ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con ngƣời. Nƣớc trong tự nhiên bao gồm toàn bộ nƣớc từ các đại dƣơng, biển vịnh , ao hồ, sông suối, nƣớc ngầm… Trên trái đất nƣớc ngọt chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với nƣớc mặn. Nƣớc mặt rất cần thiết cho sự sống và phát triển, nƣớc giúp cho các tế bào sinh vật trao đổi chất, tham gia vào các phản ứng sinh hóa và tạo nên các tế bào mới. Vì vậy, có thể nói rằng ở đâu có nƣớc thì ở đó có sự sống.
Nƣớc đƣợc dùng cho đời sống, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Sau khi sử dụng thì nƣớc trở thành nƣớc thải và chúng sẽ bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau. Ngày nay, cùng với sự bùng nổ dân số và tốc độ phát triển cao của các ngành công, nông nghiệp…. Chúng đã để lại rất nhiều hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nƣớc.
Vấn đề này đang là mối nguy đáng lo ngại cho rất nhiều ngƣời cũng nhƣ rất nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam hiện nay phần lớn nƣớc thải sinh hoạt chƣa đƣợc xử lý và đƣợc thải bỏ ra sông, hồ, ao, các con kênh, rạch… Vì vậy, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc và bốc mùi khó chịu, làm mất mỹ quan và ảnh hƣởng lớn tới sức khỏe của con ngƣời và các loài động vật sống gần khu vực xả thải. Đặc biệt tại các khu tập trung đông dân cƣ nhƣ các khu đô thị thì vấn đề nƣớc thải rất cần đƣợc quan tâm đến. Để cải thiện chất lƣợng môi trƣờng nƣớc em xin thực hiện đề tài cho bài khóa luận tốt nghiệp: “ Nghiên cứu đặc tính nƣớc thải sinh hoạt khu đô thị Văn Phú, Hà Đông và đề xuất biện pháp xử lý thích hợp” 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nguồn gốc nƣớc thải sinh hoạt [15,16] Nƣớc thải sinh hoạt, xử lý nƣớc thải sinh hoạt là khái niệm đƣợc nhắc đến nhiều trong cuộc sống do tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc sinh hoạt ngày càng nặng, vì vậy cần có các giải pháp để xử lý nƣớc thải sinh hoạt phù hợp. Trƣớc đó chúng ta cần tìm hiểu nƣớc thải sinh hoạt là gì? Đặc điểm và phân loại của nó nhƣ thế nào để tìm ra giải pháp xử lý, sử dụng phù hợp. Nƣớc thải sinh hoạt là loại nƣớc đƣợc thải ra từ quá trình sử dụng nƣớc hàng ngày nhƣ tắm giặt, rửa, vệ sinh,… của các hộ gia đình, văn phòng, trƣờng học, bệnh viện,… Nƣớc thải này thƣờng có nồng độ ô nhiễm cao do chứa các chất độc hại nhƣ chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu, hóa chất, vi khuẩn, vi sinh vật, Nitơ, Photpho, BOD5, COD,… đƣợc thải ra trong quá trình sử dụng sinh hoạt. Các chất này rất độc hại, ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe của con ngƣời đặc biệt là virus, vi khuẩn, giun sán,… Với thực trạng nguồn nƣớc thải sinh hoạt đang bị ô nhiễm nặng 1 phần lớn là do cách xử lý, thải nƣớc thải trong quá trình sinh hoạt không đúng cách.
Vì vậy cần giải quyết vấn đề này để đảm bảo môi trƣờng, cũng nhƣ đảm bảo sức khỏe con ngƣời. Để nắm đƣợc phƣơng pháp xử lý nƣớc thải sinh hoạt tốt nhất cần đi phân tích về đặc điểm và phân loại nƣớc thải sinh hoạt. Nƣớc thải sinh hoạt đƣợc phân loại thành các loại nhƣ sau: Nƣớc thải do bài tiết của con ngƣời: loại nƣớc thải này có màu, mùi và chứa các thành phần chủ yếu nhƣ các chất hữu cơ: phân, nƣớc tiểu, cặn bẩn lơ lửng, tạp chất và các virus, vi sinh vật gây bệnh. Các thành phần ô nhiễm nhƣ BOD5, COD, Nitơ, Photpho chiếm tỷ lệ lớn gây nên hiện tƣợng phú dƣỡng ảnh hƣởng tiêu cực đến các hệ sinh thái nƣớc, hồ, tăng mức độ ô nhiễm không khí, ảnh hƣởng đến sinh hoạt của các khu dân cƣ, dân phố… Nƣớc thải này đƣợc thu gom và phân hủy 1 phần trong bể tự hoại đƣa nồng độ các chất hữu cơ về 2 ngƣỡng để phù hợp với quá trình xử lý sau đó.
