Chương 1: Ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ thơ. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật : | Phong cách ngôn ngừ nghệ thuật : 1.1! Điểm xuất phát : lý luận vẻ đặc trưng của nghệ thuật. của văn nghệ là tính hình tương.3 Đặc trưng của ngôn ngữ văn nghệ thuật. 2, Phan biệt ngôn ngữ nghệ thuật thuộc ba loại thể : trữ tình, tự sự, kịch.
Đặc trưng của ngôn ngữ thơ: 1, Ngôn ngữ thơ giàu tính gợi cắm.1 Nhạc tính trong thơ. Tính hình ảnh (hình ảnh hóa) trong ngôn ngữ thơ.3 Tu từ gợi cảm. Tinh hàm súc - đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ 2. Tu từ hàm súc.
Tu từ cú pháp hàm súc. Chương H : Đặc trưng ngôn ngữ thơ qua phân tích thơ Hồ Xuân Hương. Tính gợi cảm - một đặc trưng trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương. Ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương giàu nhạc tinh, 1.
Nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương .Âm điệu - thanh điệu phương thức tạo nhạc tính trong ngôn ngữ thơ H6 Xuân Hương. Van thơ trong ngôn ngữ thơ nữ sĩ họ Hồ 2. Tinh hình anh - nét đẹp trong ngôn ngữ thơ nữ sĩ họ Hồ.Các biện pháp tu từ gợi cảm. Tính hàm súc - đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương : |.
Hàm súc -da nghĩa nét đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương. Tu từ hàm súc -phương thức tạo tính hàm súc -đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương. Tu từ cú pháp hàm súc. ® Phần kết luận.
® Phan thự mục 8 láng thong kẻ, |. Những bai thơ có yếu tố ngôn ngữ gợi cảm. 2, Những bài thơ có yếu tố ngôn ngữ hàm súc - da nghĩa. CHƯƠNG MỘT SNGON NEL NGHE THUAT VANGONNGU THC 1.
ĐẶC TRUNG CUA NGÔN NGU NGHỆ THUAT : 1. Phong cách ngôn ngử nghệ thuật : 1.1 Điểm xuất phat: lý luận về đặc trưng của nghệ thuật, của văn nghệ thuật là tính hình tượng : a. Hình tượng nghệ thuật : Nghệ thuật là một hình thái ý thức mang tính chất đặc thù, nghệ thuật phản ánh cuộc xông bằng hình tượng. Hình tượng nghệ thuật cũng là một cách để cho con người tự thể hiện mình dựa trên đối tượng cắm xúc và tinh bày đối tượng cảm xúc, ở đó có cd bản thân.
Trong các định nghĩa ngôn ngữ về hình tương thì có một định nghĩa được nhiều người nhắc đến là của Trimôphêép : “Hinh tượng là bức tranh vừa cụ thé vita khải quát về cuộc sống con người, dược vây dung bằng hư cấu và có ý nghĩa mỹ hoc” '"'. Pospelốp : “Hiện nay tứ tưởng cho rằng thuộc tính đặc trưng hàng đầu của nghệ thuật là tính hình tượng được rất nhiễu nhà lý luận tán thành, đặc biệt là những nhà lý luận vuất phát từ ý nghĩa nhân thức của nghệ thuật”. Về hình tượng văn học Pospélop không có câu định nghĩa. Nhưng khái niệm của Ông dùng lại có tư tưởng như Trimophéép : cái chung và cdi cá biệt.
