Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại thị xã thái hòa tỉnh nghệ an

Nghiên cứu chi tiết đề xuất biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại thị xã Thái Hòa, Nghệ An. Tìm hiểu giải pháp tối ưu cho môi trường bền vững.

Trường đại học

Đại học (Thông tin không đủ để xác định tên trường)

Chuyên ngành

Quản Lý Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2011

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vì sao quản lý rác thải sinh hoạt tại Thái Hòa là cấp thiết

Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, đang đối mặt với những thách thức lớn về môi trường do sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn sinh hoạt. Quá trình đô thị hóa và cải thiện mức sống người dân kéo theo lượng rác thải ngày càng nhiều, tạo áp lực nặng nề lên hạ tầng và gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý rác thải không chỉ là nhiệm vụ của chính quyền mà còn là yêu cầu cấp bách để đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại.

1.1. Tầm quan trọng của việc quản lý chất thải rắn hiệu quả

Quản lý chất thải rắn hiệu quả là nền tảng cho việc bảo vệ môi trường Thái Hòa. Khi rác thải không được thu gom và xử lý đúng cách, chúng sẽ gây ô nhiễm đất, nước, không khí, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Theo tài liệu nghiên cứu, công tác quản lý rác tại nhiều khu vực, đặc biệt là vùng ngoại thị, còn nhiều bất cập, chủ yếu vẫn là các bãi chôn lấp lộ thiên, thiếu quy hoạch. Điều này làm lãng phí tài nguyên đất, mất mỹ quan đô thị và tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng môi trường trong tương lai. Do đó, một hệ thống quản lý rác thải toàn diện, từ thu gom rác thải đến xử lý rác thải cuối cùng, là yếu tố sống còn cho sự phát triển của thị xã.

1.2. Mục tiêu phát triển bền vững và thách thức môi trường

Thị xã Thái Hòa đang hướng tới mục tiêu trở thành đô thị loại II, đòi hỏi sự đồng bộ về hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. Tuy nhiên, vấn đề rác thải sinh hoạt đang là một rào cản lớn. Sự gia tăng dân số, các hoạt động thương mại - dịch vụ và sản xuất công nghiệp làm cho thành phần rác ngày càng phức tạp. Việc xây dựng một chính sách quản lý rác thải phù hợp, áp dụng các giải pháp môi trường tiên tiến và nâng cao ý thức người dân là những thách thức cần được giải quyết triệt để. Nếu không có một chiến lược quản lý hiệu quả, các mục tiêu phát triển bền vững của địa phương sẽ khó có thể đạt được, ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng sống của cộng đồng.

II. Thực trạng đáng báo động về rác thải sinh hoạt ở Thái Hòa

Nghiên cứu về hiện trạng rác thải Nghệ An, đặc biệt tại thị xã Thái Hòa, đã chỉ ra những con số đáng lo ngại. Lượng rác thải phát sinh hàng ngày vượt quá khả năng xử lý của các đơn vị môi trường, dẫn đến tình trạng tồn đọng, gây mất vệ sinh công cộng. Thành phần rác đa dạng nhưng chưa được phân loại rác tại nguồn, gây khó khăn cho quá trình tái chế và xử lý, làm tăng gánh nặng cho các bãi chôn lấp. Việc đánh giá tác động môi trường từ thực trạng này là vô cùng cần thiết để có cái nhìn toàn diện và đưa ra giải pháp kịp thời.

2.1. Phân tích các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt chính

Chất thải rắn sinh hoạt tại Thái Hòa phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Nguồn lớn nhất đến từ các khu dân cư, với các loại rác hữu cơ (thực phẩm thừa, rau củ), rác vô cơ (túi nilon, chai nhựa). Ngoài ra, các hoạt động thương mại - dịch vụ như chợ, nhà hàng, khách sạn cũng thải ra một lượng rác đáng kể. Khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các cơ quan, trường học, bệnh viện cũng là những nguồn phát sinh quan trọng. Theo tài liệu khảo sát, phường Hòa Hiếu và Quang Tiến là hai khu vực nội thị có lượng rác thải tập trung cao nhất do mật độ dân cư và hoạt động kinh tế sôi động. Các xã nông nghiệp như Nghĩa Tiến, Nghĩa Hòa chủ yếu phát sinh rác hữu cơ, nhưng việc xử lý vẫn còn tự phát, chưa có hệ thống thu gom rác thải đồng bộ.

