Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên Cứu Đặc Điểm Tự Nhiên và Nhân Văn Tỉnh Bình Phước" (tên trong phần nội dung: "Nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Bình Phước trên quan điểm địa lý hiện đại") được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Hiền dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Tấn Viện tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Tỉnh Bình Phước được tái lập vào ngày 01/01/1997 sau khi chia tách từ tỉnh Sông Bé cũ (thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước). Là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bình Phước sở hữu nhiều tiềm năng về nông sản, lâm sản, khoáng sản và du lịch sinh thái nhưng đồng thời cũng đứng trước nhiều thách thức về kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả lựa chọn đề tài nhằm tích lũy hệ thống tri thức khoa học, phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy phân môn Địa lý địa phương tại các trường trung học phổ thông, đồng thời cung cấp cái nhìn tổng quan về mảnh đất và con người Bình Phước.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện và đặc điểm môi trường tự nhiên của tỉnh Bình Phước (địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật).
- Phân tích các đặc trưng môi trường nhân văn, lịch sử hình thành hành chính, cơ cấu dân tộc, dân số, lao động, quần cư, văn hóa, y tế, giáo dục và hiện trạng các ngành kinh tế (đặc biệt là nông nghiệp).
- Đánh giá mối quan hệ tương tác hai chiều giữa con người và tự nhiên, giữa phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường sinh thái trên quan điểm địa lý hiện đại.
- Đóng góp nguồn tư liệu địa lý địa phương có hệ thống phục vụ công tác giảng dạy môn Địa lý trong trường phổ thông.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các thành phần địa lý tự nhiên, nhân văn, hoạt động kinh tế - xã hội và mối quan hệ tương tác sinh thái trên lãnh thổ tỉnh Bình Phước.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính tỉnh Bình Phước (gồm thị xã Đồng Xoài và 5 huyện: Đồng Phú, Phước Long, Bù Đăng, Bình Long, Lộc Ninh).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê và tư liệu thực tế tập trung trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2002.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và các quan điểm địa lý
Tác giả tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về Địa phương học và Địa lý địa phương:
- Khái niệm nền tảng: Tiếp thu quan điểm của C. Berkov (1961) về Địa phương học và định nghĩa của TS. Phạm Minh Tuệ - Phạm Tế Xuyên (1994) về Địa lý địa phương như một phân ngành nghiên cứu tổng hợp một lãnh thổ cụ thể phục vụ giảng dạy và học tập. Khóa luận cũng kế thừa truyền thống nghiên cứu địa chí Việt Nam từ tác phẩm "Dư Địa Chí" của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), các công trình của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và kinh nghiệm giảng dạy địa lý địa phương của K.F. Stroev (1974) cùng chương trình giáo dục phổ thông của Pháp.
- Các quan điểm địa lý hiện đại:
- Quan điểm địa hệ: Xem lãnh thổ tỉnh Bình Phước là một địa hệ thống nhất, gồm nhiều thành phần tự nhiên, nhân văn và kinh tế - xã hội có mối liên hệ ràng buộc, chi phối lẫn nhau.
- Quan điểm hệ sinh thái: Nghiên cứu các dòng trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin giữa các đơn vị không gian địa lý.
- Quan điểm địa sinh thái - phát triển lâu bền: Giải quyết mâu thuẫn giữa khai thác tài nguyên phát triển kinh tế với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giảm thiểu suy thoái sinh thái.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trong phòng (chủ đạo): Thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp các nguồn số liệu thống kê, văn kiện từ Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, Sở Nông Lâm, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sở Công nghiệp, Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Bình Phước và tập tài liệu "Địa chí Sông Bé".
- Phương pháp nghiên cứu thực địa (định hướng lý thuyết): Tác giả hệ thống hóa các kỹ thuật khảo sát ngoài trời như mô tả lộ trình địa hình, xây dựng lát cắt thung lũng sông/thềm sông, quan trắc khí tượng, đào phẫu diện đất, khảo sát ô tiêu chuẩn thảm thực vật, phân tích cấu trúc làng bản dân tộc và lộ trình kinh tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan
Chương này trình bày lý do chọn đề tài, đối tượng, mục tiêu, giới hạn không gian - thời gian, thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện. Tác giả tổng thuật lịch sử nghiên cứu địa lý địa phương trên thế giới, tại Việt Nam và tại tỉnh Bình Phước; đồng thời xác lập cơ sở phương pháp luận dựa trên các quan điểm địa hệ, hệ sinh thái và phát triển bền vững.
