Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu gom vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã mông hóa huyện kỳ sơn tỉnh hòa bình

Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Mông Hóa, Kỳ Sơn, Hòa Bình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

62
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng công tác thu gom xử lý rác thải tại xã Mông Hóa

Xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đối mặt với những thách thức không nhỏ trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Nghiên cứu từ khóa luận của Nguyễn Hoài Linh (2019) cho thấy một bức tranh tổng thể về hiện trạng môi trường tại địa phương. Lượng rác thải phát sinh ngày càng tăng do sự phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng dân số. Tuy đã có những nỗ lực ban đầu, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan và sức khỏe cộng đồng. Thực trạng rác thải tại Hòa Bình, đặc biệt ở các khu vực nông thôn như Mông Hóa, đòi hỏi một cái nhìn toàn diện và các giải pháp đồng bộ. Theo số liệu thống kê, tổng khối lượng CTRSH của xã là khoảng 4,23 tấn/ngày, một con số đáng báo động đối với một địa phương có quy mô dân số không quá lớn. Sự thiếu đồng bộ trong quy trình xử lý, từ khâu thu gom tại hộ gia đình đến điểm tập kết cuối cùng, đã tạo ra những điểm nóng về ô nhiễm môi trường do rác thải. Vấn đề này không chỉ là trách nhiệm của đơn vị thu gom rác thải mà còn cần sự chung tay của toàn xã hội, bắt đầu từ việc nâng cao ý thức của mỗi người dân. Việc phân tích sâu thực trạng sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất những giải pháp khả thi, góp phần xây dựng một giải pháp môi trường bền vững cho Mông Hóa.

1.1. Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn sinh hoạt

Theo kết quả nghiên cứu, nguồn phát sinh CTRSH tại xã Mông Hóa rất đa dạng, chủ yếu đến từ các hộ gia đình, chợ, cơ sở kinh doanh, trường học và cơ quan hành chính. Đây là nguồn thải chính, tạo ra một lượng rác khổng lồ hàng ngày. Cụ thể, nghiên cứu đã chỉ ra tổng khối lượng CTRSH của toàn xã vào khoảng 4,23 tấn/ngày, tương ứng với lượng phát sinh bình quân là 0,67 kg/người/ngày. Con số này cho thấy mức tiêu thụ và thải bỏ đang ở mức cao tại một khu vực nông thôn. Mặc dù tỷ lệ thu gom đạt khoảng 85%, nhưng 15% còn lại bị vứt bừa bãi ra môi trường hoặc tự xử lý không đúng cách, gây ra nhiều hệ lụy cho công tác vệ sinh môi trường. Các nguồn thải này tạo ra một hỗn hợp rác phức tạp, đòi hỏi các phương pháp quản lý và xử lý phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực.

1.2. Phân tích thành phần rác thải và những tồn tại

Thành phần CTRSH tại Mông Hóa mang đặc trưng của xử lý rác thải nông thôn. Trong đó, rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,3%, bao gồm thức ăn thừa, rau củ quả. Rác khó phân hủy như túi nilon, nhựa, thủy tinh chiếm 22,02% và rác nguy hại chiếm tới 12,6%. Tỷ lệ rác hữu cơ cao là một tiềm năng cho việc tái chế chất thải rắn thành phân compost. Tuy nhiên, một trong những tồn tại lớn nhất hiện nay là tình trạng không thực hiện phân loại rác tại nguồn. Toàn bộ rác thải được thu gom hỗn hợp, gây khó khăn và tốn kém chi phí xử lý rác thải, đồng thời làm giảm hiệu quả của các công nghệ xử lý và tăng gánh nặng cho các bãi chôn lấp hợp vệ sinh.

II. Các thách thức trong quản lý chất thải rắn tại Mông Hóa

Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Mông Hóa đang đối diện với nhiều thách thức mang tính hệ thống. Mặc dù đã có sự vào cuộc của chính quyền địa phương và đơn vị thu gom, hiệu quả tổng thể vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Nghiên cứu chỉ rõ, ngân sách địa phương còn hạn hẹp, dẫn đến việc đầu tư cho hạ tầng và trang thiết bị thu gom còn nhiều hạn chế. Mô hình thu gom rác thải hiện tại vẫn còn thủ công ở nhiều khâu, các điểm tập kết rác tạm thời chưa đảm bảo vệ sinh, thường xuyên gây mùi hôi thối và phát sinh ruồi muỗi. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân chưa cao, thói quen vứt rác bừa bãi ra sông suối, ven đường vẫn còn tồn tại, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải nghiêm trọng. Sự phối hợp giữa chính quyền, đơn vị dịch vụ và cộng đồng chưa thực sự chặt chẽ. Việc thiếu một quy hoạch quản lý chất thải dài hạn và đồng bộ khiến các giải pháp chỉ mang tính tình thế, chưa giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Đây là những rào cản lớn cần được tháo gỡ để cải thiện công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn.

2.1. Bất cập của mô hình thu gom và vận chuyển rác thải

Hiện tại, đơn vị thu gom rác thải tại Mông Hóa là Công ty TNHH ĐTTM Hoàng Long. Mặc dù đã có sự kết hợp giữa phương pháp thủ công (xe đẩy tay) và cơ giới (xe ép rác), quy trình vẫn còn nhiều bất cập. Xe đẩy tay khó tiếp cận các ngõ nhỏ, người dân phải mang rác ra các trục đường chính, gây mất vệ sinh. Các điểm tập kết rác tạm thời thường quá tải, không có mái che, nền không được xử lý chống thấm, dẫn đến tình trạng nước rỉ rác chảy tràn ra môi trường, gây mùi hôi thối và ô nhiễm nguồn nước ngầm. Tần suất thu gom (3 lần/tuần) đôi khi chưa đáp ứng kịp lượng rác phát sinh, đặc biệt vào các dịp lễ, Tết. Những hạn chế này của mô hình thu gom rác thải cần được cải tiến để nâng cao hiệu quả.

2.2. Hạn chế về nhận thức cộng đồng và công tác tuyên truyền

Một trong những thách thức lớn nhất là ý thức của người dân. Nghiên cứu cho thấy, dù đa số người dân nhận thức được tác hại của rác thải, nhưng hành động cụ thể vẫn còn hạn chế. Tình trạng vứt rác không đúng nơi quy định vẫn diễn ra phổ biến. Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường còn hạn hẹp, chưa được thực hiện thường xuyên và thiếu các hình thức hấp dẫn, sáng tạo. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của phân loại rác tại nguồn và giữ gìn vệ sinh chung là yếu tố then chốt nhưng chưa được đầu tư đúng mức. Nếu không có sự thay đổi từ chính ý thức của mỗi cá nhân, mọi giải pháp kỹ thuật hay quản lý đều khó có thể thành công.

III. Cách nâng cao hiệu quả quản lý qua giáo dục và chính sách

Để giải quyết tận gốc vấn đề, việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom rác thải tại xã Mông Hóa cần tập trung vào hai trụ cột chính: giáo dục và chính sách. Đây là những giải pháp nền tảng, có tác động lâu dài và bền vững. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng không chỉ dừng lại ở các khẩu hiệu mà cần được cụ thể hóa thành các chương trình hành động thiết thực. Các chiến dịch truyền thông, các buổi tập huấn về phân loại rác tại nguồn phải được tổ chức định kỳ, nhắm đến nhiều đối tượng từ học sinh, hộ gia đình đến các cơ sở kinh doanh. Song song với đó, cần xây dựng một khung chính sách rõ ràng, có tính răn đe và khuyến khích. Các quy định về xử phạt hành vi xả rác bừa bãi cần được áp dụng nghiêm minh. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ, khen thưởng các cá nhân, tập thể thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường. Sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục và chính sách sẽ tạo ra một động lực kép, thúc đẩy sự thay đổi tích cực trong toàn xã hội, hướng tới một giải pháp môi trường bền vững.

3.1. Xây dựng chương trình giáo dục môi trường trong cộng đồng

Giải pháp hàng đầu là triển khai các chương trình giáo dục sâu rộng. Cần tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo về chủ đề “Chất thải rắn và sức khỏe” cho người dân. Sử dụng các công cụ trực quan như pano, áp phích tại nơi công cộng để tuyên truyền. Đặc biệt, cần lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường, hướng dẫn phân loại rác tại nguồn vào chương trình giảng dạy tại các trường học trên địa bàn xã. Phát động các phong trào như “Chủ nhật xanh”, “Đổi rác tái chế lấy quà” để khuyến khích sự tham gia của toàn dân. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng một cách bài bản sẽ tạo ra sự thay đổi từ gốc rễ, hình thành thói quen văn minh trong xử lý rác thải.

