ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một hệ sinh thái, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con ngƣời cùng các loại động thực vật và vi sinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động. Rừng đƣợc ví nhƣ lá phổi xanh của trái đất. Những tác động tiêu cực có thể gây ra những ảnh hƣởng tới cả hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con ngƣời với những tác động vào rừng nhƣ chặt phá rừng bừa bãi, dùng thuốc trừ sâu… không những làm giảm diện tích và gây ảnh hƣởng đến cảnh quan môi trƣờng mà còn ảnh hƣởng lớn đến khả năng xuất hiện và phát dịch của sâu bệnh hại.
Hàng năm, dịch sâu hại rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn không những làm giảm chất lƣợng rừng, làm chết cây ƣớc tính thiệt hại lên đến nhiều tỷ đồng mà còn làm suy thoái môi trƣờng. Chính vì vậy, việc quản lý sâu hại rừng có một vai trò quan trọng, giúp ngƣời quản lý nắm bắt tình hình sâu hại để có kế hoạch, chƣơng trình trong công tác trồng rừng và quản lý sâu hại hiệu quả. Thị xã Chí Linh có địa hình không phức tạp với tổng diện tích đất tự nhiên 29.618 ha, Chí Linh có 14.470 ha đất đồi rừng, trong đó rừng trồng 1.208 ha, rừng tự nhiên 2. Rừng tự nhiên có nhiều loại gỗ quý, ƣớc khoảng 140.000 m³, có nhiều loại động thực vật đặc trƣng cung cấp nguồn dƣợc liệu cho y học.
Rừng trồng chủ yếu là Keo tai tƣợng và rừng Thông nhựa thuộc khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc. Khu văn hóa – lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc thuộc xã Cộng Hòa và Hƣng Đạo, thị xã Chí Linh. TỈnh Hải Dƣơng. Côn Sơn – Kiếp Bạc có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo quyết định số 194/CT ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng (Bộ NN&PTNT, 1997).
Trong quyết định trên đề nghị thành lập khu văn hóa – lịch sử Côn Sơn- Kiếp Bạc với diện tích 282 ha với mục tiêu bảo rừng thông và bảo tồn nơi sinh ra của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (1380 – 1442) ông là nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh ra ở Côn Sơn và sống ở đây cho đến năm 1400, sau đó ông làm việc cho nhà Hồ. ng thƣờng nhắc tới Côn 1 Sơn trong các bài thơ và ánh văn chƣơng. ng trở về Côn Sơn từ năm 1437 đến năm 1438.
Ngôi chùa chính đƣợc xây dựng làm nơi tƣởng niệm ông là trung tâm của khu văn hóa lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc. Khu rừng văn hóa lịch sử Côn Sơn – Kiếp bạc đƣợc che phủ bởi rừng trồng Thông và Keo mang tích chất điều hòa khí hậu và đặc biệt mang lại giá trị cảnh quan cho khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc. Đề tài “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính tại rừng văn hóa lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc, thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dƣơng” sau đây nhằm đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính để hoàn thiện biện pháp quản lý sâu hại góp phần vào việc bảo vệ rừng và cảnh quan tuyệt đẹp của khu di tích lịch sử Côn Sơn – Kiếp Bạc. 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Sự hình thành dịch sâu hại Các yếu tố sinh thái thuận lợi, đặc biệt là thức ăn, nhiệt và ẩm độ nơi loài sâu hại sinh sống sẽ làm cho chúng sinh trƣởng phát triển rất nhanh. Trên thực tế các trận dịch xảy ra là do sự phát sinh hàng loạt của loài. Tuy nhiên diễn biến của các trận dịch lại không xảy ra một cách đột ngột. Sự phát sinh hàng loạt chính là sự tăng số lƣợng cá thể mỗi loài sâu.
Nguyên nhân của nó, ngoài các yếu tố ngoại cảnh còn có nguyên nhân bên trong, chủ yếu là quá trình phát triển lịch sử của loài nhƣ khả năng sinh sản lớn, vòng đời ngắn, sức sinh trƣởng nhanh nguyên nhân bên trong và điều kiện bên ngoài hoàn toàn thuận lợi, loài sâu hại bắt đầu một quá trình phát triển đến đỉnh cao. Nhƣng rồi các yếu tố bất lợi lại xảy ra và trận dịch bị suy giảm. Diễn biến một trận dịch thƣờng xảy ra 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Giai đoạn tiềm tàng Ở giai đoạn này các điều kiện thuận lợi cho sâu hại đã xuất hiện, nhƣng bản thân sâu hại chƣa chuẩn bị để tiếp thu những thuận lợi đó, dần dần chúng bắt đầu tăng nhanh khả năng sinh sản, tích luỹ lại và chuẩn bị thành dịch. Trong các ổ chuẩn bị thành dịch, mật độ sâu hại thƣờng cao hơn các vùng xung quanh.
Tốc độ sinh sản nhanh, tỷ lệ trứng nở tốt. Nhƣng ở giai đoạn này tỷ lệ sâu đực so với sâu cái thấp hơn các vùng. Các loài thiên địch của sâu chƣa xuất hiện. - Giai đoạn 2: Giai đoạn tăng số lƣợng cá thể trong một số thế hệ Các thế hệ cứ tiếp nhau tăng số lƣợng cá thể của mình.
Đặc điểm của giai đoạn này là cơ thể sâu có nhiều chất dinh dƣỡng, nhiều mỡ. Sâu cái đẻ trứng nhiều, thời gian đẻ kéo dài, tỷ lệ trứng nở cao, tỷ lệ sâu non chết thấp. Tỷ lệ sâu cái cao trong quần thể. Cây trồng trong giai đoạn này đang là nguồn thức ăn thuận lợi cho loài phát triển dịch.
