ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêu chảy cấp là tình trạng trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nƣớc ≥ 3 lần/24 giờ và kéo dài không quá 14 ngày, phân không có máu [1]. Tiêu chảy cấp ở trẻ em dƣới 5 tuổi là bệnh phổ biến và là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở trẻ thuộc độ tuổi này. Ƣớc tính trên toàn thế giới hằng năm có khoảng 1,7 tỷ trẻ em dƣới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp với khoảng 525.000 trẻ tử vong [42]. Trong số trẻ dƣới 5 tuổi, 15% sẽ phải nhập viện do tiêu chảy và 50% cần tới phòng khám.
Tiêu chảy, nếu không đƣợc điều trị đúng và kịp thời sẽ gây ra các tình trạng mất nƣớc, mất muối, nhiễm toan chuyển hóa và thiếu kali; thậm chí tử vong. Ngoài ra, tiêu chảy còn gây những tổn hại về chi phí y tế trực tiếp cho điều trị bệnh nhi và các chi phí gián tiếp khác [1]. Các triệu chứng lâm sàng thƣờng gặp ở bệnh nhân tiêu chảy cấp là tiêu chảy 80,2% phân có máu 31,5% sốt 84,7%, rối lọan điện giải 9% [20]. Nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ bệnh nhân tiêu chảy cấp có tăng bạch cầu 59,0%, Hematocrit tăng chiếm tỉ lệ 22,0% [19].
Nguyên nhân của tiêu chảy bao gồm do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng. Nguyên nhân do virus thƣờng gặp nhất và chủ yếu là rota virus. Nghiên cứu thấy tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp thƣờng gặp là: Shigella, Salmonella, Entamoeba histolytica, Escherichia coli, Burkholderia cepacia [3]. Có nhiều yếu tố nguy cơ gây tiêu chảy cấp của trẻ em, có thể đƣợc chia thành 3 nhóm nhƣ: các yếu tố liên quan đến thói quen, tập quán; các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy và tính chất mùa.
Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dