CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MÔ HÌNH BỆNH TẬT Ở TRẺ 1 THÁNG – 15 TUỔI Tình hình bệnh tật và thực trạng sức khỏe trẻ em phụ thuộc rất nhiều vào những điều kiện môi trường, kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị, tập quán, … tại nơi mà trẻ được sinh ra và lớn lên. Nó khác nhau theo từng khu vực, địa phương, địa bàn dân cư trong thành phố, tỉnh thành và theo từng giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia. Điều này có thể được minh chứng như sau: tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi thường thấp hơn nhiều ở các nước thu nhập cao và bản chất của những trường hợp tử vong này khác với các nước thu nhập thấp hơn [87].
Ở Anh, ví dụ, tử vong ở trẻ em có xu hướng bị chi phối nhiều bởi các biến chứng sơ sinh. Tử vong do các bệnh truyền nhiễm và tiêu chảy và suy dinh dưỡng là rất thấp. Ngược lại, nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Mali là sốt rét. Ở Nam Sudan, suy dinh dưỡng và thiếu hụt dinh dưỡng rất cao [87], [92].
Tình hình sức khỏe, bệnh tật ở trẻ em vào những năm 90 của thế kỷ trước đã có những thay đổi đáng kể, đặc biệt sau khi đổi mới kinh tế thị trường, đời sống nhân dân được cải thiện, nền kinh tế văn hóa xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến. Nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng được đưa vào từ những năm 1985 và dần được phủ kín cả nước, các bệnh nguy hiểm như bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt, …đã giảm tỷ lệ mắc, năm 2003 viêm gan được đưa vào TCMR, những năm gần đây đưa thêm vào rubella, viêm não nhật bản, nhờ phòng ngừa được bằng vaccin nên giảm rõ rệt tỷ lệ mắc và chết do những bệnh lý trên. Tuy nhiên, theo một khảo sát mới đây của Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP. HCM, bệnh thường gặp nhất ở trẻ em vẫn là nhiễm khuẩn (80%) [26].
Tình hình bệnh hô hấp trên thế giới Năm 2013 trong số 7.7 triệu ca tử vong ở trẻ em và thanh thiếu niên trên toàn cầu; 6.28 triệu xảy ra ở trẻ nhỏ, 0.48 triệu trẻ lớn hơn và 0.97 triệu thanh thiếu niên; nguyên nhân tử vong hàng đầu là nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ nhỏ với 905.059 trường hợp tử vong; tỷ lệ tử vong tại Nigeria chiếm 12% so với toàn cầu do nhiễm trùng đường hô hấp dưới [72], [93]. Số ca tử vong và tỷ lệ trên 100.000 trẻ em và thanh thiếu niên, cả hai giới năm 2013 [72]. Tổng số 10 nguyên nhân Nhiễm trùng đường Địa điểm gây tử vong hàng đầu hô hấp dưới trên toàn cầu Toàn cầu 6 279 920 (951.1) Các nước đang phát 6 193 574 (1 055.5) triển Các nước phát triển 86 346 (117.0) Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính chiếm khoảng một phần ba trong tất cả trường hợp ngoại trú, trong đó 8 - 18% nhập viện cấp tính ở Anh [63]. Nhiễm trùng đường hô hấp dưới gây ảnh hưởng nặng nề cho trẻ em dưới 5 tuổi, với 704.000 ca tử vong mỗi năm được đo lường (DALYs) trên toàn thế giới [87].
Trong một nghiên cứu đoàn hệ theo dõi 1360 trẻ cho đến 10 tuổi, tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dưới tái phát (≥ 2 lần được cha mẹ báo cáo, kéo dài ≥ 5 ngày trong 12 tháng trước đó) là 7. Trong một đánh giá sơ đồ hồi cứu tại bệnh viện dành cho trẻ em, bệnh viện Toronto - Canada, 8% trong số hơn 2900 trẻ em được nhập viện với chẩn đoán viêm phổi đã tái phát; trong đó ít hơn 2% (42 trẻ em) mắc bệnh tiềm ẩn, chẳng hạn như trào ngược, hen suyễn, suy giảm miễn dịch, dị tật tim bẩm sinh và bất thường phổi [83]. Tình hình bệnh hô hấp ở trẻ em tại Việt Nam Theo niên giám BYT năm 2015, tính trên toàn quốc, 5 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất tính trên 100.000 dân: các bệnh viêm phổi (498.90), viêm họng và viêm amydan (421.61), tăng huyết áp nguyên phát (387.92), viêm phế quản và viêm tiểu phế quản (297.88), tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn (245. Bệnh viêm phổi có tỷ lệ tử vong đứng thứ 2 trên toàn quốc(1.02) sau chấn thương sọ não (1.
Theo thống kê cho thấy tổng số bệnh nhi nhập viện tại khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong năm 2005 là 6106, tử vong 32 ca (0.54%) [2] Bệnh viện Nhi Đồng 2, hơn 60.000 bệnh nhân nhập viện trong năm 2007 trong đó bệnh hô hấp chiếm 39.9%, tử vong chiếm 7. Đến năm 2010, các bệnh hô hấp thường gặp tại khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng 2 là các bệnh nhiễm trùng hô hấp (viêm phổi, viêm tiểu phế quản, viêm phế quản, viêm thanh khí phế quản) và Hen. Các bệnh này thường gặp ở trẻ 2 - 12 tháng tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ. Các bệnh hô hấp gia tăng vào các.
tháng cuối năm 7, 8, 9, 10 [25]. Hiệu quả điều trị cao, tỷ lệ tử vong do bệnh hô hấp thấp 0. Nghiên cứu trên 358 bệnh nhi > 5 tuổi có bệnh lý hô hấp tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP. Hồ Chí Minh năm 2011 cho thấy hai bệnh lý dẫn đầu là hen phế quản 42.2%, viêm phổi cộng đồng 36.
Năm 2012, các bệnh lý thường gặp vào khoa cấp cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương là các bệnh lý hô hấp (19% - 24%) [18], và ở Bệnh viện đa khoa quận 7 thành phố Hồ Chí Minh là 61% [14]. Nghiên cứu hồi cứu tất cả các trẻ nhập viện vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tại 3 tuyến y tế: tuyến cơ sở (trung tâm y tế huyện Hòa Vang-TTYTHV), tuyến tỉnh (bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng-BVPSNDN) và tuyến trung ương (Viện Nhi Trung Ương-VNTW) trong 1 năm (01/09/2015 - 31/08/2016). Nhiễm khuẩn hô hấp cấp chiếm 27.9% các chẩn đoán nhập viện; chiếm 47.6% đối với TTYTHV.6%) trẻ nhập viện < 2 tuổi. Viêm phổi/cúm chiếm 69.
Tử vong chiếm 0.8% (284), hầu hết xảy ra tại VNTW. Thời gian nằm viện trung bình 7. ĐẶC ĐIỂM KHOA HÔ HẤP BV. NHI ĐỒNG 2 Được thành lập từ ngày 01/06/1978; Bệnh viện Nhi Đồng 2 là bệnh viện chuyên khoa Nhi – hạng 1, trực thuộc Sở Y tế TP.
Đồng thời, cũng là một trong 4 bệnh viện Nhi hàng đầu tại Việt Nam phụ trách công tác khám, chữa bệnh cho các bé từ 0 đến dưới 16 tuổi. Bệnh viện có 1.400 giường bệnh, hiện tại thực kê 1911 giường (137%), một số khoa chủ lực như Hô Hấp, Nội Tổng Hợp, Nhiễm, Sơ Sinh, Tiêu Hóa luôn trong tình trạng quá tải. Hai khoa Hô Hấp 1 và 2 với số giường chỉ tiêu 240 giường (17.1%), trong đó khoa Hô Hấp 1 là 150 giường (10.7%) thực kê hiện tại của khoa hô. hấp 1 là 217 giường bệnh đáp ứng cho nhu cầu điều trị nội trú bệnh nhân thành phố Hồ Chí Minh và là tuyến cuối trong tiếp nhận và điều trị bệnh nhân các tỉnh phía nam đến khám hoặc các tuyến chuyển đến.