2.2. Số liệu thống kê khối lượng và thành phần rác thải thực tế

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy bức tranh rõ nét về gánh nặng rác thải. Lượng rác thải bình quân đầu người toàn thị xã được tính toán là 0,62 kg/người/ngày. Với tổng dân số khoảng 67.630 người (năm 2010), tổng lượng rác phát sinh mỗi ngày lên đến 41,93 tấn. Trong đó, phường Hòa Hiếu có tỷ lệ phát sinh cao nhất, tương đương một đô thị loại I, với 0,95 kg/người/ngày. Về thành phần, rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ cao (từ 65% ở khu vực đô thị đến 75% ở khu vực nông thôn), đây là một tiềm năng lớn cho việc sản xuất phân compost. Tuy nhiên, lượng rác vô cơ như nhựa, nilon vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể (khoảng 30%), gây ra các vấn đề lâu dài về ô nhiễm môi trường.

III. Đề xuất 5 giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt hiệu quả nhất

Để giải quyết triệt để vấn đề rác thải, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp từ kỹ thuật, chính sách đến xã hội. Dựa trên phân tích thực trạng, nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các biện pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại thị xã Thái Hòa. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào khâu xử lý cuối cùng mà còn chú trọng đến việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của địa phương và quy định của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An.

3.1. Tối ưu hóa hệ thống thu gom và vận chuyển rác thải

Hệ thống thu gom rác thải hiện tại còn nhiều hạn chế, chỉ tập trung ở các phường trung tâm. Cần mở rộng mạng lưới thu gom ra toàn bộ các xã, phường trên địa bàn. Điều này đòi hỏi phải đầu tư thêm trang thiết bị, xe chuyên dụng và tăng cường nhân lực. Lịch trình thu gom cần được bố trí hợp lý, khoa học hơn để tránh tình trạng rác tồn đọng. Đồng thời, cần quy hoạch các điểm tập kết rác tạm thời hợp vệ sinh, không gây ảnh hưởng đến cộng đồng. Việc tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển cũng giúp giảm chi phí và thời gian, nâng cao hiệu quả chung của toàn bộ quy trình quản lý rác thải sinh hoạt tại thị xã Thái Hòa.

3.2. Triển khai mô hình 3R và phân loại rác tại nguồn hiệu quả

Áp dụng mô hình 3R (Reduce - Giảm thiểu, Reuse - Tái sử dụng, Recycle - Tái chế) là giải pháp bền vững nhất. Chương trình phân loại rác tại nguồn phải được triển khai một cách quyết liệt, bắt đầu từ các hộ gia đình, cơ quan, trường học. Rác cần được phân thành ít nhất ba loại: hữu cơ, vô cơ có thể tái chế, và rác thải khác. Chính quyền cần có cơ chế hỗ trợ, cung cấp các thùng rác phân loại và xây dựng chính sách khuyến khích các hoạt động tái chế rác thải. Rác hữu cơ có thể được xử lý làm phân compost, trong khi rác tái chế sẽ là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác, giảm áp lực lên bãi chôn lấp.

3.3. Đầu tư công nghệ xử lý rác và xã hội hóa công tác thu gom

Phương pháp chôn lấp truyền thống không còn phù hợp. Thị xã cần đầu tư vào các công nghệ xử lý rác hiện đại hơn như lò đốt rác phát điện hoặc nhà máy chế biến phân compost quy mô công nghiệp. Để có nguồn vốn, cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác thu gom rác. Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai. Việc này không chỉ giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn tạo ra một thị trường dịch vụ môi trường cạnh tranh, chuyên nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải rắn.

IV. Bí quyết nâng cao ý thức người dân về bảo vệ môi trường

Công nghệ và chính sách sẽ không thể phát huy hiệu quả nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng. Nâng cao ý thức người dân là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của mọi chương trình quản lý rác thải sinh hoạt tại thị xã Thái Hòa. Khi mỗi người dân hiểu rõ trách nhiệm của mình và tự giác thực hiện các hành vi đúng đắn, gánh nặng ô nhiễm sẽ giảm đi đáng kể, góp phần xây dựng một môi trường sống trong lành và bền vững. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và phương pháp tiếp cận phù hợp.

