Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng các yếu tố liên quan và kết quả điều trị viêm phổi bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện đa khoa trung tâm an giang năm 2018 2019

Chuyên khảo y tế phân tích Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng các yếu tố liên quan và kết quả điều trị viêm phổi bệnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2019

111
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Viêm phổi bệnh viện

1.2. Lâm sàng, cận lâm sàng viêm phổi bệnh viện

1.3. Một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi bệnh viện

1.4. Điều trị viêm phổi bệnh viện

1.5. Tình hình nghiên cứu về viêm phổi bệnh viện

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân viêm phổi bệnh viện

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi bệnh viện

3.3. Kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị viêm phổi bệnh viện

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân viêm phổi bệnh viện

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi bệnh viện

4.3. Kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị viêm phổi bệnh viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: BẢNG ĐIỂM GLASGOW

PHỤ LỤC 3: ĐIỂM APACHE II PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH

PHỤ LỤC 4: DANH SÁCH BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Viêm Phổi Bệnh Viện Tại An Giang Khái Niệm

Hiện nay, viêm phổi bệnh viện là một trong những nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp nhất, và tỷ lệ này đang gia tăng. Các nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ tử vong do viêm phổi bệnh viện rất cao, từ 30-70%. Đặc biệt, viêm phổi bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị và tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân nặng. Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao. Tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, chẩn đoán chậm trễ và lựa chọn kháng sinh ban đầu không phù hợp cũng góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong. Cần có nghiên cứu hệ thống về đặc điểm, yếu tố liên quan và kết quả điều trị viêm phổi bệnh viện tại An Giang để cải thiện tình hình.

1.1. Định Nghĩa Viêm Phổi Bệnh Viện Theo Hướng Dẫn ATS IDSA

Theo hướng dẫn năm 2016 của Hội lồng ngực Mỹ (ATS) và Hội bệnh nhiễm trùng Mỹ (IDSA), viêm phổi bệnh viện (VPBV)viêm phổi xuất hiện sau khi nhập viện 48 giờ và không thở máy. Dựa vào thời gian, VPBV chia làm 2 loại: VPBV xuất hiện sớm (trước 5 ngày) và VPBV xuất hiện muộn (sau 5 ngày). Căn nguyên gây bệnh và tỷ lệ kháng kháng sinh khác nhau giữa hai loại này.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Viêm Phổi Bệnh Viện Tại An Giang

Trong vài năm gần đây, tình hình viêm phổi bệnh viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào mang tính hệ thống về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố liên quan cũng như kết quả điều trị viêm phổi bệnh viện tại đây. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm và đánh giá kết quả điều trị.

II. Thách Thức Chẩn Đoán Viêm Phổi Bệnh Viện Yếu Tố Cần Lưu Ý

Chẩn đoán viêm phổi bệnh viện gặp nhiều thách thức do triệu chứng không đặc hiệu và sự chồng lấp với các bệnh lý khác. Các yếu tố như sốt, thay đổi ý thức, đàm mủ, ho, khó thở, ran phổi, tăng bạch cầu, tăng CRP, tăng Procalcitonin và tổn thương trên X-quang phổi cần được đánh giá cẩn thận. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yếu tố này có thể do nhiều nguyên nhân khác gây ra, không chỉ riêng viêm phổi. Việc chẩn đoán sớm và chính xác là yếu tố then chốt để cải thiện kết quả điều trị.

2.1. Triệu Chứng Lâm Sàng Không Đặc Hiệu Của Viêm Phổi Bệnh Viện

Sốt là triệu chứng thường gặp, nhưng có nhiều yếu tố có thể gây nên sốt. Dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc như môi khô, lưỡi bẩn cũng cần được xem xét. Rối loạn ý thức có thể xảy ra khi có suy hô hấp nặng. Ngoài ra, nhịp tim nhanh và huyết áp thay đổi cũng là những dấu hiệu cần lưu ý.