Chương II: Đặc điểm môi trường tự nhiên
Chương II phân tích chi tiết các hợp phần tự nhiên cấu thành cảnh quan địa lý tỉnh Bình Phước:
- Vị trí địa lý: Bình Phước có diện tích tự nhiên $6.853,93 \text{ km}^2$, tọa độ từ $11^\circ 22'$ đến $12^\circ 16'\text{B}$ và từ $106^\circ 08'$ đến $107^\circ 28'\text{Đ}$. Phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia; phía Tây giáp Tây Ninh; phía Nam giáp Bình Dương; phía Đông giáp Lâm Đồng, Đắk Lắk; phía Đông Nam giáp Đồng Nai. Thị xã Đồng Xoài được thành lập theo Nghị định 90/1999/NĐ-CP và chính thức hoạt động từ ngày 01/01/2000.
- Địa chất: Khu vực phân hóa thành 13 đơn vị địa tầng từ cổ đến trẻ, bao gồm: hệ tầng Tà Nốt (dày ~350m), hệ tầng Tà Thiết (dày 650m, chứa đá vôi xi măng), hệ tầng sông Sài Gòn (dày >1000m), hệ tầng Bửu Long, hệ tầng ĐakRông (dày >2000m, có mạch thạch anh sunfua chứa vàng), hệ tầng Mã Da (dày 2000m), hệ tầng Dầu Tiếng (dày ~800m), hệ tầng Bình Long (dày 50–100m, đá andesit làm vật liệu xây dựng), hệ tầng Phước Long (dày 50–100m, đá bazan), hệ tầng Bà Miêu (dày 10–30m), hệ tầng Lộc Ninh (dày 10–90m, bazan olivin), hệ tầng trầm tích sông Pleixtoxen muộn ($Q_{II-III}$, thềm Sông Bé cao 10–20m) và trầm tích sông Holoxen ($Q_{IV}$, dày 2–6m).
- Địa mạo: Địa hình nghiêng thoải từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ cao tuyệt đối từ 50m đến 550m (trung bình 300m), chia thành 4 dạng: núi thấp (450–600m), đồi (300–450m), đồi thấp (100–300m) và đồng bằng tích tụ ($<100\text{m}$, diện tích vài trăm ha).
- Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, chia làm 2 mùa: mùa mưa (tháng 5–11, chiếm 90% lượng mưa cả năm) và mùa khô (tháng 12 – tháng 4 năm sau). Bức xạ mặt trời đạt $>130 \text{ kcal/cm}^2/\text{năm}$, cán cân bức xạ $70\text{--}75 \text{ kcal/cm}^2/\text{năm}$.
| Yếu tố khí hậu (Năm 2002) |
Trạm Đồng Phú |
Trạm Phước Long |
Mức trung bình tỉnh |
| Nhiệt độ trung bình |
$26,8^\circ\text{C}$ |
$26,5^\circ\text{C}$ |
$26,8^\circ\text{C}$ (cao nhất: T3–T5, thấp nhất: T12–T1) |
| Độ ẩm không khí |
$79,0%$ |
$78,6%$ |
$78,8%$ (cao nhất: $90%$ vào T9, thấp nhất: $65%$ vào T2) |
| Tổng lượng mưa năm |
$2.611\text{ mm}$ |
$2.277\text{ mm}$ |
$2.277\text{--}2.611\text{ mm}$ ($140\text{--}150$ ngày mưa) |
| Số giờ nắng |
$2.401\text{ giờ}$ |
$2.263\text{ giờ}$ |
$2.263\text{--}2.401\text{ giờ/năm}$ ($6,2\text{--}6,5\text{ giờ/ngày}$) |
| Lượng bốc hơi |
$1.447\text{ mm}$ |
$1.414\text{ mm}$ |
$1.414\text{--}1.447\text{ mm/năm}$ |
- Thủy văn: Mật độ mạng lưới sông suối $0,7\text{--}0,8 \text{ km/km}^2$. Các trục sông chính gồm: Sông Bé (dài 280km, lưu vực $7.635 \text{ km}^2$, có hồ Thủy điện Thác Mơ dung tích 1,4 tỷ $\text{m}^3$, Thủy điện Cần Don, dự án Sóc Phú Miêng), Sông Sài Gòn (đoạn đến hồ Dầu Tiếng dài 132km, lưu vực $2.700 \text{ km}^2$) và Sông Đồng Nai. Nguồn nước ngầm gồm 4 tầng chứa nước chính: tầng Bazan ($Q_{I-II}$, lưu lượng $0,5\text{--}16 \text{ l/s}$), tầng Pleistocen ($Q_{I-II}$), tầng Plioxen ($N_2$, lưu lượng $5\text{--}15 \text{ l/s}$) và tầng Mesozoi ($M_2$).
