CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG HUYẾT ÁP 1. Định nghĩa tăng huyết áp Theo tổ chức y tế thế giới, World Health Organization (WHO) và hội tăng huyết áp quốc tế, International Society of Hypertension (ISH) đã thống nhất gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu động mạch ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương động mạch ≥ 90 mmHg, hoặc bệnh nhân đang sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp [121]. Khái niệm về trị số huyết áp bình thường cao được chấp thuận dựa trên thống kê y học. Phân loại tăng huyết áp 1.
Phân loại tăng huyết áp theo Joint National Committee VII (JNC VII) Cách phân loại tăng huyết áp theo Joint National Committee VII (JNC VII) là đang được quan tâm (Bảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VII 2003 [40] Mức độ HA tâm thu HA tâm trương (mmHg) (mmHg) HA bình thường < 120 Và < 80 Tiền THA 120 - 139 Hoặc 80 - 89 THA độ 1 140 - 159 Hoặc 90 - 99 THA độ 2 ≥ 160 Hoặc ≥ 100 THA tâm thu đơn thuần ≥ 140 Và < 90. Theo cách phân loại trên, khi đo HA, nếu cả hai trị số HA tâm thu và HA tâm trương cùng cao, thì độ HA được tính theo độ nặng nhất. Phân chia giai đoạn tăng huyết áp theo WHO 1996 Tổ chức y tế thế giới WHO phân chia THA thành 3 giai đoạn - Giai đoạn 1: Chưa có tổn thương thực thể các cơ quan đích. - Giai đoạn 2: Có ít nhất một trong các tổn thương thực thể sau: o Phì đại thất trái (dựa vào Xquang ngực, điện tâm đồ, siêu âm tim).
o Hẹp động mạch võng mạc khu trú hay lan tỏa (dựa vào soi đáy mắt). o Đạm niệu vi thể, đạm niệu hay tăng nhẹ creatinine huyết tương từ 1,2 - 2 mg/dl. o Phát hiện mảng xơ vữa động mạch cảnh, động mạch chủ, động mạch chậu, động mạch đùi bằng siêu âm hoặc Xquang. - Giai đoạn 3: Tăng huyết áp gây nhiều biến chứng: o Tim: Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim.
o Mắt: Đáy mắt xuất huyết, xuất tiết, phù gai thị. o Thận: Tăng creatinine huyết tương trên 2 mg/dl. o Não: Cơn thoáng thiếu máu não, tai biến mạch máu não. Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp [3] Huyết áp phụ thuộc vào cung lượng tim và sức cản ngoại biên.
Cung lượng tim phụ thuộc vào nhịp tim và thể tích thất trái. Sức cản ngoại biên là lực chống lại dòng máu, phụ thuộc vào chiều dài động mạch, bán kính động mạch và độ nhớt của máu. Tăng huyết áp xảy ra khi có sự tăng cung lượng tim, hoặc tăng sức cản ngoại biện, hoặc cả hai cùng gia tăng. Cung lượng tim liên quan đến tiền tải và sức co bóp của cơ tim, do đó nó liên quan đến thể tích dịch, lượng sodium và hoạt động của cảm thụ beta adrenergic.
Sức cản ngoại biên phụ thuộc vào sự co mạch hay phì đại cấu trúc mạch. Hai yếu tố này bị chi phối bởi nhiều cơ chế bao gồm hệ giao cảm, hệ Renin - Angiotensin - Aldosteron (RAA), các peptid vận mạch, di truyền và stress. Dịch tể học tăng huyết áp Tăng huyết áp hiện nay vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm bởi tỉ lệ mắc bệnh cao và những ảnh hưởng của THA lên chất lượng cuộc sống người bệnh. Nguy cơ phát triển tăng huyết áp trong cả cuộc đời mỗi người là 90% [40].