2.2. Vai Trò Của Cận Lâm Sàng Trong Chẩn Đoán Viêm Phổi Bệnh Viện

Công thức máu có thể cho thấy bạch cầu tăng hoặc giảm, nhưng dấu hiệu này không phải lúc nào cũng xuất hiện. CRPProcalcitonin tăng cho thấy tình trạng viêm, nhưng cũng có thể thay đổi trong các bệnh lý khác. Khí máu động mạch và X-quang phổi là những xét nghiệm quan trọng để đánh giá tình trạng hô hấp và tổn thương phổi.

2.3. Tầm Quan Trọng Của X Quang Phổi Trong Chẩn Đoán Viêm Phổi Bệnh Viện

X-quang phổi là phương tiện cận lâm sàng quan trọng hàng đầu đối với viêm phổi, với đặc điểm là tổn thương mới xuất hiện hoặc tổn thương tiến triển trên phim phổi và không mất đi nhanh. Các dạng tổn thương có thể gặp là thâm nhiễm, đông đặc, tạo hang. Cần phân biệt với các bệnh lý phổi khác.

III. Phương Pháp Xác Định Tác Nhân Gây Viêm Phổi Bệnh Viện Hiệu Quả

Việc xác định tác nhân gây viêm phổi bệnh viện là rất quan trọng để lựa chọn kháng sinh phù hợp. Các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn bao gồm nhuộm gram, cấy máu, cấy đàm và xét nghiệm kháng sinh đồ. Cấy đàm được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân nghi ngờ VPBV, trước khi điều trị kháng sinh. Phương pháp lấy bệnh phẩm có thể là xâm nhập hoặc không xâm nhập, tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân và điều kiện cơ sở y tế. Kết quả kháng sinh đồ giúp xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với các loại kháng sinh.

3.1. Kỹ Thuật Nhuộm Gram Và Cấy Máu Trong Chẩn Đoán Viêm Phổi Bệnh Viện

Nhuộm gram là kỹ thuật cơ bản và quan trọng nhất trong phân tích vi khuẩn ở giai đoạn đầu, giúp định hướng sơ bộ vi khuẩn có trong mẫu đàm. Cấy máu được thực hiện một cách hệ thống cho bệnh nhân nghi ngờ VPBV, lấy 2 mẫu máu ở 2 vị trí khác nhau.

3.2. Phương Pháp Cấy Đàm Xâm Nhập Và Không Xâm Nhập

Cấy đàm được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân ngay khi nghi ngờ VPBV, trước khi điều trị kháng sinh. Bệnh phẩm có thể lấy bằng phương pháp xâm nhập (ví dụ: rửa phế quản phế nang) hoặc không xâm nhập (ví dụ: đàm khạc). Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng.

3.3. Ý Nghĩa Của Xét Nghiệm Kháng Sinh Đồ Trong Điều Trị Viêm Phổi Bệnh Viện

Kháng sinh đồ là xét nghiệm dùng để thử nghiệm độ nhạy cảm của kháng sinh với vi khuẩn gây bệnh. Kết quả kháng sinh đồ giúp lựa chọn kháng sinh phù hợp, tránh tình trạng sử dụng kháng sinh không hiệu quả và làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh.

IV. Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Viêm Phổi Bệnh Viện Tại Hồi Sức Tích Cực

Nhiều yếu tố nguy cơ có liên quan đến viêm phổi bệnh viện, bao gồm thời gian nằm viện, tuổi cao, bệnh mạn tính, hút thuốc lá, hôn mê, giảm albumin máu, dùng thuốc ức chế bơm proton kéo dài, suy giảm chức năng các cơ quan và các thủ thuật như đặt sonde dạ dày, hút đàm. Các yếu tố liên quan đến thông khí nhân tạo cũng làm tăng nguy cơ viêm phổi liên quan đến thở máy (VAP). Hiểu rõ các yếu tố nguy cơ giúp phòng ngừa viêm phổi bệnh viện hiệu quả.