- Thổ nhưỡng: Toàn tỉnh có 6 nhóm đất chính:
| Nhóm/Loại đất |
Diện tích (ha) |
Địa bàn phân bố chủ yếu |
Thích hợp canh tác |
| Đất đỏ vàng trên đá bazan |
531.963 |
Bình Long, Phước Long, Bù Đăng, Lộc Ninh |
Cây công nghiệp lâu năm (cao su, điều, tiêu) |
| Đất xám trên phù sa cổ |
94.430 |
Bình Long, Phước Long |
Cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày |
| Đất dốc tụ |
22.636 |
Vùng trũng thấp chân đồi núi |
Trồng trọt đa canh |
| Đất phù sa bồi đắp |
3.320 |
Tây Nam Lộc Ninh, Nam Bình Long, Phước Long |
Lúa nước, rau màu, cây ăn quả |
| Đất đen trên đá bở rời |
550 |
Đông Bắc Lộc Ninh, Bắc Bình Long, Phước Long |
Cây hoa màu, cây ăn quả |
| Đất xói mòn trơ sỏi đá |
191 |
Các sườn đồi bị rửa trôi mạnh |
Đất thoái hóa nghèo dinh dưỡng |
- Khoáng sản: Tính đến cuối năm 1998, toàn tỉnh phát hiện 91 điểm mỏ/khoáng hóa thuộc 20 loại khoáng sản. Trữ lượng lớn nhất là bauxit ở Phước Long (4 mỏ, diện tích 13.400 ha, trữ lượng cấp $P_2$ đạt 254 triệu tấn tinh quặng); nguyên liệu xi măng (2 mỏ đá vôi trữ lượng 550 triệu $\text{m}^3$, 2 mỏ sét xi măng 94 triệu $\text{m}^3$); đá xây dựng (bazan 100,7 triệu $\text{m}^3$, andesit 67,5 triệu $\text{m}^3$, granodiorit 25,9 triệu $\text{m}^3$, cát kết 18,6 triệu $\text{m}^3$); sét gạch ngói (23,9 triệu $\text{m}^3$); kaolin (30,1 triệu $\text{m}^3$); than bùn (70.000 $\text{m}^3$) và các điểm đá quý sapphire, opal, chalcedony.
- Sinh vật và Hiện trạng môi trường: Hệ thực vật gồm 801 loài thuộc 114 họ (nhiều nhất là họ Đậu Fabaceae với 43 loài, họ Cà phê Rubiaceae với 31 loài). Tổng diện tích đất lâm nghiệp đạt 351.374 ha (đất có rừng 165.172 ha, đất không có rừng 174.651 ha). Động vật có cá sấu nước ngọt, beo gấm, mèo rừng. Vấn đề môi trường nổi cộm là nạn phá rừng làm gia tăng xói mòn đất, ô nhiễm nguồn nước và mùi hôi từ công nghiệp chế biến mủ cao su, bột mì, chao dầu điều; hai thách thức dân sinh lớn là thiếu nước sạch sinh hoạt và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét cao tại các vùng cao su, vùng sâu, vùng xa.
