ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở các quốc gia trên toàn thế giới đang diễn ra với tốc độ cao. Bên cạnh những mặt tích cực mà đô thị hóa và công nghiệp hóa đem lại cho nền kinh tế của mỗi quốc gia và đời sống con ngƣời nó cũng đang đặt ra những thách thức gay gắt đối với các nƣớc nhƣ: Dân số tăng nhanh, trình độ lao động thấp kém, kỹ thuật sản xuất lạc hậu, cạnh tranh thị trƣờng… đã dẫn đến sự khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Việt Nam là một nƣớc đang phát triển, cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng và gia tăng dân số, con ngƣời đã thải vào môi trƣờng một lƣợng lớn chất thải nói chung và chất thải rắn (CTR) nói riêng bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp… Việc thải vào môi trƣờng với số lƣợng lớn rác thải đã vƣợt qua ngƣỡng khả năng tự làm sạch của môi trƣờng làm cho môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hiện nay, các vấn đề về môi trƣờng nói chung và rác thải nói riêng mới chỉ đƣợc quan tâm nhiều ở các thành phố, đô thị còn ở nông thôn còn ít đƣợc quan tâm.
Hơn nữa công tác quản lý chất thải nói chung đang còn nhiều hạn chế và bất cập. Lƣợng chất thải rắn thu gom chỉ mới đạt khoảng 80% và chủ yếu tập trung ở khu nội thị, tại nhiều đô thị chất thải nguy hại chƣa đƣợc phân loại riêng với chất thải sinh hoạt, phần lớn các đô thị chƣa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh, các công trình xử lý chất thải rắn chƣa đạt hiệu quả cao. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi công tác thu gom tập trung rác thải chƣa đƣợc thực hiện. Rác thải ở nông thôn đa số là đổ bừa bãi ra vƣờn, ao hồ, sông suối… và một phần khác thì đem đốt.
Việc thải bỏ một cách bừa bãi rác thải nhƣ vậy làm nảy sinh bệnh tật, ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời và cảnh quan môi trƣờng. Nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng do chất thải gây ra đang là vấn đề cấp bách đối với hầu hết khu vực trong cả nƣớc không chỉ riêng gì 1 khu vực đô thị, đòi hỏi phải có các biện pháp quản lý và xử lý nhằm đảm bảo môi trƣờng và phát triển bền vững. Theo đà phát triển của đất nƣớc, mặc dù là một nông thôn nhỏ của Hà Tĩnh nhƣng trong những năm qua huyện Hƣơng Khê có tốc độ phát triển kinh tế tăng lên. Cùng với sự phát triển nhanh về cơ sở vật chất và điều kiện sống của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, văn hóa, giáo dục, y tế phát triển.
Tuy nhiên, đi đôi với những phát triển đó thì nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng là không thể tránh khỏi, nhiều vấn đề về môi trƣờng đang cần giải quyết. Xác định đƣợc vấn đề đó, cùng với phƣơng hƣớng phát triển của huyện là phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trƣờng cũng đang đƣợc các cấp lãnh đạo Hà Tĩnh nói chung và xã Phú Gia, huyện Hƣơng Khê nói riêng hết sức quan tâm. Tuy vậy, công tác này cũng đang gặp những khó khăn và hạn chế nhất định do thiếu điều kiện về kỹ thuật vật chất và nguồn nhân lực có tay nghề chuyên môn. Do đó, đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn tại xã Phú Gia, Hương Khê, Hà Tĩnh” nhằm tìm ra các giải pháp để nhằm cải thiện công tác quản lý chất thải rắn phù hợp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan chung về chất thải rắn sinh hoạt 1. Khái niệm - Chất thải: Tại khoản 10 điều 3 của Luật Bảo vệ môi trƣờng sửa đổi năm 2014 thì “ Chất thải là dạng vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí, mùi hoặc các dạng khác thải ra từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác của con ngƣời”. Vì vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất thải sản xuất, dịch vụ y tế…mà mọi ngƣời không dùng nữa và thải bỏ đi.
- Chất thải rắn (CTR) Theo quan điểm chung: CTR là toàn bộ các tạp chất đƣợc con ngƣời loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Trong đó quan trọng nhất là các chất thải ra từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống. Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác đô thị) đƣợc định nghĩa là: vật chất mà con ngƣời tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi đƣợc bồi thƣờng cho sự vứt bỏ. Thêm vào đó, chất thải đƣợc gọi là chất thải rắn đô thị nếu đƣợc xã hội nhìn nhận nhƣ một thứ mà thành phố có trách nhiệm thu gom và phân hủy (Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự, 2001) Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác.
CTR bao gồm CTR thông thƣờng và CTR nguy hại (nghị định 57/2007 về quản lý chất thải rắn) - Rác thải sinh hoạt (RTSH) RTSH là các chất thải có liên quan tới các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ thƣơng mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm cả kim loại, giấy vụn, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, cao su, chất dẻo, thực 3 phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn sử dụng, xƣơng động vật, tre, gỗ, long gà vịt, vải giấy, rơm rạ, vỏ rau quả (Luật BVMT,2014) 1. Nguồn gốc và phân loại 1. Nguồn gốc phát sinh Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: - Từ các khu dân cƣ (chất thải sinh hoạt): thức ăn thừa, túi nilon, rau cỏ bỏ.
- Từ các công sở trƣờng học, công trình công cộng: giấy báo, hộp xốp đựng thức ăn, cát, gạch, sỏi từ các công trình xây dựng. - Từ các dịch vụ đô thị: giấy báo, bìa cát tông. - Từ các hoạt động công nghiệp: các kim loại nặng nhƣ chì, thủy ngân, cadimi, quặng,. - Từ các hoạt động nông nghiệp: Rơm, rạ, thuốc BVTV, thuốc trừ sâu bệnh.
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị: gạch, sỏi vụn,. Dƣới đây là bảng mô tả nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 4 Bảng 1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải Khu dân cƣ Hộ gia đình, biệt thƣ, Thực phẩm dƣ thừa, giấy, dân cƣ can nhựa, thủy tinh. Khu Thƣơng Nhà kho, nhà hàng, chợ, Giấy, nhựa, thực phẩm mại khách sạn, nhà trọ, các thừa, thủy tinh, kim loại, trạm sửa chữa, dịch vụ chất thải nguy hại.
Cơ quan, công Trƣờng học, bệnh viện, Giấy nhựa, thực phẩm sở cơ quan chính phủ. thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại. Công trình xây Khu nhà xây dựng mới, Gạch, bê tông, cát, gỗ, dựng và phá hủy sửa chữa nâng cấp mở bụi… rộng, đƣờng phố cao ốc san nền xây dựng. Dịch vụ công Hoạt động dọn rác vệ Rác vƣờn, cành cây cắt cộng đô thị sinh đƣờng phố, khu vui tỉa, chất thải chung tại các chơi giải trí, bãi tắm.
khu vui chơi giải trí Nhà máy xử lý Nhà máy xử lý nƣớc Bùn, tro… chất thải đô thị thải, chất thải và các quá trình xử lý chất thải công nghiệp khác. Công nghiệp Công nghiệp xây dựng Chất thải đồng quá trình chế tạo, công nghiệp chế biến công nghiệp và nặng nhẹ, hỏa dầu, nhiệt các rác thải sinh hoạt. điện Nông nghiệp Đồng cỏ, đồng ruộng, Thực phẩm bị thối rữa, vƣờn cây ăn quả, nông sản phẩm nông nghiệp trại thừa, rác, chất độc hại. nguồn: “Huỳnh Tuyết Hằng,2005” 1 Từ sơ đồ trên cho ta thấy rác thải sinh hoạt đƣợc sinh ra từ rất nhiều các hoạt động nhƣ khu dân cƣ, giao thông, đƣờng phố, các dịch vụ kinh doanh, cơ quan.
Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt 1. Tác hại của chất thải rắn đối với sức khỏe cộng đồng Tác động của chất thải rắn lên sức khỏe con ngƣời thông qua ảnh hƣởng của chúng lên các thành phần môi trƣờng. Môi trƣờng bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con ngƣời thông qua chuỗi thức ăn. Tại các bãi rác nếu không áp dụng kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ đổ rồi san ủi, chon lấp thông thƣờng, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi là mầm mống lan truyền dich bệnh, chƣa kể đến chất độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
Môi trƣờng không khí Bụi,CH4,NH3,H2S Rác thải (Chất thải rắn) - Sinh hoạt - Sản xuất (công nghiệp,nông nghiệp…) - Thƣơng nghiệp - Tái chế Qua đƣờng hô hấp Nƣớc mặt Nƣớc ngầm MT Đất Qua chuỗi thực phẩm Kim loại nặng, Ăn uống tiếp xúc Chất độc qua da Ngƣời, động vật Hình 1.1: Sơ đồ biểu diễn ảnh hưởng của chất thải rắn đối với sức khỏe con người ( Nguồn: Vấn đề quản lý chất thải rắn ở Việt nam, 2010) 2 1. Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị Chất thải rắn, đặc biệt là rác thải sinh hoạt nếu không đƣợc thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý thì sẽ làm giảm mỹ quan đô thị. Nguyên nhân của hiện tƣợng này là do ý thức của ngƣời dân chƣa cao. Tình trạng ngƣời dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đƣờng và mƣơng rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nƣớc và ngập úng khi mƣa đặc biệt là ở khu nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom chƣa đƣợc tiến hành chặt chẽ.
Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường Đối với môi trường không khí - Khí thoát ra từ các hố hoặc các chất làm phân, chất thải chôn lấp rác chứa CH4, H2S, CO2, NH3, các khí độc hại… - Khí từ các lò thiêu chứa bụi , SO2, NOx, COx, HCl, HF, đioxin, kim loại, oxit kim loại thăng hoa… - Bụi sinh ra trong quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc hại lẫn trong rác (Cục bảo vệ môi trường,2004) Đối với môi trường đất - Các chất thải rắn vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ khó phân huyrlamf thay đổi thành phần và PH của đất.