4.1. Vai Trò Của Thời Gian Nằm Viện Và Bệnh Nền Trong Nguy Cơ Viêm Phổi Bệnh Viện

Thời gian nằm viện kéo dài làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh trong bệnh viện. Bệnh nhân có bệnh mạn tính (ví dụ: COPD, đái tháo đường) thường có hệ miễn dịch suy yếu, dễ mắc viêm phổi hơn.

4.2. Ảnh Hưởng Của Thuốc Ức Chế Bơm Proton Và Thủ Thuật Y Tế

Sử dụng thuốc ức chế bơm proton kéo dài có thể làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển. Các thủ thuật như đặt sonde dạ dày, hút đàm có thể đưa vi khuẩn từ đường tiêu hóa hoặc môi trường bên ngoài vào đường hô hấp.

4.3. Viêm Phổi Liên Quan Đến Thở Máy VAP Thách Thức Lớn Tại ICU

Viêm phổi liên quan đến thở máy (VAP) là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân thở máy tại khoa hồi sức tích cực. Các biện pháp phòng ngừa VAP bao gồm nâng cao đầu giường, vệ sinh răng miệng, hút đàm thường xuyên và sử dụng hệ thống hút đàm kín.

V. Điều Trị Viêm Phổi Bệnh Viện Tại An Giang Phác Đồ Hiệu Quả

Điều trị viêm phổi bệnh viện đòi hỏi phải căn cứ trên đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân, mô hình kháng thuốc của tác nhân gây bệnh tại từng cơ sở y tế và hiểu biết về các yếu tố nguy cơ. Việc lựa chọn kháng sinh ban đầu phù hợp là rất quan trọng. Phác đồ điều trị cần được cập nhật thường xuyên dựa trên kết quả nghiên cứu và tình hình thực tế tại địa phương. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bác sĩ lâm sàng, vi sinh và dược sĩ để tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

5.1. Lựa Chọn Kháng Sinh Ban Đầu Theo Kinh Nghiệm Hướng Dẫn

Việc lựa chọn kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm cần dựa trên mức độ nặng của bệnh, yếu tố nguy cơ kháng kháng sinh và mô hình kháng thuốc tại địa phương. Cần tuân thủ các hướng dẫn điều trị hiện hành và cập nhật thông tin về tình hình kháng kháng sinh.

5.2. Điều Chỉnh Kháng Sinh Dựa Trên Kết Quả Kháng Sinh Đồ

Sau khi có kết quả kháng sinh đồ, cần điều chỉnh kháng sinh cho phù hợp với độ nhạy cảm của vi khuẩn. Việc sử dụng kháng sinh phổ hẹp thay vì kháng sinh phổ rộng khi có thể giúp giảm nguy cơ kháng kháng sinh.

5.3. Các Biện Pháp Hỗ Trợ Điều Trị Viêm Phổi Bệnh Viện

Ngoài kháng sinh, các biện pháp hỗ trợ điều trị viêm phổi bệnh viện bao gồm thở oxy, thông khí nhân tạo (nếu cần), bù dịch, dinh dưỡng và điều trị các bệnh lý nền. Cần theo dõi sát tình trạng bệnh nhân và điều chỉnh điều trị kịp thời.

VI. Kết Quả Nghiên Cứu Viêm Phổi Bệnh Viện Tại An Giang Bài Học

Nghiên cứu về viêm phổi bệnh viện tại An Giang cung cấp thông tin quan trọng về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố liên quan và kết quả điều trị. Kết quả nghiên cứu giúp cải thiện phác đồ điều trị, giảm tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị. Cần tiếp tục nghiên cứu và theo dõi tình hình viêm phổi bệnh viện để đối phó với tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng.

