Luận văn thạc sĩ địa chất dầu khí ứng dụng đặc tính kỹ thuật phương pháp sóng siêu âm ảnh sonic scanner và ứng dụng để nghiên cứu đánh giá tính chất nứt nẻ của đá móng tại giếng hcd 5x mỏ hải cẩu đen bồn trũng cửu long

Luận văn về ứng dụng sóng siêu âm ảnh (Sonic Scanner) để nghiên cứu đặc tính nứt nẻ đá móng tại giếng HCD-5X, mỏ Hải Cẩu Đen, bồn trũng Cửu Long. Phân tích địa chất dầu khí.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Nứt Nẻ Đá Móng Mỏ Hải Cẩu Đen

Các mỏ dầu khí ở Việt Nam chủ yếu là những mỏ nhỏ đến trung bình, sản lượng dầu khai thác chủ yếu nằm trong tầng đá móng nứt nẻ. Vì vậy, việc nghiên cứu tính chất nứt nẻ trong tầng đá móng trở nên cấp thiết nhằm phục vụ công tác thăm dò đánh giá trữ lượng, xây dựng mô hình địa chất mỏ. Việc nghiên cứu tính chất của nứt nẻ gặp rất nhiều khó khăn vì chưa có những phương pháp cụ thể ứng dụng hoàn toàn cho loại đá móng này. Cho đến thời điểm hiện nay, phương pháp sóng siêu âm ảnh (Sonic scanner) là một trong những phương pháp nghiên cứu đánh giá tính chất nứt nẻ trong móng hiệu quả nhất khi kết hợp cùng với các phương pháp khác như hình ảnh vi điện trở (FMI).

1.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Nứt Nẻ Đá Móng

Việc nghiên cứu đặc tính nứt nẻ của đá móng tại Bồn Trũng Cửu Long là vô cùng quan trọng. Nó giúp các nhà địa chất học và kỹ sư dầu khí hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của các thành hệ đá ngầm. Từ đó, có thể tối ưu hóa quá trình thăm dò, khai thác dầu khí, giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả kinh tế. Các thông tin về mật độ nứt nẻ, hướng nứt nẻ, độ mở của nứt nẻ, độ thấm của đá móng đều là những yếu tố quan trọng để đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác của mỏ.

1.2. Giới Thiệu Phương Pháp Sóng Siêu Âm Ảnh Sonic Scanner

Phương pháp sóng siêu âm ảnh (Sonic scanner) bản chất là đo sóng Stoneley truyền qua thành hệ để đánh giá đứt gãy, khe nứt. Sonic Scanner còn cung cấp sóng S (sóng ngang) định hướng phục vụ cho việc tính toán tính chất bất đẳng hướng từ đó xác định góc phương vị đường phương của đứt gãy, khe nứt, ứng suất cực đại và cực tiểu,. Từ cơ sở này sẽ cung cấp cho ta nhiều thông số quan trọng trong việc định hướng cơ sở cho những giếng khoan sau. Sonic scanner còn được ứng dụng trong việc tính toán địa hóa (geomechanics) nhằm hạn chế rủi ro khi khoan qua những thành hệ phức tạp đặc biệt như tầng đá. Theo tài liệu gốc, phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong việc xác định mức độ nứt nẻ và hướng hệ thống khe nứt của đứt gãy.

II. Thách Thức Đánh Giá Độ Rỗng Thấm Đá Móng Nứt Nẻ

Đề đánh giá độ rỗng và độ thấm cho đá móng nứt nẻ bao gồm thành phần magma xâm nhập hoặc phun trào với các kỹ thuật truyền thông được áp dụng cho đá trầm tích thật không dễ dàng. Phương pháp siêu âm ảnh (Sonic Scanner) là một phương pháp hiện đại thực hiện được yêu cầu này, thiết bị siêu âm ảnh với 5 nguồn phát và 13 máy thu (độ phân giải 6 inch) dựa trên phân tích sóng Stoneley để xác định tập hợp các khe nứt, hướng, mật độ và độ mở của chúng đồng thời cho phép xác định độ thấm dựa trên độ linh động của chất lưu.

