ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á với diện tích khoảng 330.550 km2 nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa là một trong những nƣớc có tính đa dạng cao, trong đó đa dạng về côn trùng là rất lớn. Theo thống kê có đến 80% số loài côn trùng ăn cây xanh và bản thân chúng lại là thức ăn của nhiều loại động vật khác. Với sự phong phú và đa dạng về thành phần loài thì côn trùng trở thành đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều nha khoa học. Côn trùng là một thành phần không thể thiếu cảu hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực nhƣ góp phần thụ phấn, cung cấp dinh dƣỡng cho các loài động vật, kìm hãm các sinh vật gây hại… góp phần tạo nên cân bằng sinh thái.
Ngoài ra côn trùng cũng tạo ra không ít những ảnh hƣởng tiêu cực cho con ngƣời nhƣ phá hoại cây cối, hoa màu, phá hoại nông sản… Trong giới động vật côn trùng là lớp có số loài lớn, chiếm khoảng 1/3 tổng số loài sinh vật trên trái đất. Chúng phân bố ở mọi vùng và mọi sinh cảnh trên lục địa. Theo báo cáo WWF (Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên) tại Việt Nam 2000 thì tốc độ suy giảm về đa dạng sinh học của nƣớc ta nhanh hơn so với các nƣớc trong khu vực. Do những hoạt động phun thuốc trừ sâu một cách tràn lan, thiếu khoa học làm nhiều loài côn trùng bị suy giảm và diệt vong làm ảnh hƣởng đến mạng lƣới thức ăn dẫn đến mất cân bằng hệ sinh thái.
Vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học một cách đầy đủ, từ đó làm cơ sở để tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học có hiệu quả. VQG Cúc Phƣơng đƣợc thành lập 1962 có diện tích 22. Đây là khu rừng có hệ sinh thái vô cùng phong phú, với nhiều loại động thực vật quý hiếm nhƣ: vooc Mông Trắng, cá Niết cúc phƣơng, Sóc bụng đỏ đuôi hoe, Kim giao Vù hƣơng, Chò chỉ thanh thất Cúc Phƣơng… ngoài ra còn có một số lƣợng lớn các loài côn trùng thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) trong đó có loài Bƣớm ngày là các loài côn trùng nhỏ biết bay. Vẻ đẹp của loài Bƣớm là nguyên nhân cho chính sự suy vi của nó, bởi các nhà sƣu tập săn bắt nó với số lƣợng rất lớn.
1 Nhận biết đƣợc những tầm quan trọng về loài và tính cấp thiết của khu vực, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý loài Bướm ngày tại vườn quốc gia Cúc Phương tỉnh Ninh Bình”. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng Cánh vẩy trên thế giới Bƣớm thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), là nhóm côn trùng đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có công trình nghiên cứu về Bƣớm, đặc biệt là các nƣớc nhƣ Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Australia… các công trình nghiên cứu không chỉ giới hạn về thành phần loài mà còn tập trung nhiều vào vấn đề sinh thái, sinh học và bảo tồn.
Nghiên cứu mỗi quan hệ giữa Bƣớm và môi trƣờng là một trong lĩnh vực đƣợc các nhà sinh thái và sinh học quan tâm nhiều. Ngày nay môi trƣờng sống của các loài sinh vật nói chung, Bƣớm và côn trùng nói riêng đang bị tàn phá hơn bao giờ hết. Nguyên nhân môi trƣờng sống của chúng bị tàn phá là do diện tích rừng đang dần bị thu hẹp bởi việc chặt phá rừng, khai thác gỗ, và nhiều hoạt động khác. Côn trùng là loại có trọng lƣợng cơ thể nhỏ nhƣng sinh khối của chúng rất lớn.