6.1. Phân Tích Đặc Điểm Lâm Sàng Và Cận Lâm Sàng Của Bệnh Nhân

Nghiên cứu cần phân tích chi tiết các đặc điểm lâm sàng (ví dụ: sốt, ho, khó thở) và cận lâm sàng (ví dụ: công thức máu, CRP, X-quang phổi) của bệnh nhân viêm phổi bệnh viện tại An Giang.

6.2. Đánh Giá Các Yếu Tố Liên Quan Đến Mức Độ Nặng Của Bệnh

Nghiên cứu cần xác định các yếu tố liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi bệnh viện, ví dụ: tuổi cao, bệnh mạn tính, sử dụng kháng sinh trước đó, điểm APACHE II cao.

6.3. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện Điều Trị Viêm Phổi Bệnh Viện

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần đề xuất các giải pháp cải thiện điều trị viêm phổi bệnh viện tại An Giang, ví dụ: cập nhật phác đồ điều trị, tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn, sử dụng kháng sinh hợp lý.

08/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng các yếu tố liên quan và kết quả điều trị viêm phổi bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện đa khoa trung tâm an giang năm 2018 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Viêm phổi bệnh viện Theo hướng dẫn năm 2016 của Hội lồng ngực Mỹ (ATS) và Hội bệnh nhiễm trùng Mỹ (IDSA) [70] thì viêm phổi bệnh viện (VPBV) là viêm phổi xuất hiện sau khi nhập viện 48 giờ và không thở máy. Dựa vào thời gian, VPBV chia làm 2 loại: - VPBV xuất hiện sớm: viêm phổi trước 5 ngày sau nhập viện. Căn nguyên gây bệnh thường là các vi khuẩn cộng đồng còn nhạy cảm với kháng sinh.

- VPBV xuất hiện muộn: viêm phổi xuất hiện sau 5 ngày nhập viện. Căn nguyên gây bệnh thường là các vi khuẩn mắc tại bệnh viện có tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao [42]. Lâm sàng, cận lâm sàng viêm phổi bệnh viện 1. Lâm sàng Chẩn đoán VPBV xuất hiện sau 48 giờ nhập viện, dựa trên sự xuất hiện của các triệu chứng như: sốt >38oC hoặc <36oC; bệnh nhân 70 tuổi có thay đổi ý thức mà không có nguyên nhân nào khác rõ ràng; đàm mủ mới xuất hiện, hoặc thay đổi tính chất đàm hoặc tăng tiết đàm hoặc cần tăng số lần hút đàm; ho mới xuất hiện hoặc nhiều lên hoặc khó thở hoặc thở nhanh; nghe phổi có ran nổ hoặc ran phế quản; tăng số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi; tăng nồng độ procalcitonin máu; tăng nồng độ protein phản ứng C (CRP); X quang phổi xuất hiện hình ảnh tổn thương thâm nhiễm nhu mô mới hoặc tổn thương tiến triển và không mất đi nhanh [22].

Triệu chứng toàn thân Sốt là triệu chứng thường gặp, có nhiều yếu tố có thể gây nên sốt. Sốt có thể do phản ứng đầu tiên của bệnh nhân trước các bệnh lý sẵn có mà không 4 phải là nhiễm trùng (bệnh máu ác tính, tắc mạch phổi, cúm, truyền máu, thay huyết tương…). Ngoài ra, sốt còn là phản ứng nhiễm trùng các vị trí ngoài phổi như: viêm phúc mạc, viêm tụy cấp, nhiễm khuẩn huyết…Sốt thành cơn hoặc sốt liên tục, có kèm theo lạnh run. Nhiệt độ có thể >38 oC, cũng có thể tăng rất cao 40-41oC, có trường hợp chỉ sốt vừa 38-39oC, có trường hợp không sốt do thể trạng bệnh nhân yếu, suy giảm miễn dịch, người già, bệnh nhân đã và đang dùng kháng sinh, thuốc hạ sốt.

