Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vịnh Cửa Lục là một vịnh biển nhỏ nằm ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, tiếp giáp với huyện Hoành Bồ ở phía Bắc. Vịnh có diện tích mặt nước khoảng 18 km², độ sâu lớn nhất đạt 17 m, đóng vai trò như một cửa sông hình phễu tiếp nhận nước từ ba con sông chính gồm sông Diễn Vọng, sông Trới và sông Man. Cửa vịnh (eo Cửa Lục) thông ra vịnh Hạ Long với chiều rộng chỉ khoảng 1 km, khiến cho phần lớn các chất ô nhiễm không phân giải hết trong vịnh Cửa Lục đều được vận chuyển trực tiếp ra di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Khu vực xung quanh vịnh Cửa Lục tập trung nhiều hoạt động phát triển kinh tế - xã hội sôi động: phía Đông và Đông Bắc là vùng khai thác, sàng tuyển than lớn với các mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin); phía Tây và Tây Bắc có Khu công nghiệp Cái Lân, Khu công nghiệp Việt Hưng cùng hệ thống cảng nước sâu, kho xăng dầu B12, nhà máy nhiệt điện và các nhà máy sản xuất xi măng lớn; phía Nam và ven bờ diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh mẽ với các dự án lấn biển xây dựng khu đô thị (Cao Xanh, Hà Khánh, Vựng Đâng). Sự gia tăng của các nguồn thải công nghiệp, sinh hoạt, khai thác khoáng sản và giao thông thủy đã tạo áp lực nghiêm trọng lên chất lượng môi trường nước. Trước thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước khu vực Vịnh Cửa Lục" được thực hiện nhằm làm rõ hiện trạng môi trường và quy luật lan truyền chất ô nhiễm.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và xác định các nguồn phát sinh chất thải trên lưu vực vịnh Cửa Lục.
  2. Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt và nước biển ven bờ thông qua chuỗi số liệu quan trắc giai đoạn 2011 – 2016 và đợt quan trắc chi tiết quý IV năm 2016.
  3. Mô phỏng quá trình lan truyền các chất gây ô nhiễm hữu cơ (nhu cầu oxy hóa học - COD và nhu cầu oxy sinh hóa - BOD5) trong các điều kiện thủy văn, chế độ triều và mùa khác nhau.
  4. Phân tích các nguyên nhân chính gây ô nhiễm và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường nước khu vực nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là chất lượng môi trường nước (nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt và nước biển ven bờ) cùng chế độ lan truyền chất ô nhiễm hữu cơ. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm toàn bộ diện tích vịnh Cửa Lục và các khu vực lưu vực thuộc thành phố Hạ Long và huyện Hoành Bồ. Phạm vi thời gian đánh giá dựa trên tài liệu thống kê, dữ liệu quan trắc từ năm 2011 đến năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các thông số đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  • QCVN 10-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ (áp dụng cho vùng bãi tắm, nuôi trồng thủy sản và vùng biển ven bờ khác).
  • QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B): Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp đối với nguồn tiếp nhận không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
  • Các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh và kim loại nặng: pH, nhiệt độ, độ muối, độ dẫn điện, oxy hòa tan (DO), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa 5 ngày (BOD5), vi sinh vật chỉ thị (Coliform), dầu mỡ khoáng và kim loại nặng (Chì - Pb, Cadimi - Cd, Thủy ngân - Hg).
  • Về mặt lý thuyết xác định chất hữu cơ, COD phản ánh lượng oxy cần thiết để oxy hóa hợp chất hữu cơ; trong nghiên cứu này, các giá trị COD đầu vào mô phỏng được chuẩn hóa từ phương pháp Pemanganat ($COD_{Mn}$, hiệu suất khoảng 50%) bên cạnh phương pháp Dicromat ($COD_{Cr}$, hiệu suất khoảng 90%).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, hiện trạng sử dụng đất từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh (năm 2012, 2015) và báo cáo môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh.
  • Phương pháp khảo sát và quan trắc thực tế: Khảo sát mạng lưới 10 điểm quan trắc đại diện cho các nguồn thải công nghiệp, sinh hoạt và nước biển ven bờ trên lưu vực.
  • Phương pháp mô hình hóa - mô phỏng số: Thiết lập mô hình mô phỏng thủy lực và lan truyền chất ô nhiễm hữu cơ ($COD$, $BOD_5$) trong vịnh Cửa Lục theo 2 mùa đặc trưng (mùa mưa và mùa khô) gắn liền với các pha triều (triều cường, triều kém; nước lớn, nước ròng).