“Cac Ainh tướng bao giờ cũng tdi hién doi sông trong các hiện tượng riêng biệt của nó trong sự thông nhất và vâm nhập vào nhau của các thuộc tính và cá biệt. Hình tượng về con người là sự miêu tả một nhân vật riêng biệt với nhiều đặc điểm riêng biệt của người đó và nhiều chi tiết thuộc cuộc sống chung quanh ta” Tie phẩm nghề thuật là một hệ thống những tế bào hình tượng, khác với các nhà khoa học khác, nhà văn nhà thơ thường không diễn đạt một cách trực tiếp ý nghĩa và tình cắm của minh bằng khái niệm trừu tượng, bằng định nghĩa, định lý mà bằng hình tượng. Nhà văn nhà thy sử dụng hình tượng nghệ thuật để tái hiện cuộc sống nhưng nó không phải là một ban xao chép nguyên si những hiện tượng có thật mà nó tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của mỗi người. Người đọc không chỉ thưởng thức trong hình tướng mót “bức tranh” hiện thực mà còn thưởng thức cá net ve, mau sắc, ca ny CƯỜI, SỰ suY tự ấn hiện trong bức tranh ấy Hình tượng văn học đòi hỏi người đọc phải dùng đến trí tưởng tượng để túi hiện con người và cuộc sống mà nhà văn, nhà thơ miêu tả.
Hình tượng văn học không được trực tiếp trông thấy mà nó chỉ hiện lên trong trí tưởng tượng của người đọc trải qua một quá trình Tamophéép. Nguyên lý ty luận Văn học,H. Dẫn luận nghiên cứu Văn học, Tập 1, Nxb Giáo ducH. dd, Tr57 nghiên ngắm lắng don vào sâu trong ý thie.
Tuy nhiên nếu xét ve kha nang tác dong trực tiếp thì tinh hình tượng van học dù sao cũng bị hạn chế hơn so với hình tượng của các ngành nghệ thuật khác. (Vi dụ : hội hoa dùng mau sắc, đường nét nhờ nó mà hội họa có thể diễn ta được trên một mặt phẳng cả không gian ba chiéu. Am nhạc dùng âm thanh đã được chọn lọc. Van học sứ dụng ngôn ngữ làm phương tiện miêu tá, chính vì vậy mà hình tượng văn học có kha năng dựng lại toàn điện một thời kỳ lich sử, tái hiện những xung đột xã hội trong cả quá trình phát triển của nó.
Phùng Quý Nhâm : “Hinh tượng nghệ thuật là một trong nhiing phu@mne thước đặc thi, chi yếu của xự nhận thức và phan ánh của cuộc sống nghệ thuật “hay * Hình tương nghệ thuật nh là một quá trình và hột nghệ thuật đặc thủ tồn tại trong mol câu trúc nhật định va đặc điểm của loại và thể nghệ thedt*'"' Cdn có. người xem hình tượng nghệ thuật là mội cái gạch nối hay là một cái kênh nối từ hai hình tượng lại với nhau : hình tượng ý đồ và hình tượng tiếp nhận. Hình tượng nghệ thuật là chỗ phân biệt tác phẩm nghệ thuật và các văn ban không phải là nghệ thuật. Ngôn ngữ hình tượng : Hình tượng văn học thường bất đầu từ những chỉ tiết sống thực cho nên ngôn ngữ nghề thuật phải triệt để khai thác phương tiện ngôn ngữ tạo hình biểu cảm để có thể biểu hiện chính xác những chỉ tiết vô cùng thiết yếu cho tác phẩm văn chương, nói cách khác ngôn ngữ có tính hình tượng là ngôn ngữ rất giàu hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm thanh, nhịp điệu.
có khủ năng gây ấn tượng mạnh mẽ, tác động sâu xa vào trí tưởng tượng và cảm nghĩ của người đọc. Nhà nghé sỹ dùng ngôn ngữ để xây dựng hình tượng : “Ngôn ne? nghệ thuật la ngàn ngữ cud các tác phẩm tự sự, trữ tinh và kịch : được sáng tạo theo nguyên tắc hình tương đồng thời là ngôn ngữ trong các van bản khác như ký nghệ thuật, chính luận nghệ thuật, có chịu ảnh hưởng của nguyên tắc hình tượng *'° Ngôn ngữ nghệ thuật trong mot tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng many tính hai mat biểu hiện và miéu tả. Nó có: thể được hiểu như là một tỜ giấy mà có hai mặt vậy; nó dính lién và không tách rời nhau, Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở mặt biểu hiện có xu hướng thể hiện cảm xúc, tình cảm và có cả xu hướng cá thể hóa. Mặt biểu hiện trở thành ngọn nguồn của các hiệu quả khác nhau về ngôn ngữ nghệ thuật .Có thể kể ra như: sự cường điệu, cách điệu hay khoa trương; về cả từ vựng và cú pháp.