Đôi khi có những bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng không những không sốt mà có thể hạ nhiệt độ. Dấu hiệu nhiễm trùng, nhiễm độc: môi khô, lưỡi bẩn. Rối loạn ý thức khi có suy hô hấp nặng: vật vã, kích thích. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác như nhịp tim nhanh, huyết áp có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào giai đoạn viêm phổi [35].

Triệu chứng hô hấp Ho, khạc đàm mủ. Khám phổi có thể thấy hội chứng đông đặc (gõ đục, rung thanh tăng, rì rào phế nang giảm), hội chứng ba giảm, nghe phổi có thể phát hiện ran ẩm, ran nổ, hoặc ran rít, ran ngáy. Các dấu hiệu của tình trạng suy hô hấp tăng lên: thở nhanh, gắng sức, SpO2 giảm dần; nhịp tim nhanh, tím môi và đầu chi; trường hợp nặng sẽ có các dấu hiệu của sốc nhiễm khuẩn như trụy mạch, nổi vân tím toàn thân; các dấu hiệu biến chứng nặng như: tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, tràn mủ màng phổi [38]. Cận lâm sàng 1.

Công thức máu Bạch cầu có thể tăng hoặc giảm: ≥ 12x109/L hoặc ≤ 4x109/L. Tuy nhiên, cũng giống như sốt, dấu hiệu này cũng chỉ gặp ở 8/10 trường hợp viêm phổi, bạch cầu có thể tăng nếu bệnh nhân bị nhiễm trùng tại vị trí khác trong cơ thể. 5 Ngược lại các bệnh nhân có tình trạng suy giảm miễn dịch hoặc đang điều trị hóa chất, corticoid, bệnh máu…Bạch cầu có thể không tăng mặc dù bệnh nhân đang trong tình tạng nhiễm trùng nặng. Như vậy, số lượng bạch cầu khó có ý nghĩa để chẩn đoán bệnh nhân có bị viêm phổi hay không.

Protein phản ứng C (CRP) Tăng CRP trong máu cho thấy tình trạng phản ứng viêm và cũng sẽ thay đổi trong các bệnh lý khác [70]. Procalcitonin Tăng procalcitonin trong máu. Procalcitonin là chất chỉ thị viêm, tăng trong trường hợp nhiễm khuẩn mà không tăng trong nhiễm virus, không được dùng như một tiêu chuẩn chẩn đoán xác định nhưng có giá trị trong việc theo dõi đáp ứng điều trị và quyết định ngừng kháng sinh [22]. Khí máu động mạch Trong đó quan trọng là thông số PaO2/FiO2, giá trị này cũng được một số tác giả đưa vào tiêu chuẩn để chẩn đoán viêm phổi bệnh viện.

Giá trị này sẽ ít có ý nghĩa ở những bệnh nhân có sẵn bệnh nền giảm oxy máu như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen, viêm phổi nặng từ trước…[74]. X quang phổi X quang phổi là phương tiện cận lâm sàng quan trọng hàng đầu đối với viêm phổi với đặc điểm là tổn thương mới xuất hiện hoặc tổn thương tiến triển trên phim phổi và không mất đi nhanh [42]. Các dạng tổn thương trên phim phổi có thể gặp là: thâm nhiễm, đông đặc, tạo hang. Những tổn thương này có thể phục hồi khoảng 30,8% vào ngày thứ 10 và 68,4% vào ngày thứ 28.

Các hình ảnh X quang phổi trong viêm phổi: - Hình ảnh tổn thương phế nang: do hiện tượng phù viêm gây đông đặc các phế nang ở ngoại vi. Đây là hình ảnh viêm phổi thùy điển hình, được đặc 6 trưng bởi hình mờ tương đối đồng nhất chiếm một thùy hoặc phân thùy phổi và có hình ảnh phế quản hơi ở bên trong. Có thể kèm theo xẹp phổi do tắc nghẽn các phế quản bởi dịch tiết. - Hình ảnh tổn thương phế quản phổi: hình đám mờ không đồng nhất, các đám mờ này có thể chồng lên nhau tạo thành những hình mờ đậm hơn.

