Chương 1: Cơ sở lí luận về dạy nghề cho phụ nữ Khm r vùng ĐBSCL th o hình th c GDTX Chương 2: Thực trạng dạy nghề cho phụ nữ Khm r vùng ĐBSCL th o hình th c GDTX Chương 3: Cá iện pháp dạy nghề cho phụ nữ Khm r vùng ĐBSCL th o hình th c GDTX Chương 4: Thực nghiệm 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY NGHỀ CHO PHỤ NỮ KHMER VÙNG ĐBSCL THEO HÌNH THỨC GDTX 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về GDTX, GDNL 1. Những nghiên cứu trên thế giới về GDTX, GDNL GDTX đã từ rất sớm dưới nhiều hình th c khác nhau.
Coombs [122] áo động cuộc khủng hoảng giáo dục thế giới và phát hiện sự tồn tại của nền giáo dục không chính qui (GDKCQ) như một gợi ý để thoát khỏi cuộc khủng hoảng đ Do khoa học và công nghệ phát triển như v ão nên nhà trường không thể cung cấp hết cho NH những tri th c mới của nhân loại và càng không giữ đượ vai trò độc tôn trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ đ , GDTX/GDKCQ/Giáo dụ người lớn (GDNL) được thừa nhận trong hệ thống giáo dục của á nước. Những năm 60 ủa thế kỷ XX, Malcolm Knowles [140] đã ông ố một lí thuyết mới là Giáo dụ người lớn - Andragogy - thuật ngữ mà ông đã mô tả à Mô hình thực hành của giáo dụ người lớn Knowles quan niệm GDNL à Nghệ thuật và khoa họ gi p người lớn họ ởi vì việc học của người lớn là tự định hướng và tự trị; vai trò của ND là hỗ trợ việc họ hơn à thể hiện nội dung Điều đ nghĩa là trong GDNL, sự chọn lựa của NH được nhấn mạnh hơn à sự áp đặt của ND. Năm 1972, Báo cáo của Edgar Faure do UNESCO phát hành [113] đã làm xoay chuyển nhận th c về giáo dục, với hai ý tưởng chủ đạo là giáo dục suốt đời (GDSĐ) và xã hội học tập (XHHT).
Chương trình giáo dục cho mọi người ở Châu Á-Thái Bình Dương do UNESCO khởi xướng vào năm 1987 (được gọi tắt là APPEAL) đưa ra sáu loại hương trình GDTX được nhiều đối tượng hoan nghênh, nhất là những người bỏ học chính quy giữa chừng, những người nghèo hoặc thất nghiệp, những người di ư, những người tị nạn, những phụ nữ t ơ may học tập, những người về hưu Jacques Delors (1996) với tác phẩm Learning: The Treasure Within [116] do UNESCO công bố đã khẳng định vai trò ơ ản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá nhân; nhấn mạnh học tập suốt đời (HTSĐ) như một trong những hìa h a để mỗi cá nhân thích ng với những thách th c của thế kỷ XXI; 8 xá định bốn trụ cột của giáo dục như à hỗ dựa để phát triển việc học; đưa ra ý tưởng mọi xã hội đều tiến tới xây dựng thành xã hội họ tập, ở đ hông một tài năng nào, đượ oi như một kho báu tiềm ẩn của on người, lại bị lãng quên mà hông được khai thác và phát huy. Giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái là tiền đề để đảm bảo việc tham gia một cách thực sự ình đẳng của phụ nữ vào đời sống cộng đồng. Những ý tưởng này của UNESCO ng h nh à im hỉ nam cho giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam. Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đề ra sáu nguyên tắ ơ ản trong giáo dụ : 1) Giáo dục là quyền ơ bản của on người và là giá trị chung của nhân loại.
2) Giáo dụ , cả chính quy và hông h nh quy, đều phải phục vụ xã hội. 3) Các chính sách giáo dục phải phối hợp hài hòa cả 3 mụ đ h: ông ằng, thích hợp và chất ượng. 4) Muốn tiến hành cải cách giáo dục phải xem xét kỹ ưỡng và hiểu biết sâu sắc thực tiễn, chính sách và á điều kiện, yêu cầu của từng vùng. 5) Vì các vùng khác nhau về kinh tế, xã hội và văn h a, ho nên phải có cách tiếp cận phát triển giáo dục phù hợp với từng vùng.
6) Giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả mọi người. UNESCO [116], [126] ng đã cung cấp cái nhìn khái quát về quá trình thực hiện á hương trình GDTX; những bài học kinh nghiệm ơ ản trong việc thực hiện GDTX ở một số quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; nhấn mạnh lồng ghép giới, sự tham gia của cộng đồng, cải cách các phương pháp tiếp cận trong giáo dụ Đặc biệt, cần ưu tiên việc tiếp cận các nhóm thiệt thòi và yếu thế: phụ nữ và trẻ m gái, người nghèo, người DTTS và người khuyết tật. Đến tháng 7/1997, Hội nghị quốc tế lần th V về GDNL được tổ ch c tại Hamburg – Đ c với khẩu hiệu: “Giáo dục người lớn - chìa khoá bước vào thế kỷ XXI” đã đưa ra ản tuyên bố chung về xu hướng phát triển GDNL của thế giới [125]. Trong đ có khẳng định: GDNL là bộ phận không thể thiếu được của bất kỳ hệ thống giáo dục nào.