3.2. Hoàn thiện chính sách kinh tế và cơ chế quản lý rác thải

Về mặt chính sách, UBND xã cần phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường Hòa Bình để xây dựng quy chế quản lý CTRSH cụ thể cho địa phương. Cần xem xét lại mức chi phí xử lý rác thải (phí vệ sinh) sao cho hợp lý, đảm bảo đủ nguồn lực cho hoạt động thu gom và xử lý nhưng vẫn phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân. Áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” một cách hiệu quả hơn thông qua các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích các hộ gia đình, cơ sở sản xuất tham gia tái chế chất thải rắn, ví dụ như giảm phí vệ sinh cho các hộ thực hiện tốt việc phân loại rác.

IV. Top giải pháp công nghệ xử lý rác thải nông thôn hiệu quả

Bên cạnh các giải pháp về quản lý và nhận thức, việc áp dụng công nghệ xử lý rác thải phù hợp là yếu tố quyết định đến sự thành công của công tác bảo vệ môi trường tại Mông Hóa. Đối với đặc thù xử lý rác thải nông thôn, nơi có tỷ lệ rác hữu cơ cao, việc lựa chọn công nghệ không chỉ cần hiệu quả về mặt xử lý mà còn phải hợp lý về chi phí đầu tư và vận hành. Các giải pháp công nghệ cần được quy hoạch một cách bài bản, tránh đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả. Dựa trên thành phần rác thải tại địa phương, có thể xem xét kết hợp nhiều công nghệ khác nhau để tối ưu hóa quy trình. Ví dụ, rác hữu cơ có thể được xử lý bằng phương pháp ủ compost, rác khó phân hủy có thể được đưa đến lò đốt rác thải sinh hoạt hoặc tái chế, phần còn lại sẽ được chôn lấp. Việc đầu tư vào một bãi chôn lấp hợp vệ sinh theo đúng tiêu chuẩn là yêu cầu cấp bách để chấm dứt tình trạng ô nhiễm từ các bãi rác tạm. Sự lựa chọn công nghệ đúng đắn sẽ là chìa khóa cho một giải pháp môi trường bền vững.

4.1. Giải pháp ủ phân compost từ rác thải hữu cơ

Với tỷ lệ rác hữu cơ chiếm đến 65,3%, việc áp dụng công nghệ ủ phân compost là một giải pháp cực kỳ tiềm năng. Mô hình này không chỉ giúp giảm thiểu lượng rác phải chôn lấp mà còn tạo ra sản phẩm phân bón có giá trị cho nông nghiệp địa phương. Có thể triển khai mô hình ủ phân tại hộ gia đình (quy mô nhỏ) hoặc xây dựng một nhà máy chế biến phân vi sinh tập trung (quy mô xã). Đây là một hình thức tái chế chất thải rắn hiệu quả, phù hợp với điều kiện của Mông Hóa. Việc này giúp biến rác thải thành tài nguyên, giảm gánh nặng cho môi trường và mang lại lợi ích kinh tế.

4.2. Xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh và lò đốt quy mô nhỏ

Đối với lượng rác không thể tái chế, giải pháp xử lý cuối cùng là chôn lấp và thiêu đốt. Việc cấp thiết là phải đầu tư xây dựng một bãi chôn lấp hợp vệ sinh đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, có lớp lót chống thấm, hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác để ngăn ngừa ô nhiễm đất và nước ngầm. Bên cạnh đó, có thể xem xét đầu tư một lò đốt rác thải sinh hoạt công suất nhỏ, phù hợp với lượng rác phát sinh tại xã. Lò đốt giúp giảm đáng kể thể tích rác cần chôn lấp và có thể thu hồi năng lượng. Tuy nhiên, cần đảm bảo lò đốt có hệ thống xử lý khí thải đạt chuẩn để không gây ô nhiễm không khí.

4.3. Tối ưu hóa mô hình và phương tiện thu gom rác thải

Cần cải tiến mô hình thu gom rác thải hiện tại. Tăng cường xe cơ giới có khả năng tiếp cận các khu vực dân cư sâu trong ngõ, hẻm. Quy hoạch quản lý chất thải cần xác định rõ các điểm tập kết, trạm trung chuyển rác cố định, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và không gây ảnh hưởng đến người dân xung quanh. Trang bị thêm các thùng rác công cộng có nắp đậy, phân chia ngăn cho các loại rác khác nhau để thúc đẩy việc phân loại rác tại nguồn. Đồng thời, cần xây dựng lịch trình thu gom hợp lý hơn, tăng tần suất tại các khu vực có lượng rác phát sinh lớn như chợ, khu kinh doanh.