2.1. Khó Khăn Trong Ứng Dụng Kỹ Thuật Truyền Thống

Các kỹ thuật đánh giá độ rỗng và độ thấm truyền thống thường được thiết kế cho đá trầm tích, nơi cấu trúc và tính chất của đá tương đối đồng nhất. Tuy nhiên, đá móng thường có cấu trúc phức tạp hơn nhiều, với sự hiện diện của các nứt nẻ, đứt gãy và thành phần khoáng vật khác nhau. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng trực tiếp các kỹ thuật truyền thống và đòi hỏi các phương pháp tiếp cận chuyên biệt hơn. Việc xác định chính xác độ rỗng và độ thấm của đá móng nứt nẻ là một thách thức lớn trong công tác thăm dò dầu khí.

2.2. Ưu Điểm Của Phương Pháp Siêu Âm Ảnh Sonic Scanner

Phương pháp siêu âm ảnh (Sonic Scanner) giải quyết thách thức này bằng cách cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc nứt nẻ của đá móng. Với khả năng phân tích sóng Stoneley, thiết bị này có thể xác định các thông số quan trọng như hướng, mật độ, độ mở của khe nứt và độ thấm của đá. Điều này giúp các nhà địa chất học và kỹ sư dầu khí có cái nhìn toàn diện hơn về đá móng, từ đó đưa ra các quyết định chính xác hơn trong quá trình thăm dò và khai thác.

2.3. Độ Tin Cậy Của Phương Pháp Siêu Âm Ảnh Sonic Scanner

Phương pháp sóng siêu âm ảnh còn được áp dụng trong các lĩnh vực khác như địa hóa, địa chấn. Theo tóm tắt luận văn, đây cũng là một trong những phương pháp mới dùng để tính độ thấm tốt hơn và tin cậy hơn các phương pháp địa vật lý giếng khoan truyền thống.

III. Ứng Dụng Phương Pháp Sóng Siêu Âm Ảnh Tại Giếng HCD 5X

Việc nghiên cứu đặc tính kỹ thuật, ứng dụng của phương pháp này tại đá móng Bồn Trũng Cửu Long sẽ khẳng định thêm về tính ưu việt đồng thời trình bày cách ứng dụng sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Luận văn đi vào phân tích cấu tạo, nguyên tắc hoạt động và quy trình xử lý minh giải liệu siêu âm ảnh. Sau đó ứng dụng để xử lý minh giải cho giếng HCD-5X mỏ Hải Cẩu Đen, Bồn Trũng Cửu Long.

3.1. Mục Tiêu Cụ Thể Của Luận Văn

Luận văn này tập trung vào việc phân tích cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của thiết bị siêu âm ảnh, cũng như quy trình xử lý và minh giải dữ liệu thu được. Mục tiêu chính là ứng dụng phương pháp này để xử lý và minh giải dữ liệu từ giếng HCD-5X tại mỏ Hải Cẩu Đen trong Bồn Trũng Cửu Long. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về đặc tính nứt nẻ của đá móng tại khu vực này.

3.2. Các Bước Thực Hiện Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau: Trình bày đặc điểm cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của thiết bị siêu âm ảnh. Trình bày quy trình xử lý tài liệu siêu âm ảnh trong việc nhận dạng nứt nẻ trong đá móng granite Bồn Trũng Cửu Long. Ứng dụng quy trình ở trên tiến hành xử lý và minh giải tài liệu siêu âm ảnh của giếng HCD— 5X mỏ Hải Cẩu Đen Bồn Trũng Cửu Long.

IV. Quy Trình Xử Lý và Minh Giải Dữ Liệu Sóng Siêu Âm Ảnh

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở tài liệu hiện có ở Công ty Liên Doanh Điều Hành Thăng Long, và các sách, tài liệu, bài báo chuyên ngành trong và ngoài. Luận văn đi vào phân tích câu tạo, nguyên lý hoạt động của thiết bị siêu âm ảnh cũng như quy trình xử lý và minh giải liệu này. Khi có kết quả minh giải chang hạn như: hướng, mật độ, độ mở của nứt nẻ,. dựa vào các tài liệu khác như: log hình ảnh vi điện trỏ, tài liệu thử via, mat dung dịch. để đối sánh và xác nhận độ tin cậy của kết quả phân tích siêu âm ảnh.