Nguồn dữ liệu quan trắc do Trung tâm Quan trắc Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cung cấp, kết hợp tài liệu chuyên môn từ Phòng Vật lý biển – Viện Tài nguyên và Môi trường biển.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực Vịnh Cửa Lục

Chương I trình bày đặc điểm tự nhiên, cấu trúc địa hình, khí hậu, thủy hải văn và phân tích các hoạt động kinh tế - xã hội phát sinh chất thải trên lưu vực vịnh Cửa Lục:

  • Địa hình và thổ nhưỡng: Lưu vực có dạng hình phễu hướng tâm, độ dốc lớn từ Bắc xuống Nam. Phía Tây có dãy núi Chùa Lôi (cao 500 – 600 m), phía Đông có dãy núi Giáp Khẩu (cao 200 – 300 m), đỉnh cao nhất trên đường phân thủy là Am Váp (1.090 m). Địa hình phân hóa thành 4 bậc san bằng (800 – 1.000 m, 400 – 600 m, 200 – 300 m và 80 – 100 m). Vùng ven bờ phát triển hai dạng bãi triều chính: bãi triều cao (2,06 – 4,7 m, phơi cạn 12 – 14 giờ/ngày, có rừng ngập mặn) và bãi triều thấp (dưới 2,06 m, phơi cạn 10 – 12 giờ/ngày).
  • Khí hậu và thủy văn: Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22 – 25°C, số giờ nắng 1.600 – 1.800 giờ/năm. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.800 – 2.400 mm phân bố trong 110 – 120 ngày mưa/năm, trong đó mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) chiếm 75 – 85% tổng lượng mưa. Hệ thống sông ngắn, dốc, lưu lượng biến đổi mạnh theo mùa. Vịnh có chế độ nhật triều điển hình (26 – 28 ngày/tháng có 1 lần nước lớn và 1 lần nước ròng), biên độ triều cực đại đạt 4,7 m. Trước năm 1999, vịnh lưu thông với vịnh Hạ Long qua eo Cửa Lục và lạch Cái Dăm; từ năm 1999 khi xây dựng cảng Cái Lân, lạch Cái Dăm bị chặn lại, toàn bộ lưu thông nước chỉ qua eo Cửa Lục.
  • Hiện trạng đất đai và dân cư: Tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính các xã vùng nghiên cứu là 79.293,46 ha (năm 2012), trong đó đất lâm nghiệp chiếm 49,82%, đất chưa sử dụng chiếm 38,65%, đất nông nghiệp chiếm 6,91%, đất chuyên dùng chiếm 3,14% và đất ở chiếm 1,48%. Dân cư tập trung đông đúc tại khu vực phía Đông và Tây Nam vịnh, tạo lượng nước thải sinh hoạt lớn (phường Cao Xanh thải 16.197,05 m³, phường Trần Hưng Đạo thải 11.497,15 m³, xã Việt Hưng thải 10.404,05 m³, phường Hà Khánh thải 6.220,8 m³).
  • Hoạt động công nghiệp và khai khoáng: Trữ lượng than đá thăm dò đạt trên 530 triệu tấn (chủ yếu là than antraxit và bán antraxit). Sản lượng than khai thác trên địa bàn thành phố Hạ Long tăng từ 6,78 triệu tấn (2011) lên 8,2 triệu tấn (2012), 9,5 triệu tấn (2013) và 10,5 triệu tấn (2014) thông qua 2 mỏ hầm lò, 12 mỏ lộ thiên, nhà máy tuyển than Nam Cầu Trắng và các cảng Làng Khánh, Nam Cầu Trắng, Quyết Thắng. Ngoài ra, lưu vực có trữ lượng sét Giếng Đáy đạt 41,5 triệu m³, cát sỏi tại Hoành Bồ đạt 17,624 triệu m³ và cụm công nghiệp đóng tàu, nhiệt điện Quảng Ninh 1.200 MW, xi măng Thăng Long, xi măng Hạ Long.

