thả rông sang nuôi nhốt/bán nhốt, thực hiện tắm chải vệ sinh gia súc định kỳ, thu gom phân hợp vệ sinh nhằm cắt đứt nguồn lây nhiễm ấu trùng ra môi trường sống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu tập trung tại 6 tỉnh, thành đại diện thuộc ĐBSCL trong giai đoạn 2014-2018; các thực nghiệm bệnh lý học chuyên sâu và theo dõi vòng đời hoàn chỉnh mới chỉ thực hiện trên loài giun móc ưu thế Ancylostoma caninum.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ phân tử trên toàn bộ 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL.
    • Nghiên cứu sâu hơn về vòng đời thực nghiệm và bệnh lý học của các loài có tiềm năng truyền lây cao sang người như Ancylostoma ceylanicum và Spirocerca lupi.
    • Khảo sát sự xuất hiện của các đột biến kháng thuốc tẩy giun trên các dòng giun tròn đường tiêu hóa tại địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Thú y / Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp mổ khám Skrjabin, quy trình sinh học phân tử PCR-RFLP định danh ký sinh trùng, quy trình thiết kế thí nghiệm theo dõi vòng đời và mô bệnh học thú y.
  • Giảng viên và nhà khoa học: Cung cấp số liệu thực chứng để cập nhật vào giáo trình Bệnh lý học thú y, Ký sinh trùng thú y và Dịch tễ học thú y phục vụ công tác giảng dạy đại học và sau đại học.
  • Bác sĩ thú y thực hành và phòng khám thú cưng: Cung cấp căn cứ lâm sàng để chẩn đoán phân biệt hội chứng tiêu chảy ra máu, thiếu máu do giun móc với các bệnh truyền nhiễm (Parvovirus, Care), đồng thời ứng dụng phác đồ tẩy trừ giun bằng pyrantel hoặc levamisole đúng liều lượng.
  • Cán bộ y tế dự phòng và kiểm soát dịch bệnh truyền lây: Nắm bắt tỷ lệ lưu hành của A. ceylanicum và T. canis trên đàn chó địa phương để xây dựng các khuyến cáo phòng ngừa hội chứng ấu trùng di chuyển ở người trong cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã phát hiện tổng cộng bao nhiêu loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa chó tại ĐBSCL và loài nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Luận án phát hiện 8 loài giun tròn thuộc 6 giống gồm: Ancylostoma caninum, Ancylostoma ceylanicum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala, Toxocara canis, Toxascaris leonina, Trichocephalus vulpis và Spirocerca lupi. Trong đó, loài giun móc Ancylostoma caninum chiếm tỷ lệ nhiễm cao nhất (69,97% qua mổ khám).

2. Kết quả phân tích cây phả hệ di truyền của loài Ancylostoma ceylanicum phát hiện tại ĐBSCL có ý nghĩa gì đối với sức khỏe cộng đồng?
Phân tích trình tự gen cho thấy chủng A. ceylanicum phân lập từ chó tại ĐBSCL có quan hệ di truyền gần gũi với các chủng A. ceylanicum có nguồn gốc lây nhiễm trên người tại Malaysia và Thái Lan. Điều này khẳng định A. ceylanicum tại ĐBSCL là mối nguy cơ truyền lây trực tiếp bệnh giun móc từ chó sang người.

3. Vòng đời của loài giun móc Ancylostoma caninum hoàn thành trong thời gian bao lâu và có phương trình tương quan nào giữa số trứng trong phân với số giun trong ruột?
Thời gian hoàn thành toàn bộ chu kỳ vòng đời của A. caninum trong cơ thể chó thực nghiệm là 27,7 ngày. Mối tương quan giữa số trứng trong 1 gram phân (X) và tổng số giun cái trong ruột non (Y) được xác lập qua phương trình hồi quy tuyến tính: $Y = 11,005X$.

4. Bệnh do Ancylostoma caninum gây ra những biến đổi bệnh lý và chỉ số máu đặc trưng nào trên chó?
Chó nhiễm A. caninum bị xuất huyết niêm mạc ruột non, đứt nát lông nhung ruột, bong tróc biểu mô, tăng sinh bạch cầu ái toan tại ổ viêm; trên máu thể hiện hội chứng thiếu máu rõ rệt (giảm số lượng hồng cầu, giảm hàm lượng huyết sắc tố Hb, giảm hematocrit PCV) và tăng số lượng bạch cầu tổng số.

5. Những loại thuốc và liều lượng nào được luận án thử nghiệm có hiệu quả cao trong tẩy trừ giun móc và giun đũa trên chó?
Luận án xác định hai loại thuốc đạt hiệu lực điều trị cao sau 5 - 10 ngày là Thuốc B (pyrantel) ở liều 120 - 140 mg/kg thể trọng và Thuốc A (levamisol) ở liều 180 mg/kg thể trọng.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Chúc là công trình khoa học chuyên khảo toàn diện về dịch tễ học, đặc điểm phân tử, vòng đời sinh học, bệnh lý học và biện pháp điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa trên đàn chó tại 6 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã xác định 8 loài giun tròn ký sinh với tỷ lệ nhiễm cao (62,77% qua xét nghiệm phân và 71,70% qua mổ khám), trong đó Ancylostoma caninum là loài ưu thế và Ancylostoma ceylanicum có quan hệ di truyền gần gũi với các chủng lây nhiễm trên người ở Đông Nam Á. Kết quả xác lập thời gian vòng đời 27,7 ngày, chứng minh tổn thương mô bệnh học - huyết học của A. caninum và kiểm chứng hiệu lực điều trị của pyrantel và levamisole là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu thú y và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.