Chúng là nguồn thức ăn để duy trì và nuôi sống nhiều loài động vật khác nhƣ chim, lƣỡng cƣ, bò sát, nhện và các loại côn trùng ăn thịt. So với các nhóm côn trùng khác, Bƣớm là loài đƣợc nghiên cứu nhiều nhất do chúng có kích thƣớc cơ thể tƣơng đối lớn và dễ định loại so với các loài côn trùng khác nhất là ngài đêm (cùng nhóm Cánh vẩy), gần gũi với con ngƣời và nhạy cảm với mọi thay đổi về môi trƣờng sống. Bƣớm là nhóm động vật đa dạng và phong phú bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn. Bƣớm gần gũi với con ngƣời và đƣợc ƣa chuộng vì có giá trị về văn hóa.
Nhu cầ thế giới về việc sử dụng Bƣớm cho mục đích khoa học cũng nhƣ các mục đích khác là rất lớn. Mỗi năm hàng triệu mẫu Bƣớm đƣợc thu thập và buôn bán trên toàn thế giới. Bƣớm dùng để trang trí, làm quà lƣu niệm, làm bộ sƣu tập ở nhiều nơi trên thế giới nhất là Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản. Ngoài ra Bƣớm và một số côn trùng khác nhập khẩu từ các nƣớc nhiệt đới đƣợc sử dụng để thả vào vƣờn thú, công viên phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí và giáo dục.
Từ những nhu cầu đó đã tạo ra một nhu cầ rất lớn về Bƣớm. Hàng năm 3 thu nhập từ việc buôn bán Bƣớm chiếm trên 100 triệu (Parsons,1996). Con số này còn lớn hơn nhiều trong những năm gần đây. Có nhiều nƣớc đã rất thành công trong việc nuôi Bƣớm xuất khẩu nhƣ: Papua New Guinea, Thái Lan, Đài Loan, Costa Rica, Mỹ, …Ví dụ nhƣ ở Đài Loan hàng năm có khoảng 15 đến 500 triệu con Bƣớm đƣợc bán ra thị trƣờng thông qua các công ty nuôi và buôn bán côn trùng.
Một công ty nổi tiếng của Mỹ một năm bán ra thị trƣờng trên 50 triệu con Bƣớm. Qua 105 tháng nghiên cứu suốt 49 năm, Finn và Colin (2003) đã xem xét lại tình trạng của 915 loài và 910 loài phụ Bƣớm đã ghi nhận ở Philippines. Các tác giả đã xác định đƣợc 133 loài bị đe dọa ở mức độ toàn cầu và các taxon đặc hữu ở Philippines. Hiện tại, hệ thống gồm 18 khu bảo tồn đƣợc ƣu tiên ở đất nƣớc này ít nhất đã có 1 khu dành cho việc bảo tồn 65 loài, tuy nhiên số còn lại là 29 và 39 loài phụ vẫn chƣa có một khu bảo tồn nào quan tâm tới.
Giai đoạn đầu thế kỉ XX, công trình nghiên cứu về bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) có công trình nghiên cứu của J.de Joannis mang tên “ Leditopteres du Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930. Tác giả thu đƣợc 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ. Năm 1909-1913 Star lần đàu tiên đã viết cuốn sách giáo khoa về “côn trùng Lâm Nghiệp” cho các trƣờng trung cấp Năm 1920-1940 các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dƣ đã xuất bản một tập tài liệu phân loại Bƣớm gồm 33 tập ở Niedejrland Năm 1932, một tập thể tác giả Ấn Độ mà đại diện là W.Eran đã xuất bản “sự phân biệt các lòai Bƣớm ở Ấn Độ” trong đó có 19 họ Bƣớm và các khoa phân loại của một số giống chủ yếu của các họ. Năm 1950 ở Liên Xô cũ viện Hàn Lâm khoa học đã xuất bản tập “ phân loại côn trùng ở các rừng phòng hộ” và cuốn “Sâu đục thân và phƣơng pháp phòng trừ chúng” Manferd_Kock, 1953 – 1978 đã xuất bản “ phân loại Bƣớm và Ngài” Gottfriied Amann, 1959 có cuốn “ các loại côn trùng” 4 1970 - 1978, Donnald J Borror và Richar D.White đã xuất bản cuốn sách “ Hƣớng dẫn côn trùng” ở Bắc Mỹ thuộc Mexico trong đó cũng đề cập đến cuốn Phân loại các bộ Cánh vẩy (Lepidoptera).