Chương III: Đặc điểm môi trường nhân văn
Chương III phân tích các yếu tố nhân khẩu, xã hội, văn hóa và cấu trúc kinh tế nông nghiệp:
- Lịch sử hình thành hành chính: Khảo cổ học ghi nhận dấu tích người tiền sử tại Bình Long, Lộc Ninh, Phước Long, Bù Đăng với các công cụ đá mài và trống đồng Đông Sơn niên đại 1900–2200 năm (phát hiện tại Thọ Sơn và Long Hưng ngày 24/04/1998). Vùng đất trải qua các thời kỳ: phủ Gia Định (1698) $\rightarrow$ tổng/huyện Bình An, huyện Phước Long (1808) $\rightarrow$ hạt/tỉnh Thủ Dầu Một (1889) $\rightarrow$ tỉnh Bình Long, Phước Long (thời kỳ 1956–1975) $\rightarrow$ tỉnh Sông Bé (1976) $\rightarrow$ tái lập tỉnh Bình Phước (01/01/1997). Đến năm 2002, hệ thống hành chính gồm 1 thị xã (Đồng Xoài), 5 huyện (Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng, Đồng Phú, Bình Long) với 6 thị trấn (Chơn Thành, An Lộc, Lộc Ninh, Thác Mơ, Phước Bình, Đức Phong) và 87 xã/phường/thị trấn.
- Dân tộc, Dân số và Lao động: Năm 2001, dân số toàn tỉnh đạt 702.262 người; nguồn lao động trong độ tuổi là 307.000 người (chiếm $50,86%$ dân số). Tỷ lệ lao động có việc làm đạt $95%$, tỷ lệ thất nghiệp $4\text{--}5%$, tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở nông thôn là $35%$. Trình độ học vấn bình quân lớp 6, tỷ lệ qua đào tạo thấp. Thành phần dân tộc gồm: người Kinh, người Stiêng (bản địa đông nhất, gồm nhóm Bù Lơ ở vùng cao và Bù Đêk ở vùng bằng phẳng), Khơme, Mnông, Hoa, Tà Mun (nhóm hỗn hợp Stiêng - Châu Ro tại xã Minh Hòa) cùng các dân tộc phía Bắc di cư (Tày, Nùng, Mường).
- Quần cư và Đô thị hóa: Quần cư nông thôn truyền thống của người Stiêng (dạng nhà dài trong các Bon, Wang, Sóc) đang chuyển dần sang định canh định cư, tách hộ lập vườn; mạng lưới đô thị hình thành bước đầu tại thị xã Đồng Xoài và các thị trấn.
- Y tế và Giáo dục:
- Y tế (tháng 6/2003): Toàn tỉnh có 101 cơ sở y tế với 961 giường bệnh (đạt 12,4 giường/vạn dân; 3,1 bác sĩ/vạn dân); $100%$ trạm y tế xã có nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi, $47%$ trạm có bác sĩ. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ $37,5%$ (năm 2000) xuống $31%$.
- Giáo dục (năm học 2001–2002): Quy mô học sinh tiểu học đạt 104.440 em; THCS đạt 47.292–53.837 em; THPT đạt 13.581 em. Toàn tỉnh đạt tỷ lệ biết chữ $95%$ (năm 2001), có 1 trường Dân tộc Nội trú tỉnh và 4 trường Dân tộc Nội trú huyện. Tuy nhiên, ngành giáo dục đối mặt với tình trạng thiếu hụt giáo viên nghiêm trọng (năm 2002 thiếu 206 giáo viên tiểu học, 653 giáo viên THCS và 260 giáo viên THPT).
- Tôn giáo, Tín ngưỡng và Văn hóa: Tồn tại đan xen giữa Phật giáo, Công giáo (phát triển mạnh từ các đợt di dân lập dinh điền năm 1956 tại Long Điền, Châu Ninh, Nhân Hòa), Tin Lành, Cao Đài (lập thánh thất năm 1957) và tín ngưỡng đa thần bản địa. Bản sắc văn hóa thể hiện qua Không gian văn hóa Cồng chiêng của người Stiêng, Tết mừng lúa mới của người Mnông, lễ hội đâm trâu, lễ bỏ mả. Toàn tỉnh có 9 di tích lịch sử cấp quốc gia và 38 di tích cấp tỉnh được quy hoạch.