04/10/2025
Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu gom vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã mông hóa huyện kỳ sơn tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với đô thị hóa nhanh chóng đã tạo nên sức ép nhiều mặt dẫn tới sự suy giảm chất lƣợng môi trƣờng sống và phát triển không bền vững về mặt môi trƣờng. Theo đánh giá của Tổng cục Môi trƣờng, Bộ TN&MT (2012), chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nông thôn phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, nhà kho, chợ, trƣờng học, bệnh viện, cơ quan hành chính…Phần lớn chất thải rắn sinh hoạt là chất hữu cơ dễ phân hủy (có tỷ lệ chiếm tới 65% chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn), còn lại là các loại chất thải khó phân hủy nhƣ túi nilon, thủy tinh.Ƣớc tính lƣợng chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tƣơng đƣơng với 6. Việc phân loại chất thải rắn nông thôn hiện vẫn còn rất nhiều hạn chế. Các chất thải rắn sinh hoạt không đƣợc phân loại tại nguồn, bị vứt bừa bãi ra môi trƣờng.

Một số nơi không quy định bãi tập kết rác, không có nhân viên thu gom rác. Lƣợng rác tồn đọng tại các kênh, mƣơng rất lớn và phổ biến, dẫn đến ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Hiện tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40-55%,mới chỉ có trên 60% số thôn, xã tổ chức thu gom rác định kỳ. Cùng với đó tỉnh Hòa Bình, là đầu nối giữa thủ đô Hà Nội và miền Tây Bắc Việt Nam trong thời gian quađã có sự phát triển mạnh mẽ đầy triển vọng và dân số ngày càng tăng.

Cuộc sống của ngƣời dân đƣợc thay đổi rõ rệt. Tuy vậy, vẫn còn nhiều bất cập nhƣ: cơ sở hạ tầng, kỹ thuật còn yếu, công tác quản lí chƣa sát sao, bảo vệ môi trƣờng chƣa đƣợc chú trọng, bên cạnh đó ý thức giữ gìn vệ sinh môi trƣờng của ngƣời dân còn hạn chế, dẫn đến nhiều vấn đề về môi trƣờng, đặc biệt là vấn đề chất thải rắn. Chất thải rắn sinh hoạt chƣa đƣợc thu gom, vận chuyển hợp lý vẫn còn bị vứt bừa bãi ra đƣờng phố,gây ra mùi khó chịu ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh gây hại cho sức khỏe con ngƣời cũng nhƣ cảnh quan môi trƣờng xung quanh của thị trấn. Ngoài ra, dƣới áp lực gia tăng dân số lƣợng chất thải rắn sinh hoạt tại xã Mông Hóa đang không ngừng tăng lên qua các năm.

Trong khi đó, công tác quản lý của cán bộ xã về môi trƣờng nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng chƣa đem lại hiệu quả cao. Lƣợng chất thải rắn không đƣợc thu gom, xử lý kịp thời sẽ gây tác động xấu tới môi trƣờng cũng nhƣ sức khỏe cộng đồng dân cƣ sinh sống tại khu vực. Mặt khác, 1 ý thức bảo vệ môi trƣờng sống của ngƣời dân chƣa cao nên công tác bảo vệ môi trƣờng còn gặp nhiều khó khăn. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình”.

2 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chất thải Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ y tế, du lịch, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác [3] Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thƣờng và chất thải rắn nguy hại.

Chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH hay còn gọi là chất thải rắn sinh hoạt ) là những chất thải liên quan đến các hoạt động sống của con ngƣời, đƣợc tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, cơ quan, trƣờng học, trung tâm dịch vụ, thƣơng mại… CTRSH thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, thực phẩm dƣ thừa, gỗ, lon, vải, giấy, lông vịt, lông gà, cành cây khô.Quản lý chất thải rắn Quản lý chất thải rắn là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại chất thải rắn của con ngƣời. Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hƣởng xấu của rác vào môi trƣờng và xã hội. Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Thu gom chất thải rắn Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận.Lưu giữ chất thải rắn Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi đƣợc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trƣớc khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.Vận chuyển chất thải rắn Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.