Đó là mặt biểu hiện, còn mat miêu tả lại là mat phản ảnh khách thể của nghệ thuật tà ngôn ng? nghệ thuật. Toàn bộ tác phẩm văn chương là lời miêu tả trực tiếp hay gián tiếp con người, nó là một hoạt động tư tưởng và hư cấu bằng chất liệu ngôn ngữ. Ở trong loại van phí nghệ thuật (khoa học tự nhiên, kỹ thuậU) thì mat bộc lộ thái độ tình cảm cúa chủ thé lai không có, hoặc chỉ có yếu tế lý trí mà nó được thể hiện bằng các quan điểm. Ngôn ngữ của các văn bản phi nghệ thuật chỉ đơn thuần nói về người thật, việc Phung Qui Nhâm, Lý luận Van chương sơ giản,ĐHSP, 1986,Tr65.
Lam Vinh (Viet chung với Phùng Qui Nhâm), T1đd, Troag 137. dup thuần ta cảnh quan địa lý, động thực vật Còn ở ngôn ngữ của các văn bản nghệ thuật thi một lời thơ hay một lời kể chuyện. tất cá đều nhằm miều tả trực tiếp hay gián tiếp con người. Chính từ đặc điểm về hình tượng hóa mà ngôn ngữ của văn chương nghệ thuật có mot vai trò, một đặc trưng mà ngôn ngữ các văn bản phi nghệ thuật không có : " No la mot phương tiện mang tính mục đích, một hình thức mang tính nội dung” (Lâm Vinh), 1.2 Dae trưng của ngôn ngữ văn nghệ thuật : a.
Ngôn ngữ đẹp - ngôn ngữ văn đẹp : Ngôn ngữ đẹp và ngôn ngữ văn đẹp đều có những điểm chung đó là việc cả hai đều sứ dụng vốn từ trong dan gian làm nguyên liệu cho chính mình. Thế nhưng cái đẹp của ngôn ng nghệ thuật sé có một khả năng hoàn toàn khác với cái đẹp của ngôn ngữ thuộc các hoạt động ngôn ngữ khác. Có nhiều tác phẩm viết theo lối van chương chính trị, luấn lý. cO sứ dụng từ ngữ dep, cũng có thể trong đó nó sử dụng nhiều biện pháp tu từ cẩn thiết nhưng đó chi là ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ dep mà không phải là ngôn ngữ hình tượng.
Trong ngôn ngữ nghệ thuật, cái mục đích hướng đến của nó không chi là cái đúng mà còn là cái đẹp. nghệ thuật moi mặt là phương tiện để nhà văn vây dựng nên cát dep của văn học, mat khác tự nó cũng phải là một bộ phận của cái đẹp của văn học. Ngon ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của toàn dân đã được các nhà văn nâng lên mức hoàn thiện về mọi mat" Vốn từ của nhân gian được các nhà nghệ sỹ khai thác một cách triệt để, toàn vẹn: nó tổn tại và roi sắng ngay trong ngôn ngữ nghệ thuật. Con người có khả nang chính phục thiên nhiên buộc thiên nhiên quay lại phục vụ cho minh, thì con người cũng có môi khả năng khác nữa đó là khả năng nhào nặn vật chất theo đúng những quy luật của cái đẹp, Quá trình người nghệ sỹ chọn lựa ngôn ngữ để gọt đũa là một quá trình mà theo như Lỗ Tấn có nói thì đó là ; “mi hóa vật tự nhiên”; là sự tổ chức ngôn ngữ theo quy luật của cái đẹp.
Tất nhiên để đạt đến mục đích này thì người nghệ sỹ phải lựa chọn từ ngữ theo một quy luật : dùng sé từ tối thiểu để diễn đạt được ý nghĩa một cách tối đa, đó có thể là một quá trình âm điệu hóa. hay vần điệu hóa mà cũng có thể là nhịp điệu hoá, tu từ hóa .