Chương II: Đánh giá chất lượng môi trường nước khu vực Vịnh Cửa Lục

Chương II tổng hợp kết quả quan trắc thực tế, phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước và trình bày kết quả mô phỏng lan truyền ô nhiễm:

1. Mạng lưới quan trắc: Gồm 10 trạm quan trắc kiểm soát cả nguồn thải và môi trường nước tiếp nhận:

Ký hiệu Vị trí quan trắc Tọa độ X Tọa độ Y
N1 Trạm xử lý nước thải Hà Khẩu 2321632 420514
N2 Nước qua cầu K67 - Cao Xanh 2320967 431188
N3 Khu công nghiệp Cái Lân 2320780 425212
N4 Sông Diễn Vọng tại cửa xả nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 2324685 435755
N5 Khu giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phường Hà Khánh 2325091 436359
N6 Sau chợ Hòn Gai 231302 430402
N7 Giữa kênh thoát nước Hà Khánh và hệ thống xuất hàng xi măng Hạ Long 232670 430240
N8 Nhà máy xử lý nước thải Hà Khánh 2320462 432223
N9 Nước biển ven bờ cảng Làng Khánh 2325156 436482
N10 Nước biển ven bờ vịnh Cửa Lục - Cầu Bãi Cháy 2318862 428763

2. Diễn biến chất lượng nước tại trạm Cầu Bãi Cháy (2011 – 2016):

  • Giá trị pH ổn định trong khoảng 8,21 – 8,30 (đạt chuẩn 6,5 – 8,5 theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT).
  • Hàm lượng Coliform biến động từ 1 – 35 MPN/100ml, thấp hơn nhiều so với quy chuẩn (1.000 MPN/100ml).
  • Hàm lượng dầu mỡ tăng mạnh: từ 0,012 mg/l (Quý I/2011) lên 0,805 mg/l (Quý II/2013), duy trì ở mức 0,431 – 0,474 mg/l (2014 – 2015) và đạt 0,587 mg/l (Quý II/2016), vượt giới hạn cho phép (0,5 mg/l).

3. Kết quả quan trắc quý IV năm 2016 tại một số điểm tiêu biểu:

Điểm quan trắc pH TSS (mg/l) COD (mg/l) Pb (mg/l) Cd (mg/l) Hg (mg/l) Coliform (MPN/100ml) Dầu mỡ (mg/l)
N1 (Nước thải Hà Khẩu) 7,88 88 9,0 0,52 0,0006 0,00004 350 0,42
N2 (Nước ven bờ Cầu K67) 7,65 32 9,8 0,51 0,0006 0,00004 90 0,45
N3 (Nước thải KCN Cái Lân) 7,89 28 7,0 0,64 0,0006 0,00004 180 0,11
N4 (Sông Diễn Vọng) 7,62 47 7,3 0,59 0,0006 0,00004 730 0,34
N5 (Nước thải giết mổ) 7,82 41 9,0 0,68 0,0006 0,00004 7.000 0,68
QCVN 10-MT:2015/BTNMT 6,5-8,5 50 - 0,1 0,01 0,005 1.000 0,5
QCVN 40:2011/BTNMT (B) 5,5-9,0 100 150 0,5 0,1 0,01 5.000 10,0

Đánh giá tổng quát cho thấy: Cadimi và Thủy ngân ở tất cả các điểm đều nằm trong giới hạn an toàn. Tuy nhiên, ô nhiễm Chì (Pb) xuất hiện ở cả nước thải (N1, N3, N4, N5 vượt QCVN 40 Cột B) và nước biển ven bờ (N2: 0,51 mg/l, N9: 0,28 mg/l, gấp 2,8 – 5,1 lần QCVN 10). Điểm N5 bị ô nhiễm Coliform nghiêm trọng (7.000 – 7.350 MPN/100ml, vượt chuẩn 1,5 lần). Nước biển cảng Làng Khánh (N9) ghi nhận TSS, Pb, dầu mỡ và Coliform (8.000 MPN/100ml, gấp 8 lần chuẩn) đều vượt ngưỡng quy định.

