ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Rừng che phủ một phần ba diện tích thềm lục địa, thực hiện nhiều chức năng. Hiện nay sinh kế của 1,6 tỷ người trên trái đất phụ thuộc vào rừng. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Cháy rừng là một thảm họa gây thiệt hại về nhiều mặt đối với tài nguyên rừng, môi trường sống và cả tính mạng, tài sản của con người. Ảnh hưởng của cháy rừng không chỉ dừng lại trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến cả khu vực và trên toàn cầu. Trong vài thập kỉ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nắng nóng kéo dài bất thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm họa ngày càng nghiêm trọng. Việt Nam tuy là một nước nhiệt đới, nhưng cháy rừng thường xảy ra.
Trung bình mỗi năm chúng ta bị mất hàng ngàn ha rừng do cháy. Theo báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (Bộ NN - PTNT), trung bình cả năm 2015 tổng diện tích rừng bị cháy là 1889 ha, giảm 53,1% so với năm 2014 [18]. Nguyên nhân chủ yếu là do việc sử dụng lửa vô ý thức của con người cùng với việc chưa có giải pháp quản lý lửa rừng một cách hiệu quả phù hợp với từng địa phương. Xã Thành Long là một xã miền núi thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh hóa, có diện tích tự nhiên 2.554,21 ha rừng và đất lâm nghiệp, có 9,3 ha rừng tự nhiên và 1.563,3 ha rừng trồng.
Vào mùa nắng nóng (tháng 3 - tháng 7) hàng năm là những tháng cao điểm về nguy cơ cháy rừng. Xã Thành Long được xác định là một trong những vùng trọng điểm cháy rừng của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Trước những tác hại của cháy rừng và tầm quan trọng của công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), trong những năm qua, chính quyền các cấp và các chủ rừng trên địa bàn xã Thành Long đã chủ động thực hiện các 1 biện pháp PCCCR. Điều này đã góp phần giảm thiểu cả số vụ cháy rừng cũng như diện tích rừng bị cháy.
Tuy nhiên, công tác PCCCR trong những năm tiếp theo của xã sẽ gặp nhiều khó khăn đó là: Diễn biến thời tiết có chiều hướng phức tạp, các đợt nắng nóng có thể kéo dài, các công trình phòng cháy chưa được xây dựng đồng bộ, tập quán đốt nương và nạn chăn thả gia súc chưa quản lý được. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lý cháy rừng cho địa phương là hết sức cần thiết để giảm thiểu những thiệt hại do cháy rừng gây ra. Để phần nào khắc phục, giải quyết những khó khăn, tồn tại trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương, tôi đã thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý lửa rừng cho xã Thành Long, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa”. 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Trên thế giới nghiên cứu về cháy rừng đã được tiến hành cách đây hơn một trăm năm. Các công trình nghiên cứu về PCCCR trên thế giới bắt đầu vào thế kỉ XX, chủ yếu ở các nước có nền lâm nghiệp phát triển như Mỹ, Nga, Thụy Điển, Pháp , Đức, Trung Quốc… Ở những nước này, việc xác định mức độ nguy hiểm của cháy rừng cho từng vùng đã trở thành một phương thức quản lí cháy rừng không thể thiếu được. Tùy ở mỗi nước, trong giai đoạn cụ thể có những phương pháp và hệ thống dự báo cháy rừng khác nhau. Nghiên cứu về dự báo cháy rừng Ở Mỹ, năm 1914 E.B Show đã tiến hành nghiên cứu và xác định khả năng cháy của rừng thông qua lớp thảm mục rừng, độ khô hạn ngày càng cao khả năng xuất hiện cháy rừng càng dễ dàng.
Tiếp sau đó, nhiều nhà khoa học khác cũng đã nghiên cứu và đưa ra những thang cấp về mức độ nguy hiểm của cháy rừng trên cơ sở quan sát mức độ ẩm ướt của lớp thảm mục rừng và tiến hành thí nghiệm để đánh giá khả năng bắt lửa của nó [5].V Valendic đã thống kê các vụ cháy rừng và xác định được mối quan hệ giữa diện tích rừng bị cháy với số vụ cháy, với 3 chỉ số sau: số ngày không mưa, lượng mưa và tốc độ gió, từ đó ông kết luận: “Cháy rừng bắt nguồn từ những nơi không vệ sinh rừng, rừng gặp khô hạn kéo dài, nguồn vật liệu cháy dẫn được tăng lên và dẫn tới cháy rừng” [5].G Nestorop đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố khí tượng thủy văn và một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến cháy rừng và đề ra phương pháp dự báo cháy rừng theo phương pháp tổng hợp [5]. Ông đưa ra biểu thức toán học để đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng gồm 3 yếu tố: Nhiệt độ lúc 13 giờ trưa, lượng mưa ngày, độ ẩm không khí và đã đi đến kết luận “Nơi nào nhiệt độ càng cao, số ngày không mưa kéo dài và độ ẩm 3 không khí càng thấp thì dẫn đến vật liệu cháy càng khô nên dễ phát sinh nạn cháy rừng” n Công thức: Pi = ti13.di13 i 1 Trong đó: Pi - Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá mức nguy hiểm cháy rừng một ngày nào đó ti13 - Nhiệt độ không khí tại thời điểm 13h (oC) di13 - Độ chênh lệch bão hòa độ ẩm không khí ở thời điểm 13h (mb) n - Số ngày không mưa hoặc có mưa < 3mm kể từ ngày có trận mưa với lượng mưa 3mm Ở Trung Quốc, từ năm 1992 Jude cùng một số nhà khoa học vùng Đông bắc đã nghiên cứu mối quan hệ giữa vật liệu cháy dưới rừng với các yếu tố khí tượng bao gồm: Nhiệt độ, độ ẩm không khí, tốc độ gió, lượng mưa, số ngày mưa và lượng bốc hơi. Qua nghiên cứu cho thấy độ ẩm vật liệu cháy cỡ nhỏ (D < 0.6 cm) có mối quan hệ chặt chẽ nhất với các yếu tố khí tượng. Ngoài ra Yangmei qua nhiều nghiên cứu ở 103 khu vực bị cháy cũng đưa ra phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu bén lửa [8].