- Hình ảnh tổn thương mô kẻ: hình ảnh mờ dạng lưới hoặc lưới nốt khắp hai phổi, đôi khi là những hình mờ đốm, thường xuất hiện ở thùy dưới. - Thâm nhiễm dạng nốt: là những đám mờ tròn, giới hạn rõ, đường kính lớn hơn 1cm trên phim X quang. - Hình ảnh đông đặc khu trú có thể thấy trong viêm phổi hít (đặc biệt là các thùy, phân thùy dưới). - Hình ảnh hang có thể gặp trong áp xe phổi do hít sặc hoặc do nhiễm S.aureus, vi khuẩn gram âm ái khí, vi khuẩn lao, nấm.

- Tràn dịch màng phổi có thể gặp trong viêm phổi, thường là tràn dịch một bên [91]. Xét nghiệm vi khuẩn trong máu, đàm, dịch phế quản - Nhuộm gram là một trong những kỹ thuật cơ bản và quan trọng nhất trong phân tích vi khuẩn ở giai đoạn đầu nhằm định hướng sơ bộ vi khuẩn có trong mẫu đàm dựa vào tính chất bắt màu gram và hình thể của chúng. Đây là xét nghiệm đơn giản, dễ làm có kết quả nhanh hơn các xét nghiệm khác. - Cấy máu một cách hệ thống cho bệnh nhân nghi ngờ VPBV: lấy 2 mẫu máu ở 2 vị trí khác nhau [89].

- Cấy đàm được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân ngay khi nghi ngờ VPBV, trước khi điều trị kháng sinh, bệnh phẩm có thể lấy bằng phương pháp xâm nhập hay không xâm nhập [22]: Cấy bán định lượng và cấy định lượng:  Cấy bán định lượng là phương pháp cấy tìm vi khuẩn sau đó dựa vào 7 nồng độ vi khuẩn để đưa ra các kết quả ước lượng 1+, 2+, 3+, 4+.  Cấy định lượng là phương pháp cấy cho ra nồng độ vi khuẩn trong 1ml bệnh phẩm. Theo hướng dẫn ATS/IDSA 2016 [70] nên cấy bán định lượng với bệnh phẩm lấy bằng phương pháp không xâm nhập để xác định loại vi khuẩn gây bệnh.  Phương pháp lấy bệnh phẩm không xâm nhập: Đàm khạc: bệnh nhân súc họng bằng nước muối sinh lý sau đó ho khạc đàm vào lọ vô khuẩn, nên tiến hành vỗ rung khi ho khạc.

Nhược điểm là dễ bị tạp nhiễm vi khuẩn. Đàm khí dung: tương tự như phương pháp lấy đàm khạc nhưng bệnh nhân được phun khí dung nước muối ưu trương 2-10% trong 15-30 phút trước khi khạc đàm. Nhược điểm cũng dễ bị tạp nhiễm khuẩn. Đàm hút hầu họng: cho những bệnh nhân không có khả năng ho khạc đàm, dùng ống thông vô khuẩn hút đàm ở vùng hầu họng.

Nhược điểm cũng dễ bị tạp nhiễm khuẩn.  Phương pháp lấy bệnh phẩm xâm nhập: Phương pháp lấy bệnh phẩm bằng bàn chải qua ống soi mềm có bảo vệ: ưu điểm là mẫu bệnh phẩm không tạp nhiễm các vi khuẩn ở khoang miệng, đồng thời cũng giúp tăng khả năng phát hiện căn nguyên gây bệnh do lấy bệnh phẩm ở vùng tổn thương, định hướng được vùng bị nhiễm khuẩn hô hấp trên phim X quang phổi nên có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Tuy nhiên kỹ thuật này chỉ được thực hiện ở các cơ sở y tế chuyên sâu, giá thành đắt, có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân trong khi tiến hành soi và lấy bệnh phẩm, cho nên nó chưa được khuyến cáo sử dụng một cách thường quy. Với ngưỡng trên 104 vi khuẩn/ml dịch phế quản sẽ được xem là kết quả dương tính [55].