Với đội ngũ 20 bác sỹ, 41 điều dưỡng, trong năm 2018 khoa Hô Hấp 1 đã điều trị cho 13.272 lượt bệnh nội trú, thực hiện 160 ca nội soi, đạt công suất sử dụng giường bệnh năm 2018 là 183%. Theo báo cáo của tác giả Lại Lê Hưng: Phân bố bệnh hô hấp tại Khoa Hô Hấp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2 vào năm 2010 với kết quả như sau [25]. Tổng số bệnh nhân xuất viện Khoa Hô Hấp 1 năm 2010 là 7097. Lứa tuổi bệnh thường gặp nhất từ 2 - 12 tháng (69.4%), trong đó nam/nữ là 3/2, chủ yếu trẻ em đến từ tp HCM (48.4%), các tỉnh khác chiếm tỷ lệ ít hơn (tổng số bệnh nhân đến từ các tỉnh khác # 51.
Phân bố bệnh hô hấp trong năm 2010 (n=7097) [25] Bệnh xảy ra đỉnh cao vào các tháng cuối năm 7, 8, 9, 10, trùng thời điểm giao mùa trong năm. Cao nhất tháng 9 với 855 bệnh nhân xuất viện, thời điểm bệnh nhân ít nhất vào đầu năm các tháng 1, 2, 3. Các bệnh hô hấp phân bố theo 10 nhóm bệnh (ICD 10) như sau:. Phân bố chung từng loại bệnh hô hấp [25] STT Loại bệnh Tần số Tỷ lệ (7097) (%) 1 Cúm và viêm phổi 2978 41.96 2 Nhiễm trùng hô hấp dưới khác 2585 36.42 3 Bệnh đường hô hấp dưới mạn tính 1074 15.13 4 Nhiễm trùng hô hấp trên 426 6 5 Bệnh phổi do tác nhân bên ngoài 19 0.27 6 Bệnh khác của màng phổi 7 0.1 7 Bệnh HH khác ảnh hưởng chủ yếu đến mô kẽ 3 0.04 8 Bệnh khác của hệ hô hấp 3 0.04 9 Bệnh khác của đường hô hấp trên 1 0.01 10 Tình trạng nung mủ và hoại tử đường HH dưới 1 0.01 Các nhóm bệnh có tỷ lệ cao như: bệnh cúm và viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (41.96%), tiếp theo là nhóm bệnh nhiễm trùng hô hấp dưới 36.4%, nhóm bệnh đường hô hấp dưới mạn chiếm 15.1%, các nhóm còn lại có tỷ lệ rất nhỏ.
Có 1071 trên tổng số 7097 bệnh nhi có bệnh kèm theo bệnh hô hấp, chiếm 15.1%, trong đó 4 nhóm bệnh thường gặp nhất là: nhóm bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng chiếm 50.4%, nhóm bệnh hệ tiêu hóa chiếm 16.5% và nhóm dị tật bẩm sinh, biến dạng, bất thường NST chiếm 7.7%, nhóm bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa chiếm 5%. CÁC BỆNH HÔ HẤP THƯỜNG GẶP 1. Định nghĩa Theo WHO: Viêm phổi là viêm nhu mô phổi, bao gồm: viêm phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phổi thùy, áp-xe phổi [97]. Dịch tễ học viêm phổi Viêm phổi là bệnh thường gặp ở trẻ em.
Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Theo WHO – 2008, trong nhóm trẻ dưới 5 tuổi tử vong, tỷ lệ viêm phổi chiếm tới 19%, tuy nhiên ở các nước vùng cận Sahara và Đông Nam Châu Á, viêm phổi chiếm tới 70% số trường hợp tử vong. Viêm phổi đặc biệt nặng ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 1 tuổi, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ không được bú mẹ hoàn toàn, sơ sinh cân nặng thấp, nơi mật độ dân cư đông đúc, ô nhiễm môi trường và trẻ không được tiêm chủng. Bệnh thường gặp ở các nước đang phát triển [19], [39], [67].
Tỷ lệ mắc mới và số ca mắc mới theo năm về viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi, theo WHO - 2008 Chỉ số theo vùng Tổng số trẻ Tỷ lệ mắc mới Số ca mắc mới theo khu vực (đợt mắc / trẻ trong năm (triệu trẻ) theo năm) (triệu trẻ) Châu Phi 105.84 Trung đông – Địa Trung Hải 69.03 Đông Nam Châu Á 168.95 Tây Thái Bình Dương 133.