4. Kết quả mô phỏng lan truyền chất ô nhiễm hữu cơ:

  • Lan truyền COD: Trong mùa mưa, triều cường lúc nước lớn, COD trong và ngoài cửa vịnh dao động trong khoảng 4,5 mg/l; khi nước ròng, COD tăng lên 4 – 6,5 mg/l (vùng cửa đạt 5 – 6 mg/l). Vùng ven bờ Bãi Cháy, Hòn Gai, Tuần Châu và luồng Cái Lân luôn có giá trị COD cao do tiếp nhận chất thải sinh hoạt - du lịch và dòng chảy mang chất hữu cơ từ trong vịnh ra. Vào mùa khô, COD trong vịnh giảm (nước lớn <5 mg/l, nước ròng đạt gần 6 mg/l), tuy nhiên tại biên mở phía biển tiếp giáp Cát Bà vẫn ghi nhận COD cao (>3 mg/l) do hoạt động lồng bè nuôi trồng thủy sản.
  • Lan truyền BOD5: Vào mùa khô, giá trị BOD5 phổ biến từ 0,21 – 0,78 mgO₂/l, riêng dải ven bờ Hòn Gai, Bãi Cháy, Tuần Châu đạt 1,39 – 1,58 mgO₂/l. Khi triều cường nước lớn mùa khô, BOD5 trong vịnh khoảng 0,25 mgO₂/l, nhưng khi nước ròng, vùng phía Đông vịnh Cửa Lục có hàm lượng BOD5 tăng cao đến 3 mgO₂/l, chiếm gần một nửa diện tích phía Đông vịnh.

Chương III: Các nguyên nhân gây ô nhiễm và các biện pháp bảo vệ môi trường nước

Chương III phân loại và đánh giá 5 nhóm nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng nước vịnh Cửa Lục:

  1. Hoạt động khai thác, chế biến và vận chuyển than:
    • Lượng nước thải mỏ phát sinh lớn: khai thác than hầm lò phát sinh 3 – 10 m³ nước thải/tấn than; khai thác lộ thiên phát sinh 2 m³/tấn than; tuyển than phát sinh 0,5 m³/tấn than sạch.
    • Tổng lượng nước thải mỏ đổ ra lưu vực ước tính trên 30 triệu m³/năm, đặc trưng bởi độ pH thấp (axit 4 – 5), hàm lượng $SO_4^{2-}$, TSS và kim loại nặng rất cao.
    • Lượng đất đá thải mỏ hàng năm khoảng 150 triệu m³; các bãi chứa than ven sông Diễn Vọng và các cảng Làng Khánh, Nam Cầu Trắng thiếu bờ bao ngăn nước mưa chảy tràn, gây rửa trôi bùn than và bồi lắng luồng lạch.
  2. Khai thác vật liệu xây dựng (sét, cát, đá): Khai thác sét tại Giếng Đáy, cát trên sông Trới và sỏi tại Hoành Bồ làm xáo trộn cấu trúc địa hình ven bờ, tạo dòng xoáy mang chất lơ lửng bồi lắng hạ lưu, làm tăng độ đục nguồn nước.
  3. Nước thải công nghiệp và cụm cảng: Hoạt động đóng tàu phát sinh dầu thải, hóa chất làm sạch bề mặt và gỉ sắt; các ngành sản xuất tiêu hao nhiều nước (sản xuất 1 lít bia cần 15 lít nước, 1 tấn giấy cần 300 m³ nước, 1 tấn nhựa cần 2.000 m³ nước) xả ra lượng nước thải chứa hóa chất, dầu mỡ tạo váng cản trở oxy hòa tan.
  4. Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp: Sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; nạn chặt phá rừng đầu nguồn và rừng ngập mặn (bị chuyển đổi làm đầm nuôi thủy sản, san nền đô thị) làm suy giảm khả năng tự làm sạch của vịnh, tăng xói mòn; hoạt động nuôi trồng thủy sản (454 bè với 1.500 ô lồng, 10 ha lưới chắn đáy, 40 ha nuôi trai ngọc) xả lượng lớn thức ăn dư thừa và chất thải hữu cơ.
  5. Giao thông thủy, nạo vét và san lấn biển: Mật độ 4.000 – 5.000 phương tiện vận tải than, vật liệu và 7 – 12 lượt tàu container ra vào cảng Cái Lân mỗi ngày tiềm ẩn rủi ro sự cố tràn dầu; các dự án san nền lấn biển xây dựng khu đô thị làm thu hẹp bãi triều, gây bồi lắng nghiêm trọng.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các định hướng giải pháp bảo vệ môi trường nước gồm: kiểm soát nước thải mỏ than bằng hệ thống hố lắng và trạm xử lý nước thải axit mỏ; xây dựng bờ bao chống rửa trôi tại các bãi than và kho bãi ven sông/biển; hoàn thiện hệ thống thu gom - xử lý nước thải sinh hoạt đô thị và KCN; phục hồi rừng ngập mặn; tăng cường kiểm tra phương tiện thủy và quy hoạch bền vững các vùng nuôi trồng thủy sản.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Làm rõ hiện trạng chất lượng nước vịnh Cửa Lục: nguồn nước chưa bị ô nhiễm diện rộng bởi axit/kiềm (pH ổn định 7,62 – 8,30), Cadimi và Thủy ngân đều đạt chuẩn. Tuy nhiên, đã xuất hiện các điểm ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng về kim loại Chì (nước biển ven bờ gấp 2,5 – 5,1 lần QCVN 10), dầu mỡ khoáng (vượt chuẩn tại Cầu Bãi Cháy và cảng Làng Khánh), Coliform (vượt 1,5 lần tại cơ sở giết mổ Hà Khánh và gấp 8 lần tại cảng Làng Khánh) và TSS.
  • Cung cấp bức tranh phân bố không gian và thời gian của $COD$ và $BOD_5$: chứng minh rõ rệt cơ chế chất ô nhiễm hữu cơ tăng cao vào thời điểm nước ròng mùa khô tại khu vực phía Đông vịnh (BOD5 lên tới 3 mgO₂/l) và vùng luồng tàu Cái Lân, chịu sự chi phối mạnh của động lực dòng triều và tải lượng nước thải từ sông, khu dân cư.
  • Thống kê định lượng tải lượng ô nhiễm từ ngành than: xác định định mức nước thải (3 – 10 m³/tấn than hầm lò, 2 m³/tấn than lộ thiên), tổng lượng nước thải mỏ (>30 triệu m³/năm) và đất đá thải (~150 triệu m³/năm).
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận đã kết hợp phương pháp điều tra quan trắc thực tế với mô hình hóa thủy hải văn, giúp nhận diện chính xác các nguồn thải trọng điểm và cơ chế lan truyền ô nhiễm qua eo Cửa Lục ra vịnh Hạ Long, cung cấp cơ sở thực chứng phục vụ quản lý môi trường tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu đầu vào mô phỏng COD được tính toán dựa trên phương pháp Pemanganat ($COD_{Mn}$) có hiệu suất oxy hóa khoảng 50%, có thể chưa phản ánh tuyệt đối tổng lượng chất hữu cơ khó phân hủy so với phương pháp Dicromat ($COD_{Cr}$). Mạng lưới quan trắc 10 trạm chủ yếu bố trí tại các vị trí ven bờ và cửa xả, mật độ điểm quan trắc ở vùng nước giữa vịnh còn thưa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần cập nhật chuỗi số liệu quan trắc liên tục nhiều năm sau khi thực hiện lộ trình đóng cửa các mỏ than lộ thiên tại Hạ Long theo quy hoạch của tỉnh Quảng Ninh; mở rộng mô phỏng lan truyền các chất ô nhiễm khác như kim loại nặng (Pb), vi sinh vật (Coliform) và dầu mỡ khoáng theo thời gian thực.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho sinh viên, học viên và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Hải văn học và Quản lý vùng bờ. Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm:

  • Phương pháp luận kết hợp giữa số liệu quan trắc thực tế và mô hình mô phỏng lan truyền chất ô nhiễm trong thủy vực cửa sông hình phễu ven biển.
  • Hệ thống dữ liệu thực nghiệm về định mức nước thải ngành than, số liệu quan trắc chất lượng nước và hiện trạng môi trường vịnh Cửa Lục giai đoạn 2011 – 2016.