Tăng huyết áp gia tăng cùng với sự tăng tuổi thọ và tăng các yếu tố thuận lợi như béo phì, ít vận động, stress trong cuộc sống [2]. Số bệnh nhân tăng huyết áp trên toàn thế giới năm 2000 khoảng 1 tỷ người và dự đoán con số này sẽ tăng lên 1,5 tỷ (30 % dân số toàn cầu) vào năm 2025 [61]. Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn cũng tăng dần qua các năm. Các yếu tố nguy cơ tim mạch trong tăng huyết áp Bảng 1.2 Các yếu tố nguy cơ tim mạch theo ESH/ESC 2013 [76] Yếu tố nguy cơ Nam giới.
Rối loạn lipid máu Cholesteron toàn phần > 4,9 mmol/L (190 mg/dL) và/hoặc LDL-C > 3,0 mmol/L (115 mg/dL), và/hoặc HDL-C: nam < 1,0 mmol/L (40mg/dL), nữ < 1,2 mmol/L (46 mg/dL) Triglyceride > 1,7 mmol/L (150 mg/dL). Đường huyết lúc đói: 5,6 - 6,9 mmol/L (102 - 125 mg/dL). Test dung nạp đường huyết bất thường. Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm (nam < 55 tuổi, nữ < 65 tuổi).
Tổn thương cơ quan không triệu chứng. Áp suất mạch (ở người lớn tuổi) ≥ 60 mmHg. Phì đại thất trái trên ECG. Phì đại thất trái trên siêu âm tim.
Dày thành động mạch cảnh (độ dày nội mạc – IMT > 0,9 mm) hay mảng xơ vữa động mạch cảnh. Vận tốc sóng mạch (PWV) cảnh – đùi > 10 m/s. Chỉ số cổ chân/cánh tay < 0,9. BTM với GFR ước tính: 30-60 ml/phút/1,73 m2.
Albumin niệu vi thể (30 - 300 mg/24h), hoặc tỷ số A/C niệu: (30 - 300 mg/g; 3,4 - 34 mg/mmol) (ưu tiên nước tiểu lấy vào buổi sáng). Đái tháo đường Glucose huyết thanh lúc đói ≥ 7,0 mmol/L (126 mg/dL) ở 2 lần đo lặp lại, và/hoặc HbA1c > 7%, và/hoặc Test dung nạp glucose > 11,0 mmol/l (198 mg/dL). Bệnh tim mạch có triệu chứng hoặc bệnh thận đã được xác định. Bệnh mạch máu não: cơn thoáng thiếu máu não, nhồi máu não, xuất huyết não.
Bệnh lý mạch vành: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tái tưới máu cơ tim bằng can thiệp mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Suy tim, kể cả suy tim có phân suất tống máu bảo tồn. Bệnh động mạch ngoại biên chi dưới có triệu chứng. BTM với GFR ước tính < 30 ml/phút/1,73 m2 ; đạm niệu > 300 mg/24h.
Bệnh võng mạc tiến triển: xuất huyết, xuất tiết, phù gai thị. Nguyên nhân tăng huyết áp [22] Về nguyên nhân, hơn 90% là THA vô căn, 10% còn lại là THA thứ phát, trong nhóm THA thứ phát, khoảng 50 % có nguyên nhân từ bệnh thận [9]. Nguyên nhân thường gặp gây tăng huyết áp thứ phát: - Hội chứng ngưng thở lúc ngủ - Bệnh nhu mô thận - Bệnh mạch máu thận - Cường aldosterone nguyên phát - U tủy thượng thận - Hội chứng cushing - Hẹp eo động mạch chủ - Suy giáp (tăng huyết áp tâm trương), cường giáp (tăng huyết áp tâm thu). Một số nguyên nhân ít gặp hơn: do thuốc (ngừa thai, erythropoietin, thuốc chứa adrenalin, …), chế độ ăn uống (dư thừa natri, ăn cam thảo, …), rối loạn nội tiết.
Các tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp 1. Ảnh hưởng lên tim mạch của tăng huyết áp 1. Phì đại thất trái Chẩn đoán phì đại thất trái có thể dựa vào những xét nghiệm đơn giản như điện tâm đồ, siêu âm tim. 85% phì đại thất trái là đồng tâm, 15% là không đồng tâm.