Một số điểm xuất hiện mật độ sâu cao và gây tác hại nghiêm trọng. Các loài thiên địch thấy có thức ăn (loài sâu hại) tốt đã bắt đầu xuất hiện và hoạt động nhƣng mật độ còn thấp. 3 - Giai đoạn 3: Giai đoạn cao nhất của trận dịch Ở giai đoạn này, mật độ tƣơng đối của sâu đều ở mức tối đa. Số lƣợng sâu tăng một cách nhảy vọt, một số yếu tố sinh thái trở nên cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển về số lƣợng sâu.
Hoạt động của từng cá thể cũng tăng lên. Chúng phàm ăn hơn do vậy thiệt hại gây ra cực kỳ lớn, rừng bị hại nghiêm trọng và rất dễ phát dịch, lƣợng thức ăn giảm sút nhanh. Phần lớn các loài sâu có số con đực ít hơn số con cái nên chúng vẫn có thể sống sót đƣợc. Ngƣợc lại số sâu cái, do phải chuẩn bị năng lƣợng cho sự sinh sản trong khi thiếu thức ăn mà giảm sút và làm cho tỷ lệ sâu đực của thế hệ sau tăng cao.
Các loài thiên địch ngƣợc lại có nhiều thức ăn nên tăng lên cả về số lƣợng lẫn chủng loại. Chúng hoạt động mạnh lên, các diễn biến nói trên làm cho sâu hại bị chết hàng loạt và trận dịch bắt đầu giảm dần. - Giai đoạn 4: Giai đoạn suy thoái Do hết thức ăn, do bị thiên địch, sâu hại chết hàng loạt. Số lƣợng các cá thể giảm đột ngột, sâu cái mất khả năng sinh sản, hoạt động của sâu đực trở nên uể oải, chậm chạp và chết.
Kèm theo đó có hiện tƣợng cạnh tranh thức ăn, đồng thời các loài thiên địch phát triển tới đỉnh cao tiêu diệt loài sâu hại. Sau khi sâu hại giảm xuống, cây cối lại đâm chồi nảy lộc (tất nhiên có một số bị chết hẳn sau 2 - 3 lần bị ăn trụi) và rừng lại phục hồi. Khi dịch phát triển, ngoài việc dùng các biện pháp phòng trừ ở nơi phát sinh dịch, một công việc còn quan trọng hơn là làm sao cho dịch không lan rộng bằng các biện pháp cách lý và phòng ngừa.2 T nh h nh nghiên cứu về côn tr ng trên thế giới Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về côn trùng. Về việc phân loại côn trùng phải kể đến nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thụy Điển Carl Von Linne, ông đƣợ coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra đơn vị phân loại.
ng đã xây dựng hệ thông phân loại về động thực vật trong có có côn trùng. Tuy nhiên mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các nhà nghiên cứu về côn trùng mới đƣợc quan tâm và phát. 4 Năm 1904 có Krepton, năm 1928 có Martunov, năm 1938 có Weber tiếp tục cho ra bảng phân loại về Bộ, họ, của côn trùng. Các công trình nghiên cứu này đƣa ra nhiều hệ thống phân loại khác nhau tùy theo tác giả.
Đến nửa thế kỷ XX các nghiên cứu của Manfred – Koch (1955).Metander (1965), Donldi – Borr và Richard E.White (1970 – 1978) cũng đề cập đến phân loại và nhận biết con trùng. Watson, More (1975) trong cuối t chỉ d n về th c ti n quản s u hại t ng h p” đã đƣa ra hƣớng dẫn sử dụng kĩ thuật s n có để hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái Nông Nghiệp. Ravllin, Haynes (1987) đã sử dụng phƣơng pháp mô phỏng trung quản lý côn trùng ký sinh phục vụ cho việc phòng trừ sâu hại họ Ngoài kho lá. Mô hình mà họ sử dụng là sự phối hợp giữa số liệu điều tra ngoài thực địa về mật độ sâu hại, xu hƣớng phát triển của quần thể, mức độ ký sinh và nhiệt độ.
Đang là phƣơng pháp sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại không ảnh hƣởng đến môi trƣờng. Tuy nhiên chỉ sử dụng một phƣơng pháp này chƣa mang tính tổng hợp. Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực là các công trình nghiên cứu của Trung Quốc. Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố công trình phân loại con trùng rừng Vân Nam.
Các nghiên cứu về hình thái, tập tính các loài sâu hại lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu n tr ng rừng Trung uốc” (Xiao Gangrou). Nghiên cứu về con trùng thiên địch có thể tìm thấy trong cuối t con tr ng thiên đ ch”, Tạp chí b r n N m” (Tào Thành Nhất). Năm 1989 Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Bary Drummond và Swain đã có những chuyên đề và công trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng. Thông quan các chƣơng trình đã từng bƣớc hoàn thiệ IPM giải quyết những vấn đề tồn tại và đƣa ra những quyết định phù hợp với quản lý sâu hại Lâm Nghiệp và có thể thích hợp cho cả Nông Nghiệp.3 T nh h nh nghiên cứu trong nƣớc Năm 1979 Nguyễn Trung Tín đã có công trình tƣơng đối hoàn thiện nghiên cứu về loài Ong cắn lá Mỡ và từ công trình này Bộ Lâm Nghiệp đã ban hành quy trình phòng trừ ong ăn lá Mỡ phục vụ thiết thực cho nhu cầu sản sản xuất gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy sợi và công nghiệp chế biến gỗ.