- Hiện trạng sản xuất Nông nghiệp: Tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt $7,35%$ (1997), $21,57%$ (1998) và $18,11%$ (1999). Cơ cấu chuyển dịch mạnh từ độc canh tự cấp sang trồng cây công nghiệp hàng hóa:
| Chỉ tiêu nông nghiệp |
Năm 1997 |
Năm 2000 |
Năm 2002 |
| Diện tích Cao su (ha) |
77.670 |
86.916 (sản lượng: 67.723 tấn) |
88.657 |
| Diện tích Điều (ha) |
63.620 |
64.134 |
Giá cả ổn định, mở rộng thâm canh |
| Diện tích Tiêu (ha) |
3.438 |
5.126 |
13.707 |
| Diện tích Cà phê (ha) |
14.423 |
18.140 |
16.634 (giảm do giá hạt tươi hạ) |
| Diện tích Cây ăn quả (ha) |
5.404 |
— |
17.327 |
| Diện tích Lúa ruộng (ha) |
— |
— |
11.860 |
| Đàn Heo (con) |
103.555 |
— |
146.147 |
| Đàn Bò (con) |
— |
— |
35.518 |
| Đàn Trâu (con) |
13.733 |
17.967 |
18.840 |
| Đàn Gia cầm (con) |
843.984 |
— |
$>1.000.000$ |
Chương IV: Quy hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước thời kỳ 1997 – 2010
Theo khung mục lục công trình, chương này xác định hệ thống quan điểm phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, thiết lập các mục tiêu tăng trưởng và đề xuất giải pháp chủ yếu đến năm 2010: đẩy mạnh đa dạng hóa cây trồng (mở rộng cao su tiểu điền lẫn quốc doanh, cải tạo vườn điều già cỗi bằng phương pháp ghép chồi và trồng xen ca cao/cây ăn quả, phát triển giống dứa Cayenne, thâm canh bắp cao sản và lúa nước), phát triển công nghiệp chế biến nông sản (mủ cao su, tinh bột sắn, hạt điều) và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Tổng hợp và hệ thống hóa toàn diện các điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Phước với 13 đơn vị địa tầng, 4 kiểu địa mạo, 6 nhóm thổ nhưỡng và hệ thống khí hậu - thủy văn đặc trưng vùng Đông Nam Bộ.
- Thống kê chi tiết trữ lượng 20 loại khoáng sản tại 91 điểm mỏ, xác lập tiềm năng lớn về bauxit (254 triệu tấn tinh quặng) và đá vôi ximăng (550 triệu $\text{m}^3$).
- Phân tích cơ cấu và động thái dân số - nguồn lao động (702.262 người năm 2001), thực trạng chuyển đổi hình thức cư trú của đồng bào Stiêng, Mnông và các chỉ số phát triển mạng lưới y tế, trường lớp.
- Phản ánh trung thực quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp giai đoạn 1997–2002 với sự bứt phá của các cây công nghiệp chủ lực (cao su đạt 88.657 ha, hồ tiêu đạt 13.707 ha, cây ăn trái đạt 17.327 ha).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tiếp tục thực hiện phương án đa dạng hóa cây trồng trên cơ sở kết hợp tối ưu giữa hiệu quả sử dụng đất và lợi nhuận kinh tế.
- Tăng cường đầu tư công nghệ chế biến sâu để nâng cao giá trị mủ cao su, giải quyết vấn đề ô nhiễm mùi hôi và chất thải công nghiệp (phenol, cardol từ chế biến điều; nước thải chế biến sắn).
- Nghiên cứu địa chất thủy văn chi tiết tại từng khu vực đất đỏ bazan để khoan giếng tầng sâu ($>50\text{m}$), giải quyết tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt nông thôn.
- Đẩy mạnh chính sách thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, đào tạo nghề cho lao động nông nhàn và giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu hụt giáo viên các cấp.