Tuy nhiên, để phòng tránh, giảm thiểu mức độ ảnh hƣởng của loại nƣớc thải này đến sinh hoạt nên sử dụng men vi sinh môi trƣờng để cho vào bể tự hoại qua bồn cầu để khử mùi hôi, các chất hữu cơ, để nƣớc trong hơn, ít vi khuẩn và không bị tắc nghẽn bồn cầu Nƣớc thải từ khu vực nấu, rửa ở nhà bếp. Nƣớc thải khu vực này thƣờng qua quá trình rửa rau, củ quả, vệ sinh bát đĩa, xoong nồi,… cho việc nấu nƣớng nên thƣờng chứa nhiều dầu mỡ, lƣợng rác, cặn cao và một phần chất tẩy rửa. Vì vậy cần tách mỡ trƣớc khi đƣa vào hệ thống nƣớc thải bằng cách sử dụng phƣơng pháp hút dầu mỡ trong nƣớc thải hoặc bẫy mỡ để mỡ không bám vào thành cống gây tắc nghẽn, khó thoát nƣớc và bốc mùi hôi. Nƣớc thải từ khu vực sử dụng để tắm giặt.
Nƣớc thải từ khu vực tắm giặt này hầu nhƣ chỉ chứa các thành phần hóa chất từ chất tẩy rửa nhƣ xà phòng, bột giặt, sữa tắm… Nƣớc thải này cần có phƣơng pháp xử lý riêng, khác biệt so với các loại nƣớc thải trên. Để bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trƣờng sống các cơ sở ban ngành cần đƣa ra các giải pháp cấp bách để xử lý nƣớc thải sinh hoạt an toàn và hiệu quả nhất. Nƣớc thải sinh hoạt thƣờng đƣợc thải ra từ các căn hộ, cơ quan, trƣờng học, bệnh viện, chợ và các công trình công cộng khác. Lƣợng nƣớc thải sinh hoạt của một khu dân cƣ phụ thuộc vào dân số, vào tiêu chuẩn cấp nƣớc và đặc điểm của hệ thống thoát nƣớc.
Nƣớc sinh hoạt ở các trung tâm đô thị thƣờng đƣợc thoát bằng hệ thống thoát nƣớc dẫn ra kênh rạch, còn ở các vùng ngoại thành và nông thôn do không có hệ thống thoát nƣớc thải nên nƣớc thải thƣờng đƣợc tiêu thoát tự nhiên vào các ao hồ hoặc thoát bằng biện pháp tự thấm. Thành phần và đặc tính nƣớc thải sinh hoạt [16] Trong nƣớc thải có chứa nhiều chất hữu cơ nên có nhiều vi sinh vật sinh sống và sử dụng nguồn chất hữu cơ đó nhƣ là nguồn dinh dƣỡng để sinh trƣởng và tăng sinh khối. Thành phần sinh học trong nƣớc thải bao gồm: Tảo: tảo trong nƣớc thải đƣợc xếp vào nhóm thực vật nổi của nƣớc, chúng sống chủ yếu nhờ quang hợp, chúng sử dụng CO2 cùng với nguồn Nito 3 và Photpho, vì vậy nƣớc thải là môi trƣờng thích hợp cho tảo tăng sinh khối. Mặt khác, việc tăng nhanh sinh khối tảo cũng là nguồn gây ô nhiễm thứ cấp của nƣớc thải khi tảo chết.