Đây là tổn thương cơ quan đích thường gặp nhất trong tăng huyết áp. Sự hiện diện của phì đại thất trái tăng tần suất nhồi máu cơ tim gấp 3 lần, suy tim gấp 4 lần và đột quỵ gấp 6 lần so với THA chưa có phì đại thất trái [2]. Cả yếu tố di truyền và huyết động đều góp phần vào phì đại thất trái. Kiểm soát huyết áp có thể làm thoái triển phì đại thất trái và làm giảm nguy cơ tim mạch.
Chưa có chứng cớ các nhóm thuốc hạ áp khác nhau có thêm tác dụng làm giảm khối lượng cơ thất trái độc lập với tác dụng hạ áp hay không [72]. Điện tâm đồ là phương pháp đánh giá độ dày của thất trái dựa rên điện thế QRS. Bệnh nhân có phì đại thất trái phát hiện bằng điện tâm đồ là một dấu hiệu cảnh báo nặng, làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành lên 3 lần, suy tim lên 13 lần, tai biến mạch máu não lên 6 lần [5]. Các chỉ số dùng để chẩn đoán phì đại thất trái trên điện tâm đồ: - Tiêu chuẩn Sokolow Lyon [1], có độ nhạy trung bình là 21 % (4 - 51 %), độ đặc hiệu 89 % [82].
- Tiêu chuẩn điện thế Cornell [1], có độ nhạy trung bình là 15 % (2 - 41 %) [82]. - Tiêu chuẩn Romhilt - Estes cho phì đại thất trái [1], có độ nhạy trung bình là 17 % (0 - 41 %), độ dặc hiệu là 95 % [82]. Siêu âm tim là tiêu chuẩn vàng trong các cuộc nghiên cứu phì đại thất trái do dễ thực hiện, không xâm lấn, độ tin cậy cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa khối lượng cơ thất trái qua siêu âm tim và khối lượng cơ thất trái thật qua mổ tử thi, hệ số tương quan rất cao r = 0,92 - 0,96 [107].
Công thức tính khối lượng cơ thất trái theo quy ước của Hiệp hội siêu âm Hoa Kỳ và Hiệp hội hình ảnh học tim mạch Châu Âu [112]: LV mass = 0.6 g Với: IVS: Chiều dày vách liên thất tâm trương. LVID: Đường kính thất trái tâm trương. PWT: Chiều dày thành sau thất trái tâm trương. Đo thực hiện cuối tâm trương, đơn vị cm.
LV mass index (g/m2 ) = LV mass (g) / diện tích da (m2 ). LV mass index: Chỉ số khối cơ thất trái.𝐶𝐶 Diện tích da = √ trong đó CN: cân nặng (kg), CC: chiều cao (cm). 3600 Theo hướng dẫn Hội tăng huyết áp và Hội tim mạch Châu Âu năm 2013 [77] phì đại thất trái được xác định khi: LV mass index: nam >115 g/m2 , nữ > 95 g/m2. Suy tim Tăng huyết áp là nguyên nhân thứ hai gây suy tim sau bệnh mạch vành.
Lúc đầu là suy tim tâm trương, sau đó sẽ ảnh hưởng đến chức năng tâm thu. Các bất thường chức năng tâm trương có thể không triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng. Khoảng một nữa bệnh nhân suy tim có chức năng tâm thu bình thường nhưng rối loạn chức năng tâm trương [80]. Rối loạn chức năng tâm trương là một hậu quả sớm của bệnh tim do tăng huyết áp và được thúc đẩy bởi phì đại thất trái và thiếu máu cục bộ [72].
Thông tim cung cấp đánh giá chức năng tâm trương chính xác nhất. Ngoài ra, chức năng tâm trương có thể được đánh giá bằng các phương pháp không xâm lấn như siêu âm tim và xạ hình tim. Bệnh mạch vành [6] Bệnh nhân tăng huyết áp sẽ tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hoặc các tai biến mạch vành quan trọng khác và có thể tăng nguy cơ tử vong sau một lần nhồi máu cơ tim cấp. Triệu chứng đau ngực hoặc tương đương đau ngực gợi ý bệnh động mạch vành.
Điện tâm đồ lúc nghi cũng giúp khẳng định thêm khả năng có bệnh động mạch vành.