Xử lý chất thải rắn Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn.Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh [4] 1. Nguồn gốc phát sinh Chất thải rắn đƣợc phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, cụ thể đƣợc biểu hiện ở sơ đồ 1.1 sau[5]: Các hoạt động kinh tế, xã hội của con ngƣời Các quá Hoạt Các hoạt Các hoạt trình phi động động động giao sống và tiếp và sản xuất tái sản quản lý đối ngoại sinh Chất thải rắn sinh hoạt Sơ đồ 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt (Nguồn: Công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr 68- 93, 203-219). 4 Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau: - Từ khu dân cƣ: Bao gồm các khu dân cƣ tập trung, những hộ dân cƣ tách rời.

Nguồn chất thải chủ yếu là: thực phẩm dƣ thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, giấy, nilon, cao su. còn có một số chất thải nguy hại. - Từ các hoạt động thƣơng mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn.Các nguồn thải có thành phần tƣơng tự nhƣ đối với các khu dân cƣ (thực phẩm, giấy, catton…). - Các cơ quan, công sở: Trƣờng học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lƣợng rác thải tƣơng tự nhƣ đối với CTR dân cƣ và các hoạt động thƣơng mại nhƣng khối lƣợng ít hơn.

- Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đƣờng xá, dỡ bỏ các công trình cũ. Chất thải mang đặc trƣng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa. - Dịch vụ công cộng:Vệ sinh đƣờng xá, phát quang, chỉnh tu các công viên và các hoạt động khác. chất thải bao gồm cỏ rác, chất thải từ việc trang trí đƣờng phố.

- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nhƣ sản xuất đồ gỗ, inox… - Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vƣờn cây. Chất thải chủ yếu thực phẩm dƣ thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp. - Chất thải rắn sinh hoạt nói chung phát sinh từ các nguồn chủ yếu: các hộ gia đình (nhà ở, khu tập thể, chung cƣ,.), các trung tâm thƣơng mại dịch vụ (chợ, văn phòng, khách sạn, siêu thị, khu vui chơi giải trí,.), cơ quan (trƣờng học, cơ quan hành chính, bệnh viện,.), các công trình, dịch vụ công cộng (rửa đƣờng, tu sửa cảnh quan, công viên, bãi biển. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt Khác với chất thải, phế thải công nghiệp, chất thải rắn sinh hoạt là tập hợp không đồng nhất.

Tính không đồng nhất ở đây biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát đƣợc các nguyên liệu ban đầu dùng cho thƣơng mại và sinh hoạt. Sự không đồng nhất này tạo nên một số đặc trƣng rất khác biệt trong các thành phần của chất thải rắn sinh hoạt. 5 Thành phần cơ học: thành phần chất thải rắn sinh hoạt bao gồm [5]: - Các chất có khả năng phân hủy sinh học: thực phẩm thừa, lá cây, xác chết động vật, hoa, quả,… - Các chất không có khả năng phân hủy sinh học: kim loại, thủy tinh, mảnh sành, gạch ngói, vữa.1: Thành phần chủ yếu của CTRSH Thành phần Định nghĩa Ví dụ 1. Các chất cháy đƣợc (đốt đƣợc) Các vật liệu làm từ giấy bột Các túi giấy, mảnh a.

Giấy và giấy. bìa, giấy vệ sinh… b. Hàng dệt Có nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon… Các chất thải từ đồ ăn Cọng rau, vỏ quả, c. Thực phẩm thựcphẩm thân cây, lõi ngô… Các vật liệu và sản phẩm Đồ dùng bằng gỗ d.

Cỏ, gỗ củi, rơm rạ Đƣợc chế tạo từ gỗ, tre, rơm… nhƣ bàn ghế, đồ chơi, vỏ dừa Phim cuộn, túi chất dẻo, chai, Các vật liệu và sản phẩm đƣợc e. Chất dẻo lọ. Chất dẻo, các đầu vòi,dây chế tạo từ chất dẻo điện… Các vật liệu và sản phẩm Bóng, giày, ví, băng f. Da và caosu Đƣợc chế tạo từ da và cao su cao su… 2.

Các chất không cháy đƣợc Các vật liệu và sản phẩm Vỏ nhôm, giấy bao a. Các kim loại sắt đƣợc chế tạo từ sắt mà dễ bị gói, đồ đựng… (Nguồn: Công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr 68- 93, 203-219) -Ở mỗi tỉnh thành sẽ phát sinh ra lƣợng, thành phần khác nhau, cụ thể nhƣ [4]: 6 Bảng1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