Động vật nguyên sinh: thuộc nhóm sinh vật sống trôi nổi trong nƣớc và là một dạng chỉ thị cho nƣớc, vì nếu có sự xuất hiện của chúng thì chứng tỏ nƣớc đƣợc xử lý hiệu quả và nƣớc thải không có độc tính. Thức ăn của những động vật nguyên sinh trong nƣớc thải là các vụn hữu cơ hay tảo và vi khuẩn. Hệ vi sinh vật trong nƣớc thải: vi sinh vật là những sinh vật nhỏ bé, đơn bào hay sống tập trung, tồn tại với số lƣợng rất lớn trong tự nhiên. Trong nƣớc thải, vi sinh vật xâm nhập vào thông qua nhiều con đƣờng khác nhau: từ phân, nƣớc tiểu, rác thải sinh hoạt, nƣớc thải hộ gia đình, rác thải sinh hoạt, rác thải bệnh viện, không khí.
Hệ vi sinh vật trong nƣớc thải cũng khá đa dạng, bao gồm nhiều loại nhƣ: vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, xoắn thể, xạ khuẩn, virus, thực thể khuẩn,… nhƣng chủ yếu là vi khuẩn. Vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ làm sạch nƣớc thải. Theo phƣơng thức dinh dƣỡng vi khuẩn đƣợc chia làm hai nhóm chính: - Vi khuẩn dị dƣỡng: là những vi khuẩn sử dụng chất hữu cơ làm nguồn cacbon dinh dƣỡng và làm năng lƣợng cho hoạt động sống, xây dựng tế bào, phát triển,… Có 3 loại vi khuẩn dị dƣỡng: vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn kị khí và vi khuẩn tùy nghi. - Vi khuẩn tự dƣỡng: là những vi khuẩn có khả năng oxy hóa chất vô cơ để thu năng lƣợng và sử dụng CO2 làm nguồn cacbon cho quá trình sinh tổng hợp.
Những vi khuẩn nhóm này gồm: vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn sắt, vi khuẩn lƣu huỳnh,… Nƣớc thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Thành phần chủ yếu của nƣớc thải sinh hoạt là các chất hữu cơ, bao gồm các chất hữu cơ dễ bị phân hủy và các chất hữu cơ khó phân hủy. Các chất 4 dễ phân hủy nhƣ nhƣ cacbonhydrat, protein chủ yếu làm suy giảm lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc dẫn đến suy thoái tài nguyên thủy sản và làm giảm chất lƣợng nƣớc mặt. Các chất khó phân hủy gồm nhiều hợp chất hữu cơ tổng hợp.
Hầu hết chúng có độc tính với sinh vật và con ngƣời. Chúng tồn tại lâu dài trong môi trƣờng và cơ thể sinh vật gây độc tích lũy, ảnh hƣởng nguy hại đến cuộc sống. Chất rắn lơ lửng hạn chế độ sâu tầng nƣớc đƣợc ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hƣởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong, rêu,… Chất rắn có khả năng gây trở ngại cho phát triển thủy sản nếu chúng có nồng độ cao. Ngoài ra các loại vi sinh vật gây bệnh hiện hữu trong nƣớc thải đƣa ra sông góp phần làm cho các bệnh, đặc biệt là các bệnh đƣờng ruột (thƣơng hàn, tả, lỵ,…) gia tăng do lây lan qua đƣờng ăn uống và sinh hoạt.
Các chỉ tiêu đánh giá nƣớc thải sinh hoạt: Độ pH: là một trong những chỉ tiêu xác định đối với nƣớc cấp và nƣớc thải. Chỉ số này cho biết có cần phải trung hòa hay không và tính lƣợng hóa chất cần thiết trong quá trình xử lý đông keo tụ, khử khuẩn,… Trị số pH thay đổi sẽ ảnh hƣởng đến quá trình hòa tan, keo tụ, làm tăng hay giảm tốc độ phản ứng, nó ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của vi sinh vật có trong nƣớc. pH của nƣớc thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý nƣớc thải. Trong thực tế, các công trình xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp sinh học thƣờng làm việc tốt trong khoảng pH từ 7-7,6.
Thƣờng vi sinh vật phát triển tốt nhất trong môi trƣờng trung tính pH từ 7-8. Các nhóm vi sinh vật khác nhau có mức giới hạn pH khác nhau, ví dụ vi khuẩn nitrit phát triển thuận lợi ở khoảng pH từ 4,8- 8,8 còn vi khuẩn nitrat thì pH từ 6,5-9,3.