4.1. Vai trò của truyền thông và giáo dục trong cộng đồng

Các chiến dịch truyền thông cần được tổ chức thường xuyên và đa dạng hóa hình thức: qua báo chí, truyền hình, mạng xã hội, các buổi nói chuyện tại khu dân cư. Nội dung tuyên truyền phải đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào tác hại của rác thải và lợi ích của việc phân loại rác tại nguồn. Đặc biệt, cần đưa nội dung giáo dục về bảo vệ môi trường Thái Hòa vào chương trình giảng dạy tại các cấp trường học. Việc hình thành ý thức cho thế hệ trẻ từ sớm sẽ tạo ra sự thay đổi bền vững trong tương lai. Các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cần phát huy vai trò nòng cốt trong việc vận động, hướng dẫn người dân thực hiện.

4.2. Xây dựng chính sách quản lý rác thải rõ ràng và minh bạch

Một chính sách quản lý rác thải rõ ràng, có tính răn đe và khuyến khích là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hành vi. Cần xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về việc phân loại, thu gom rác, kèm theo các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi xả rác bừa bãi, không đúng nơi quy định. Song song đó, cần có chính sách khen thưởng, động viên các cá nhân, tập thể thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường. Phí vệ sinh môi trường cần được tính toán lại một cách hợp lý, công bằng, dựa trên nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền", tạo động lực để người dân giảm thiểu lượng rác thải phát sinh.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Môi trƣờng và các vấn đề liên quan đến môi trƣờng ngày càng mở rộng ảnh hƣởng trên phạm vi toàn cầu. Sự gia tăng chất thải sinh hoạt hiện làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng, gây tác động tới sức khỏe cộng đồng hiện đang trở thành một trong những vấn đề cấp bách ở nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện đáng kể. Mức sống của ngƣời dân nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội cũng càng cao.

Điều này đồng nghĩa với càng cao, việc gia tăng lƣợng rác thải sinh hoạt. Sự gia tăng rác thải đang trở thành thách thức lớn cho các mục tiêu bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. Vấn đề rác thải không đƣợc xử lý hay xử lý không triệt để, để lộ thiên ở một số khu vực đô thị đang là vấn đề đƣợc dƣ luận quan tâm. Thị xã Thái Hòa chính thức tách khỏi huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An từ tháng 11 năm 2007.

Dân số của thị xã tăng lên, nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân cũng tăng, các dịch vụ phục vụ ngƣời dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng dẫn đến lƣợng rác thải tăng lên nhiều và tập trung chủ yếu ở vùng nội thị của thị xã. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là hiện nay thị xã Thái Hoà chƣa thực hiện biện pháp cụ thể nào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này, mới chỉ tiến hành thu gom và tập trung ở các bãi rác lộ thiên. Điều này không chỉ làm mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trƣờng mà còn gây ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, nguy cơ gây bệnh dịch, nguy hại đến sức khoẻ con ngƣời. Công tác quản lý rác thải cũng còn nhiều bất cập và chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.

Trên địa bàn có 2 công ty vệ sinh môi trƣờng nhƣng cũng mới chỉ thu gom đƣợc lƣợng rác thải trên diện tich nhỏ với phƣơng tiện kỹ thuật công cụ thu gom rác thô sơ, lạc hậu. Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm góp phần đề xuất biện pháp quản lý, xử lý rác phù hợp, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng do rác thải sinh hoạt tại địa phƣơng, tôi đã thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An“. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm liên quan 1.

Khái niệm và phân loại chất thải rắn Chất thải rắn (hay rác) là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con ngƣời và động vật. Chất thải dạng rắn phát sinh từ khu vực đô thị gọi là chất thải rắn đô thị, trong đó rác sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất. Chất thải rắn đô thị bao gồm các loại chất thải rắn phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thƣơng mại, công trình xây dựng, khu xử lý chất thải… Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất. Chất thải rắn (còn gọi là rác thải) đƣợc phân loại theo nhiều cách khác nhau: - Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: + Chất thải rắn công nghiệp: Là các loại chất thải phát sinh từ các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; + Chất thải rắn nông nghiệp: là các loại chất thải rắn phát sinh từ hoạt động nông nghiệp; + Chất thải rắn xây dựng, gồm các loại nhƣ: đất, đá, gạch, ngói, bê tông… phát sinh từ các hoạt động nhƣ: dỡ bỏ công trình xây dựng, đào móng công trình, vôi vữa từ quá trình xây dựng; + Chất thải rắn y tế là những chất thải phát sinh từ hoạt động khám,chữa bệnh trong các bệnh viện, cơ sở y tế; + Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải rắn liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại.