4.1. Cơ Sở Dữ Liệu và Tài Liệu Tham Khảo

Quá trình nghiên cứu sử dụng một loạt các nguồn tài liệu, bao gồm dữ liệu hiện có từ Công ty Liên Doanh Điều Hành Thăng Long, các sách chuyên ngành, tài liệu khoa học và bài báo trong và ngoài nước. Việc sử dụng đa dạng nguồn tài liệu này đảm bảo tính toàn diện và chính xác của nghiên cứu.

4.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Chi Tiết

Luận văn phân tích chi tiết cấu tạo và nguyên lý hoạt động của thiết bị siêu âm ảnh, đồng thời đi sâu vào quy trình xử lý và minh giải dữ liệu. Các kết quả minh giải, bao gồm hướng, mật độ và độ mở của nứt nẻ, được đối sánh và xác nhận độ tin cậy bằng cách sử dụng các tài liệu bổ sung như log hình ảnh vi điện trở, tài liệu thử via và mặt dung dịch.

4.3. Đối Sánh và Xác Nhận Độ Tin Cậy

Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu sóng siêu âm, bước quan trọng tiếp theo là đối sánh và xác nhận độ tin cậy của kết quả. Điều này được thực hiện bằng cách so sánh các thông tin thu được từ phương pháp sóng siêu âm với các dữ liệu khác như log điện trở, log địa vật lý giếng khoan và các thông tin địa chất khác. Quá trình đối sánh này giúp đảm bảo rằng kết quả nghiên cứu là chính xác và đáng tin cậy.

V. Vị Trí Địa Lý Địa Chất Mỏ Hải Cẩu Đen Lô 15

Bồn trũng Cửu Long được coi là bồn trũng có tiềm năng về Dau Khí lớn của Việt Nam. Các công tác khảo sát địa vật lý tại bồn trũng nay đã được tiến hành từ thập niên 70. Từ năm 1975, khi giếng khoan BH-1X phát hiện dòng dau cong nghiép dau tién trong cat két Miocen dưới cho tới nay, việc khai thác dầu-khí ở bổn tring Cửu Long đã đóng góp rất nhiều cho nên kinh tế của dat nước với hang trăm giếng khai thác đang hoạt động. Hiện nay tại khu vực bổn tring Cửu Long đã hình thành một quân thể khai thác dầu khí đâu tiên va lớn nhất trên thêm lục địa Việt Nam, với mức độ nghiên cứu được coi là tập trung và đây đủ nhất.

5.1. Tổng Quan Bồn Trũng Cửu Long

Bồn trũng Cửu Long có hình bầu dục, vồng ra về phía biển và nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu-Bình Thuận. Bồn trũng Cửu Long được coi là bể trầm tích khép kín điển hình của Việt Nam, được bồi lấp chủ yếu bởi trầm tích lục nguyên Đệ Tam (trầm tích tuổi Kainozoi). Bồn trũng Cửu Long nằm ở phía Đông Bắc thềm lục địa phía Nam Việt Nam với tọa độ địa lý 9° + 11° vĩ độ Bắc; 106°30 + 109° kinh độ Đông, phát triển theo phương Đông Bắc -Tây Nam kéo dài dọc theo bờ biển từ Phan Thiết đến cửa sông Hậu. Bồn trũng Cửu Long có diện tích khoảng 36.000 km”, phía Tây Bắc tiếp giáp với đất liền, phía Đông Nam ngăn cách với bồn trũng Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, ở phía Tây Nam của bồn trũng Cửu Long là đới nâng Khorat Natuna ngăn cách với bồn trũng Malay và phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bồn trũng Phú Khánh.

5.2. Các Yếu Tố Kiến Trúc Bồn Trũng Cửu Long

Việc phân chia các đơn vị cấu tạo được dựa trên đặc điểm cấu trúc địa chất của từng khu vực với sự khác biệt về chiều dày trầm tích và thường được giới hạn bởi những đứt gãy hoặc hệ thống đứt gãy có biên độ đáng kể. Nếu coi Bồn Trũng Cửu Long là cấu trúc bậc 1 thì cấu trúc bậc 2 của bể bao gồm các đơn nghiêng (Tây Bắc, Đông Nam) và các trũng sâu.