Đóng góp của đề tài
Công trình là một trong những tài liệu nghiên cứu địa lý địa phương chuyên biệt và có hệ thống đầu tiên về tỉnh Bình Phước sau thời điểm tái lập tỉnh (01/01/1997), góp phần lấp đầy khoảng trống tư liệu địa chí phục vụ ngành giáo dục sư phạm địa lý tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do hạn chế về thời gian và kinh phí, tác giả chưa thực hiện được nhiều đợt khảo sát thực địa chuyên sâu trên toàn địa bàn tỉnh mà chủ yếu dựa vào phương pháp trong phòng để tổng hợp số liệu từ các sở, ban ngành; một số chuỗi số liệu thống kê trong giai đoạn mới tách tỉnh còn phân tán và chưa đồng bộ hoàn toàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành khảo sát thực địa phân vùng cảnh quan chi tiết ở cấp vi mô; cập nhật và đánh giá các biến động kinh tế - xã hội, đô thị hóa và tác động môi trường trong các giai đoạn quy hoạch tiếp theo sau năm 2002.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Địa lý, Địa lý học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy bài học Địa lý địa phương tỉnh Bình Phước tại các trường THPT và trường trung cấp/cao đẳng sư phạm.
- Cán bộ quản lý quy hoạch và nghiên cứu văn hóa - xã hội: Tham khảo hệ thống dữ liệu tự nhiên, lịch sử biến đổi địa giới hành chính, đặc điểm nhân khẩu học và các phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc bản địa (Stiêng, Mnông, Tà Mun).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng các quan điểm khoa học nào để phân tích địa lý tỉnh Bình Phước?
Khóa luận vận dụng ba quan điểm địa lý hiện đại chính:
- Quan điểm địa hệ: Xem lãnh thổ là một hệ thống toàn vẹn gồm các thành phần tự nhiên và nhân văn có mối liên hệ qua lại chặt chẽ.
- Quan điểm hệ sinh thái: Nghiên cứu sự trao đổi các dòng vật chất, năng lượng và thông tin giữa các phân hệ địa lý.
- Quan điểm địa sinh thái - phát triển lâu bền: Giải quyết bài toán cân bằng giữa khai thác tài nguyên phát triển kinh tế với bảo tồn môi trường sống.
2. Tỉnh Bình Phước có các nhóm đất chính nào và loại nào chiếm ưu thế lớn nhất?
Toàn tỉnh có 6 nhóm đất chính: đất đỏ vàng trên đá bazan (531.963 ha - chiếm ưu thế tuyệt đối), đất xám trên thềm phù sa cổ (94.430 ha), đất dốc tụ (22.636 ha), đất phù sa (3.320 ha), đất đen (550 ha) và đất xói mòn trơ sỏi đá (191 ha).
3. Tình hình phát triển cây cao su tại Bình Phước trong giai đoạn 1997–2002 diễn ra như thế nào?
Cây cao su được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Diện tích năm 1997 đạt 77.670 ha, tăng lên 86.916 ha vào năm 2000 (sản lượng 67.723 tấn). Năm 2001 diện tích giảm nhẹ xuống 84.057 ha do bàn giao 1.781 ha của Công ty Cao su Đồng Phú về tỉnh Bình Dương và giải phóng mặt bằng làm đường quốc lộ. Đến năm 2002, diện tích phục hồi và đạt 88.657 ha, phân bố nhiều nhất ở Bình Long và Phước Long.
4. Những vấn đề môi trường và y tế nổi cộm nào được tác giả chỉ ra?
Khóa luận nêu rõ các vấn đề cấp bách gồm: suy giảm độ che phủ rừng dẫn đến xói mòn đất, ô nhiễm không khí và nguồn nước do chất thải chế biến mủ cao su, chao dầu điều và tinh bột sắn. Về mặt dân sinh, hai thách thức lớn nhất là nguy cơ mắc bệnh sốt rét tại các vùng rừng/vườn cao su và sự thiếu hụt nguồn nước sạch sinh hoạt tại khu vực nông thôn, miền núi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hiền đã phác thảo một bức tranh toàn diện và có cơ sở khoa học về các điều kiện tự nhiên, môi trường nhân văn và tiềm năng kinh tế của tỉnh Bình Phước giai đoạn sau tái lập tỉnh. Tác phẩm làm nổi bật mối quan hệ tương tác giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường trên nền tảng các quan điểm địa lý hiện đại. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thiết thực đối với hoạt động giảng dạy phân môn Địa lý địa phương cũng như công tác nghiên cứu địa chí tại vùng Đông Nam Bộ.