- Phân loại dựa vào mức độ nguy hại, chất thải rắn đƣợc chia thành 2 loại là: + Chất thải rắn nguy hại: là loại chất thải rắn chứa nhiều yếu tố độc hại, dễ cháy nổ, ăn mòn, lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác; + Chất thải rắn thông thƣờng là loại chất thải rắn không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tƣơng tác thành phần sinh ra các chất gây hại. 2 - Phân loại theo thành phần hóa học và tính chất hóa lý: rác thải hữu cơ, vô cơ; cháy đƣợc, không cháy đƣợc; kim loại, phi kim, chất dẻo, cao su, da, vải vụn… 3 1. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn sử dụng, xƣơng động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả… Theo phƣơng diện khoa học, có thể phân loại nhƣ sau: - Chất thải thực phẩm: Là tất cả các loại thức ăn thừa, rau, quả…từ các hộ gia đình, bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, chợ… Loại chất thải này dễ phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm nhƣ ở Việt Nam - Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân ngƣời và phân của các động vật khác. - Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải từ các khu sinh hoạt của dân cƣ.

- Tro và các chất dƣ thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong các gia đình, trong kho các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than. - Các chất thải rắn từ đƣờng phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói… 1. Khái niêm về quản lý rác thải Quản lý rác thải là các hoạt động kiểm soát chất thải suốt trong quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Hiện nay trong quá trình sinh sống và hoạt động sản xuất của mình, con ngƣời đã đƣa vào môi trƣờng rất nhiều loại rác thải.

Các loại chất thải rắn này sẽ gây ô nhiễm, nhiễm khuẩn đối với môi trừơng bao quanh con ngƣời nhƣ: môi trƣờng đất, không khí, nƣớc, các nhà ở và công trình công cộng… Rác thải sinh hoạt là loại rác chiếm khối lƣợng lớn và gây mất mỹ quan trên diện rộng. Ngày nay rác thải có thành phần và tính chất không ổn định và thƣờng thay đổi theo xu hƣớng thành phần ngày càng phức tạp và mức độ độc hại ngày càng tăng. Vì vậy rác thải không đƣợc xử lý hoặc xử lý không triệt để là một trong những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng đến 4 mỹ quan và ảnh hƣởng đến sức khỏe cộng đồng. Trong khi đó công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải ở Việt Nam chƣa thật tốt, nhất là ở các vùng nông thôn.Vì vậy vấn đề cấp bách hiện nay là chống ô nhiễm môi trƣờng, trả lại cho thiên nhiên trạng thái cân bằng.

Để đạt đƣợc mục tiêu này thì một trong những biện pháp tốt nhất chính là tiến hành quản lý rác thải sao cho hiệu quả. Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới 1. Tình hình phát sinh rác thải trên thế giới Nhìn chung, lƣợng RTSH ở mỗi nƣớc trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của ngƣời dân nƣớc đó.

Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu ngƣời. Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu ngƣời ở một số thành phố trên thế giới nhƣ sau: Băng Cốc (Thái Lan) là 1,6kg/ngƣời/ngày; Singapo là 2kg/ngƣời/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/ngƣời/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/ngƣời/ngày…. Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nƣớc. Theo ƣớc tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nƣớc ta.

Theo đánh giá của tổ chức Ngân hàng thế giới, các nƣớc có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị Các số liệu thống kê gần đây về tổng lƣợng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm nƣớc này tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ƣớc tính 46,6 triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tƣơng tự phát sinh, 60% số này đƣợc chôn lấp, 34% đƣợc tái chế và 6% đƣợc thiêu đốt. Theo dự án khảo sát đƣợc thực hiện từ tháng 10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm đƣợc thải ra từ hộ gia đình nhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì, chiếm 19% chất thải đô thị. Tổng số hàng năm các hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm, trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng đƣợc. 5 Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trƣờng Nhật Bản, hằng năm nƣớc này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn).

Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đƣa tới bãi chôn lấp, trên 36% đƣợc đƣa đến các nhà máy để tái chế. Số còn lại đƣợc xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác. Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% đƣợc tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16. Rác ở Singapore đƣợc phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp.

Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế.000 tấn) đƣợc đƣa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro. Cuối cùng, mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể đốt đƣợc sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill. Nhƣ vậy về khối lƣợng, từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ rác cho hơn 10% lƣợng rác đó, xấp xỉ 2. Trong khi đó, mỗi ngày TP.HCM thải ra khoảng 8.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