VI. Kết Luận và Kiến Nghị Cho Nghiên Cứu Tiếp Theo

Luận văn còn bao gồm một số hình vẽ và bảng biểu. Luận văn được hình thành không tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Kính mong được sự thông cảm của quý thầy cô và các bạn. Đoàn Thị Mỹ Dung 1X Chương VỊ địa đặc điểm địa kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — bôn trũng Cửu Long.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu Chính

Phần kết luận cần tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu chính đạt được, nhấn mạnh những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn. Đồng thời, cũng cần chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo để khắc phục những hạn chế này.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Phần kiến nghị cần đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo, có thể là mở rộng phạm vi nghiên cứu, áp dụng các phương pháp mới hoặc tập trung vào các vấn đề còn tồn tại. Mục tiêu là tiếp tục nâng cao hiểu biết về đặc tính nứt nẻ của đá móng và tối ưu hóa quy trình khai thác dầu khí tại Bồn Trũng Cửu Long.

29/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn tring Cửu Long tạo khác. Vào đầu Kainozoi do sự va mạnh ở góc hội tụ Tây Tạng giữa các mảng An Độ và Âu-Á làm vi mảng Indosina bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãy trượt bằng lớn như đứt gãy sông Hồng, Sông Hậu - Ba Chùa, với xu thế trượt trái ở phía Bac và trượt phải ở phía Nam tạo nên các trũng Đệ Tam trên các đới khâu ven ria, trong đó có bổn tring Cửu Long. Kết qua là đã hình thành các hệ thống đứt gãy khác có hướng gan Đông Bắc- Tây Nam. Như vậy, trong bổn trũng Cửu Long bên cạnh hướng Đông Bắc - Tây Nam còn có các hệ đứt gãy có hướng cận ké chúng.

Trong Oligocene quá trình giãn đáy biển theo hướng Bắc - Nam tạo Biển Đông bắt dau từ 32 triệu năm. Trục giãn day biển phat triển lân dân xuống Tây Nam và đôi hướng từ Dong - Tây sang Đông Bắc - Tây Nam vào cuối Oligocen. Các quá trình này đã gia tăng các hoạt động tách giãn và đứt gãy ở bổn tring Cửu Long trong Oligocene và nén ép vào cuối Oligocene. Hoạt động nén ép vào cuối Oligocene muộn đã day trôi các khối móng sâu, gây nghịch đảo trong trầm tích Oligocene ở trung tâm các trũng chính, làm tai hoạt động các đứt gãy thuận chính ở dạng ép chờm, trượt bang va tạo nên các cau truc “trồi”, các cầu tạo dương/âm hình hoa, phát sinh các đứt gay nghịch ở một số nơi như trên cầu tạo Rạng Đông, phía Tây câu tạo Bạch Hồ và một số khu vực mỏ Rồng.

Đồng thời xảy ra hiện tượng bao mòn và vat mỏng mạnh các trầm tích thuộc hệ tâng Trà Tân trên. Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và không chỉnh hợp góc rộng lớn ở nóc trầm tích Oligocen đã đánh dâu sự kết thúc thời kỳ đồng tạo rift. Thời kỳ sau tạo rift: vào Miocene sớm, quá trình giãn đáy biển Đông theo phương Tây Bắc-Đông Nam đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Miocen sớm (cách đây 17 triệu năm), tiếp theo là quá trình nguội lạnh vỏ. Trong thời kỳ đầu Miocene sớm các hoạt động đứt gãy vẫn còn xảy ra yếu và chỉ chấm dứt hoản toàn vào Miocene giữa-đến hiện tại.

Các trâm tích của thời kỳ sau rif có đặc điểm chung là: phân bố rộng. không bị biến vị, uốn nép va gan nhu nam ngang. Tuy nhiên, ở bổn tring Cửu Long các quá trình này van gây ra các hoạt động tái căng giãn yếu, lún chìm từ từ trong Miocene sớm và hoạt động nui lửa ở một số nơi, đặc biệt ở phần Đông Bắc bồn tring. Vào cuối Miocene sớm trên phan lớn diện tích bổn tring, nóc trầm tích Miocene dưới - hệ tang Bạch Hồ được đánh dau băng biến cé chìm sâu của bổn trũng với sự tạo thành tang “sét Rotaliđ” biển nông rộng khắp và tạo nên tầng đánh dấu địa tầng và tang chắn khu vực khá tốt cho toàn bộ bổn triing.