Câu hỏi thường gặp

1. Vịnh Cửa Lục có đặc điểm hình thái và thủy văn nào tác động trực tiếp đến sự lan truyền ô nhiễm ra vịnh Hạ Long?
Vịnh Cửa Lục có diện tích 18 km², đóng vai trò như một cửa sông hình phễu tiếp nhận nước từ sông Diễn Vọng, sông Trới, sông Man. Cửa thông ra vịnh Hạ Long (eo Cửa Lục) chỉ hẹp khoảng 1 km (lạch Cái Dăm đã bị chặn từ năm 1999). Chế độ nhật triều với biên độ triều lớn (lên tới 4,7 m) tạo ra dòng triều mạnh; vào pha triều rút, dòng nước mang theo các chất ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng từ trong vịnh thoát trực tiếp ra vịnh Hạ Long.

2. Các chỉ tiêu chất lượng nước nào tại khu vực vịnh Cửa Lục ghi nhận tình trạng vượt quy chuẩn?
Các chỉ tiêu vượt chuẩn bao gồm: Chì (Pb) tại nước biển ven bờ vượt 2,5 – 5,1 lần QCVN 10-MT:2015/BTNMT (điểm N2 đạt 0,51 mg/l, điểm N9 đạt 0,28 mg/l); Dầu mỡ khoáng vượt ngưỡng 0,5 mg/l tại trạm Cầu Bãi Cháy (đạt 0,805 mg/l năm 2013 và 0,587 mg/l năm 2016) và cảng Làng Khánh; Coliform vượt 1,5 lần tại trạm N5 (đạt 7.000 – 7.350 MPN/100ml) và gấp 8 lần tại cảng Làng Khánh (8.000 MPN/100ml); Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) tại một số mẫu nước ven bờ dao động từ 32 – 81 mg/l do ảnh hưởng bốc xúc than và xi măng.

3. Hoạt động khai thác than phát sinh bao nhiêu lượng nước thải và đất đá thải hàng năm trên địa bàn?
Hoạt động khai thác hầm lò phát sinh 3 – 10 m³ nước thải/tấn than, khai thác lộ thiên phát sinh 2 m³/tấn than và sàng tuyển phát sinh 0,5 m³/tấn than sạch. Tổng lượng nước thải mỏ ước tính trên 30 triệu m³/năm (có pH thấp 4 – 5, chứa nhiều $SO_4^{2-}$, TSS và kim loại nặng) và lượng đất đá thải phát sinh khoảng 150 triệu m³/năm.

4. Kết quả mô phỏng cho thấy hàm lượng COD và BOD5 phân bố như thế nào giữa các mùa và pha triều?
Trong mùa mưa, COD dao động từ 4,5 mg/l (nước lớn) đến 4 – 6,5 mg/l (nước ròng). Vào mùa khô, COD trong vịnh giảm (<5 mg/l khi nước lớn, gần 6 mg/l khi nước ròng). Đối với BOD5, vào mùa khô khi triều cường nước ròng, hàm lượng BOD5 ở phía Đông vịnh Cửa Lục tăng cao đột biến, đạt tới 3 mgO₂/l trên diện tích gần một nửa phía Đông vịnh; dải ven bờ Hòn Gai, Bãi Cháy, Tuần Châu duy trì BOD5 ở mức 1,39 – 1,58 mgO₂/l.

5. Điểm quan trắc nước thải nào ghi nhận ô nhiễm vi sinh Coliform cao nhất trong đợt quan trắc quý IV/2016?
Điểm quan trắc N5 (Khu giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phường Hà Khánh) ghi nhận hàm lượng Coliform đạt mức 7.000 MPN/100ml (kết quả đo chi tiết là 7.350 MPN/100ml), vượt 1,5 lần so với giới hạn cho phép (5.000 MPN/100ml) theo QCVN 40:2011/BTNMT Cột B.

Kết luận

Khóa luận "Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước khu vực Vịnh Cửa Lục" của tác giả Trần Thanh Tùng đã tổng hợp và đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt và nước biển ven bờ khu vực Cửa Lục giai đoạn 2011 – 2016. Kết quả phân tích và mô phỏng đã chỉ rõ các điểm nóng ô nhiễm cục bộ về Chì, dầu mỡ, Coliform và chất hữu cơ ($COD$, $BOD_5$) chịu tác động trực tiếp từ khai thác than, nước thải sinh hoạt đô thị, cụm công nghiệp và hoạt động cảng biển. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng, phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và bảo vệ chất lượng môi trường nước khu vực vịnh Cửa Lục và vịnh Hạ Long.