Ở Thụy Điển và các nước thuộc bán đảo Scandinavia đã dùng chỉ số Angshrom để dự báo khả năng cháy rừng, nhưng chỉ tiêu này không đề cập đến tốc độ gió và mưa nên không chính xác. Tuy nhiên đây là phương pháp đơn giản dễ tính nên cũng được áp dụng rộng rãi ở Bồ Đào Nha và thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha [7]. Ở Indonexia đã và đang nghiên cứu phương pháp tụ mây để chữa cháy rừng nhưng chưa chắc chắn về mặt khoa học, cũng như kinh phí cho phương pháp này quá đắt do đó phương pháp này đã bị ngưng lại [7]. Ở Đức, Dulop (1904) đã ngiên cứu về sự thay đổi hàm lượng nước của lá khô độ ẩm không khí, làm cơ sở để xác định khả năng bén lửa của lớp thảm khô trong rừng.
4 Nghiên cứu về chọn loài cây có khả năng phòng cháy Ở châu Âu nhưng năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về quản lý lửa rừng ở một số nước như: Mỹ, Đức, Nga… đã bước đầu đưa ra ý kiến xây dựng các đường băng cản lửa, với các đai xanh trên đó trồng các loài cây lá rộng. Ở Đức năm 1922, Voigt đã đề nghị xây dựng băng xanh cản lửa trên đó trồng các loài cây như: Sồi, Hoa mộc… Đến năm 1930, Ở Nga bước đầu nghiên cứu các đai trồng rừng hỗn giao lá rộng và cây lá kim để phòng cháy cho những khu rừng lá kim với các loài như: Sồi, Dẻ… [7]. Ở mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau. Song về cơ bản đề tập trung nghiên cứu đặc tính cháy chủ yếu thông qua điều tra thực bì khu vực sau cháy, xác định bằng thực nghiệm, đốt trực tiếp và phương pháp đánh giá tổng hợp qua các chỉ tiêu liên quan đến đặc tính cháy và khả năng gây trồng.
Ở Trung Quốc, tới nhưng năm 80 vấn đề này càng được chú ý quan tâm và nghiên cứu có chiều sâu hơn, và Trung Quốc đã lựa chọn được hàng chục loài cây có khả năng phòng cháy, trong đó nổi bật là: Vối thuốc, Giổi, Trinh nữ, Sau sau…[6][7]. Nghiên cứu về biện pháp và phương tiện PCCCR Các phương pháp phòng chống cháy rừng chủ yếu hướng vào làm suy giảm các thành phần của tam giác lửa [5]. Giảm nguồn lửa bằng nhiều cách như dọn vật liệu cháy, đào rãnh chặt cây theo dải để cách ly đám cháy với phần rừng còn lại. Đốt trước có điều khiển một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô để giảm khối lượng vật liệu vào mùa khô hạn nhất hoặc ngược lại với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám cháy.
Dùng các chất dập lửa như nước, đất, cát, bột CO2. để làm giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn vật liệu cháy tiếp xúc với oxy trong không khí. 5 Trong những năm gần đây, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển và mức độ quan tâm của con người đối với cháy rừng cũng tăng lên, việc nghiên cứu về các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng phát triển rất mạnh, đặc biệt là phương tiện dự báo và phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy. Các biện pháp đó được mô hình hóa và xây dựng thành những phần mềm làm tăng độ chính xác của công tác dự báo.
Việc ứng dụng công nghệ viễn thông và công nghệ GIS đã cho phép phân tích diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng, chính xác khả năng xuất hiện và phát hiện xớm lửa rừng trên vùng rộng lớn. Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng đễ lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cộng đồng dân cư. Những phương tiện dập lửa trong các đám cháy được nghiên cứu từ cào, cuốc. đến các phương tiện hiện đại như máy phun nước, cưa xăng, máy đào rãnh… Mặc dù, các phương tiện chữa cháy rừng đã và đang được nghiên cứu ở mức cao nhưng thiệt hại do cháy rừng vẫn rất lớn ngay ở cả các nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy hiện đại như Ý, Nga, Mỹ… Trong nhiều trường hợp, việc khống chế các đám cháy vẫn không có hiệu quả.