Cuối Miocene sớm toàn bổn trũng trải qua quá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu. Vào Miocene giữa, lún chìm nhiệt tiếp tục gia tăng và biển đã có ảnh hưởng rộng lớn đến hầu hết các vùng quanh Biển Đông. Cuối thời kỳ này có một pha nâng lên, dẫn đến sự tái thiết lập điều kiện môi trường sôngở phan Tây Nam bén tring, còn ở phan Đông, Đông Bắc thi điều kiện ven bờ van tiếp tục được duy trì. HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 7 CBHD: TS.

Nguyén Quéc Quan Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn tring Cửu Long Miocene muộn được đánh dấu bang sự lún chìm mạnh ở Biển Đông và phần rìa của nó, khởi đầu quá trình thành tạo thêm lục địa hiện đại Đông Việt Nam. Núi lửa hoạt động tích cực ở phần Đông Bắc bổn tring Cứu Long, Nam Côn Sơn và phan đất liền Nam Việt Nam. Pliocene là thời gian biển tiễn rộng lớn và có lẽ đây là lần đầu tiên toàn bộ vùng Biển Đông hiện tại nam dưới mực nước biển. Các tram tích hạt min hơn được vận chuyển vào vùng bổn tring Cửu Long và đi xa hơn sẽ tích tụ vào bổn tring Nam Côn Son trong điều kiện nước sâu hơn.3 Các thành tạo địa chat Bồn tring Cửu Long được lấp đây bởi tập hợp các đất đá lục nguyên có tướng lục địa ven bờ chịu ảnh hưởng của biển, trong đó có tướng các châu thổ, giữa châu thổ, dưới châu thổ.

Bồn tring Cửu Long đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà địa chat với các phương pháp khác nhau như: địa chan địa tang, cổ sinh địa tầng, thạch địa tang, phân tích carota. Nhiều sơ đồ liên kết được nhiều tác giả đưa ra không những khác nhau về tên các địa tâng mà còn khác nhau vê ranh giới gitra chung. Ngày nay với những tài liệu mới về phân tích mẫu vụn, mẫu lõi và các tài liệu phân tích cổ sinh thu thập được từ các giếng khoan của các công ty dau khí trong nước cũng như nước ngoài đã khoan trong phạm vi bồn trũng Cửu Long cho thấy bổn tring bao gồm các thành tạo móng trước Kainozoi và các trầm tích Kainozoi phủ lên trên (hình 1. HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 8 CBHD: TS.

Nguyễn Quốc Quân Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn trũng Cửu Long .6 | +2] MOTATHACHHOC |" Moi trường|= TUOng!s © 2 = = L = =. ¬s|” | z§ tram tích |2: h š — ao: e | & = > wo) P| Su Š * ‹. «8 ~ da: ©) ce) CLIO Cát hạt thô, bd rời, sét, xen = < a kẽ lớp carbonat, than, hóa k2 © vỗ CLI thạch: Dacrydium. a = ” = (A) A ~ CL20 on < ws = “ CL2 Cát thô- mịn.

sét, các via s le 2 9 (BHU carbonat, than, hóa thạch: “4 E ⁄ a5 S «O Stenoclaena. 5 - a fal h © -Ã > = CL30 5 ễ eo ? re) a Š 2 CL3 Cát, sét, carbonat và than, =ẰS | s O & (BI) hóa thạch: F. 2 _ CL40 ˆ A | _ sò > Ð N CL4-I = ea bì Ke) (By | @ a SS & rs S'q& | Cát kết, bột kết, sét và sét cà < 5 = ` > ® | kết xen kẽ và hóa thạch: “3 E s fa) ở Í CHI Oe cea a oeclak i ae = ae +. es [sa] -2 , a4 ‘By | ® = X | Cá tia mạch đá magma mafic la ° > ~ CL§U | C1 (C) CLãI = = = Ke 1 c52 #-_.