Phương pháp lấy dịch phế quản bằng rửa phế quản, phế nang qua ống nội 8 soi mềm. Kỹ thuật này đơn giản và rẻ hơn phương pháp nội soi phế quản có bàn chải bảo vệ. Bệnh phẩm lấy được nhiều hơn và có thể lấy từ nhiều phế nang hơn. Nhưng cũng có nhược điểm là: làm tăng áp lực đường thở, tăng thể tích cặn chức năng, tăng PaCO2 và giảm PaO2, tăng lưu lượng tim, rối loạn nhịp tim, giảm PaO2 do rửa phế quản phế nang và tăng nhiệt độ, giảm huyết áp.

Cấy định lượng dịch rửa phế quản cho kết quả dương tính nếu có mọc 10000 khóm vi trùng /ml dịch rửa (tương đương 105-106 khóm vi khuẩn /ml đàm). Phương pháp lấy bệnh phẩm không dùng nội soi: lấy bệnh phẩm bằng hút dịch khí quản ở bệnh nhân thở máy: người ta thấy rằng các vi khuẩn thường gặp gây viêm phổi trùng với vi khuẩn có ở họng và khí quản. Đối với dịch hút từ ống nội khí quản là 106 vi khuẩn/ml dịch. Tuy nhiên cũng có hạn chế là thường cho kết quả nhiều loại vi khuẩn.

Phương pháp lấy dịch phế quản bằng ống hai nòng có bảo vệ đầu xa: kỹ thuật dùng ống hút hai nòng có nút bảo vệ đầu xa được phát triển từ phương pháp rửa phế quản phế nang với số lượng nhỏ dịch bơm vào ống, nhưng không cần định hướng bằng nội soi phế quản [43]. Kết quả dương tính khi có mật độ vi khuẩn ≥104 vi khuẩn/ml. Phương pháp này có ưu điểm là giá thành rẻ, dễ thực hiện, phù hợp ở Việt Nam, không cần ống soi phế quản, không gây nguy hiểm cho bệnh nhân đang thở máy. Nhược điểm của phương pháp này là có thể mang thêm vi khuẩn cho bệnh nhân và làm sai lệch kết quả nếu thực hiện quy trình không đảm bảo vô trùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt nghiên cứu về Viêm Phổi Bệnh Viện tại Khoa Hồi Sức Tích Cực An Giang:

Nghiên cứu này tập trung vào việc mô tả các đặc điểm của viêm phổi bệnh viện (VPBV) tại Khoa Hồi Sức Tích Cực (HSTC) ở An Giang. VPBV là một vấn đề nghiêm trọng, làm tăng tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian nằm viện. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các bác sĩ và nhân viên y tế hiểu rõ hơn về căn bệnh này, từ đó có các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn.

Để hiểu rõ hơn về các bệnh lý hô hấp khác, bạn có thể tham khảo thêm các nghiên cứu liên quan. Ví dụ, để tìm hiểu về tình hình viêm phổi ở trẻ em, bạn có thể xem tài liệu: "Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm phổi ở trẻ từ 02 tháng đến 05 tuổi tại bệnh viện sản nhi bắc ninh". Hoặc, để có cái nhìn tổng quan hơn về các bệnh lý hô hấp ở trẻ em tại khu vực phía Nam, hãy xem: "Khảo sát sự thay đổi mô hình bệnh lý hô hấp tại khoa hô hấp 1 bệnh viện nhi đồng 2 tp hcm". Mặc dù không trực tiếp liên quan đến viêm phổi, nghiên cứu về "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng đánh giá kết quả điều trị xuất huyết tiêu hóa trên do loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân cao tuổi bệnh viện đa khoa trung tâm an giang năm 20" cũng có thể cung cấp thông tin hữu ích về tình hình bệnh tật tại An Giang.