Chính sách học tập của người lớn nên phù hợp với văn h a địa phương và ưu tiên mở rộng ơ hội học tập cho mọi phụ nữ. UNESCO [127] đã phân t h xu hướng, nhận diện các thách th ơ ản và những cách thực hiện tốt nhất, ng như đề xuất hoạt động để cải thiện một cách đáng ể kiến th c về giáo dục và học tập của người lớn. Ở một tiếp cận khác, Mark Tennant [120] đã nghiên u về vai trò của tâm lí học trong thực hành GDNL. Michael Osborne, Muir Houston và Nuala Toman 9 [121], Helen Abadzi [114], Joe E.
Heimlich - Emmalou Norland [117], Guy R. Lefrancois [115] đã đề cập những kết quả nghiên c u về kinh nghiệm, phương pháp luận và lí thuyết về việc dạy và học trong HTSĐ ở những bối cảnh khác nhau, gồm 3 ĩnh vực học nghề, giáo dụ họ và văn h a học tập, học tập ngoài nhà trường. Madhu Singh [119] chủ biên quyển sách giới thiệu những chính sách, chương trình và mô hình chuyển giao được cam kết trong cuộ đối thoại về chính sách GDNL và HTSĐ trong khuôn khổ á nước ASEAN, tổ ch c tại Hyderabad - Ấn Độ trong tháng 4 năm 2002 Quyển sách làm sáng tỏ một số vấn đề ơ ản và xu hướng chung để giải quyết những vấn đề giống nhau trong GDNL và HTSĐ. Lorecia Roland [118] ho ra đời sách chuyên khảo dựa trên những thông tin và đánh giá về á hương trình và sự phát triển đang diễn ra trong GDNL ở các quốc gia được chọn lựa trong vùng như th Phi ippin s, Thai and, Uzbekistan, India, Papua N w Guin a,… Quyển sách chỉ ra những thông tin cần được chia sẻ giữa các quốc gia về các hoạt động GDNL; mô tả những hương trình GDNL khác nhau đang được sử dụng trong vùng, NH của á hương trình há nhau, á phương pháp tiếp cận người lớn, những vấn đề mà á hương trình này giải quyết.
* Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đề cập ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau về lí luận và thực tiễn của GDTX, xem đó là giải pháp duy nhất để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trong giáo dục về những đặc điểm học tập của người lớn; về các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTX; về việc xây dựng một x hội học tập với một hệ thống giáo dục mang tính mở, mềm dẻo, linh hoạt, đa dạng, tạo thuận lợi cho NH cần gì học nấy, học suốt đời. Đặc biệt, cần cung cấp cơ hội HTSĐ cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về dạy nghề theo hình thức GDTX. Trong khi đó, dù là một bộ phận của GDTX theo nghĩa rộng nhưng dạy nghề vẫn có nhiều đặc điểm khác biệt, với đặc trưng cơ bản là đặt trọng tâm ở năng lực thực hiện và tính hành dụng rất cao.
Những nghiên cứu ở trong nƣớc về GDTX, GDNL Có thể tìm thấy phần lí luận chung về GDTX trong các công trình nghiên c u của nhiều tác giả. Về mặt thuật ngữ: các tác giả Tô Bá Trượng [92], [93], [94], V Xuân Nhi [61], Ninh Văn Bình [5], Nguyễn Tiến Đạt [20], Thái Xuân Đào [16], [17], Phạm Tất Dong [10] có nhiều nghiên c u về thuật ngữ GDTX, GDNL trên cấp độ thế giới 10 và ở Việt Nam. Ở góc tiếp cận khác, các tác giả Nghiêm Xuân Lượng [52], [53], Trần Kiểm [49] đưa ra những luận điểm ơ ản: GDTX à phương tiện của quá trình phát triển xã hội; GDTX là hệ thống giáo dục trải dài trong suốt cuộ đời và bao trùm toàn bộ không gian sống của on người; là hệ thống giáo dục linh hoạt, thực tiễn, mềm dẻo, đa dạng, tạo ơ hội học tập cho mọi đối tượng. Tác giả Thuần Phong [65] xá định hai loại GDTX: loại ho ư dân đô thị và loại ho nông thôn và vùng h hăn Các tác giả Tô Bá Trượng [92], [93], V Thị Hồng Khanh [47] đã cung cấp nhiều thông tin về GDTX trên thế giới, ở á nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và định hướng phát triển GDTX ở Việt Nam.
Tác giả Tô Bá Trượng nhấn mạnh: một trong những mục tiêu xã hội quan trọng là củng cố và phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc ít người, những vùng khó khăn, những người nghèo và các đối tượng thuộc diện chính sách phải có điều kiện đi học. Đó là vấn đề có tính chất nguyên tắc, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội [92, tr 281]. Các tác giả Hà Thế Ngữ [60], Nguyễn Đ c Trí [89], [90] đưa ra những vấn đề lí luận chung về giáo dụ , giáo dụ họ và giáo dụ họ nghề nghiệp. Một nền giáo dục cho toàn dân phải đáp ng những nhu cầu cốt yếu của từng cá nhân và từng nh m người về kiến th , ĩ năng và thái độ, để hòa nhập vào môi trường sống của họ, đ ng g p vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong đ , ần h ý đặc biệt đến á nh m người bị thiệt thòi yếu thế để họ được tiếp nhận giáo dục suốt đời theo sở thích, nguyện vọng của mình, th o hướng thực hiện công bằng, ình đẳng, nhân đạo trong giáo dụ.
Nền giáo dục ơ sở phải mang sắ thái vùng và dân ư Tác giả Nguyễn Minh Đường [28] đưa ra một số triết lý của giáo dục nghề nghiệp: đào tạo gắn với việ àm, họ để làm, học suốt đời; phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.