Theo Bei_Brienko (1996) bộ Cánh vẩy (Lepidoptera)có từ 150. Đối với Bƣớm ngày (Rhopalocera) đến cuối thế kỉ XX các nhà nghiên cứu mới quan tâm nhiều và đƣa đến một số kết quả nhƣ công trình của A.Ionescn (1962), Charles Brues A.Melander (1965), Manrfred Kmock (1955) Ngày nay, nghiên cứu về côn trùng nói chung và bộ Cánh vẩy nói riêng đã có những bƣớc tiến vƣợt bậc. Tổng quan về nghiên cứu côn trùng bộ Cánh vẩy trong nƣớc Nhìn chung công tác nghiên cứu các loài Bƣớm tại Việt Nam cũng có những bƣớc trƣởng thành đáng kể. Trong những cố gắng ban đầu đã lập ra một danh sách tổng hợp các loài trong bộ Lepidoptera đƣợc xuất bản năm 1919 (Dubois và Vatalis de Salvaza, 1919) bao gồm 579 loài Bƣớm thu thập ở Bắc Bộ và Nam Bộ.
Việc thu thập này chủ yếu vào giữa thế kỉ thứ XX và một danh sách kiểm kê của 445 loài Bƣớm Việt Nam đƣợc xuất bản năm 1957. Năm 1954 đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu để phân loại côn trùng nói chung và bộ Cánh vẩy nói riêng đƣợc thể hiện trong giáo trình “ côn trùng Lâm Nghiệp “ 1965 của Phạm Ngọc Anh, “ Côn trùng rừng” của Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã. Năm 1972 - 1974 bộ môn điều tra sâu bệnh hại thuộc cục điều tra rừng (Viện điều tra quy hoạch rừng) đã tiến hành điều tra côn trùng thuộc một số vùng tự nhiên thuộc tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hòa Bình. Kết quả đã thu thập và phát hiện nhiều mẫu côn trùng và sâu bệnh hại ở các vùng điều tra, các mẫu này đƣợc lƣu giữ ở bảo tàng của viện, tuy nhiên do nhiều hạn chế nên các, mẫu dám định chƣa nhiều, do đó chƣa đánh giá đƣợc hết giá trị côn trùng và sâu bệnh rừng trong giai đoạn này.
5 Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn ĐDSH côn trùng ở nƣớc ta còn ít, mang tính cục bộ ở một số địa phƣơng, khu bảo tồn. Nguyễn Thị Đáp (2008) đã đề xuất ra một số mô hình nhân nuôi một số loài Bƣớm ở Tam Đảo. Đây là một công trình rất công phu, tuy nhiên chỉ tập chung vào một số loài có tính thẩm mỹ cao. Lê Xuân Huệ trong báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Điều tra cơ bản đa dạng sinh học, chim Vƣờn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An” đã đƣa ra các biện pháp khai thác, sử dụng hợp lí một số loài côn trùng có ích: Ong ruồi, Ong khói và đề xuất nhân nuôi một số loại côn trùng cánh cứng, các loài Bƣớm đẹp.
Khi nghiên cứu sự khác nhau và giá trị bảo tồn giữa hai khu hệ Bƣớm ở giữa hai khu VQG Tam Đảo và Cúc Phƣơng, Đặng Thị Đáp và Vũ Văn Liên (2008) đã nhận thấy, có 170 loài bƣớm bắt gặp đƣợc ở Vƣờn quốc gia Tam Đảo mà chƣa thấy ở Cúc Phƣơng và 130 loài bắt gặp đƣợc ở Cúc Phƣơng mà chƣa thấy ở Tam Đảo. Điều này chứng tỏ vị trí địa lý, đặc điểm địa hình và thảm thực vật là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau về thành phần loài Bƣớm.