| Sét kết, bột kết và cát kết = » 9 5 E (Db) | @ | = 5 g | xen xen kẽKe vàVa hóaNoa thạch: thạch: “. © | E Trilobata, Verutricolporites, = 5 = 4 CLS2 s3 — | Cieatricosiporites, & e “| © CL5-3 5 Có tia mach đá magma mafic ay < os 5 (E) ® 8 6| © CL60 kẻ = CL6-1 Sb £ 8 5 CL6L | ?: Cát kết, sét kết và cát bột =‘ a A < Œ2 E kết xen kẽ. Bào tử phấn: ES Ẽ (Fl). e = Oculopollis, Magnastriatites, a = 4 cL70 — 28 : Z = s2 : = SI 6 = = | Sạn cuội kết xen lớp sét Qs s Đ cL? = mỏng.

Bào tử phấn: Es 5 a < Ờ ~ | Trudopollis, Plicapollis rudopollis, Plicapollis. es š CL80 CLs + (M) ® = 8 Móng granit, granodiorit, 5. TRƯỚC KAINOZOI đá biến chất nứt nẻ.3: Cột địa tầng tổng hợp bồn trũng Cửu Long HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 9 CBHD: TS. Nguyễn Quốc Quân Chương 1: VỊ trí địa lý, đặc điểm địa chất, kiến tạo và tiềm năng dau khí của cấu tạo Hải Cầu Den — lô 15, bôn tring Cửu Long 1.

Móng trước Kainozoi Về mặt thạch học đá móng có thê xép thanh 2 nhom chinh: granit va granodiorit — diorit, so sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với đá móng kết tinh ngoài khơi bồn trũng Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thé xếp tương đương với ba phức hệ Hòn Khoai, Dinh Quán và Ankroet [4,tr. 282] có tudi từ Triat muộn đến Kreta muộn. Hau hết da móng bị biến đối bởi các quá trình kiến tạo và nhiệt dịch khắp nơi, ngay tại đỉnh của móng tồn tại đới phong hoá với chiều dày lên đến vài chục mét. Ngoài ra, đá móng còn bị xuyên cắt bởi đai mạch diabaz, diorit hay monzodiorit (9).

Phức hệ Hòn Khoai: có thể được xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong móng của bổn trũng Cửu Long, phức hệ có tuổi Triat muộn, có giá trị tuổi đồng vị từ 195 đến 250 triệu năm. Thành phan thạch học chủ yếu là: diorit, amphybol, biotit, monzonit và adamelit. Đá bị biến đồi, cà nát mạnh. Phức hệ này phân bố chủ yếu ở phan cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hồ.

Phức hệ Định Quán: có tuổi Jura muộn, tudi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155 triệu năm. Thanh phan thạch học chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit-thach anh. Đá thuộc loạt kiềm vôi, có thành phan acid vừa phải, hàm lượng SiO, dao động 63-67%. Các thành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ giập vỡ và biến đổi cao.

Trong đới biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hóa. Phức hệ Dinh Quan khá phổ biến ở các cau tạo như: Bạch Hồ (vòm Bắc), Ba Vi. Phức hệ Ankroet: là phức hệ magma phat triển và gặp phổ biến trên toàn bộ bổn tring Cửu Long. Phức hệ nay có thành phan thạch học đặc trưng là đá granit hai mica, thuộc loại Natri-Kali, cao nhôm (AI=2.98%), S1O; (~69%) và nghèo Ca.

Đá có tuổi Kreta muộn, tuổi tuyệt đối khoảng 90-100 triệu năm. Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tạo đồng tao núi va phân bố dọc theo hướng trục của bề. Da bi dap vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứ sinh yếu hơn so với hai phức hệ trước. Trong các thành tạo magma xâm nhập đã biết thường gặp các đai mạch có thành phần thạch học khác nhau từ acid đến trung tính-bazơ, bazơ và thạch anh.

Tại một số nơi, như khu vực mỏ Rồng còn gặp đá biến chất nhiệt động như paragneis hoặc orthogneis. Các đá này thường có mức độ giập vỡ và biến đổi kém hơn so với đá xâm nhập. HVTH: Đoàn Thị Mỹ Dung 10 CBHD: TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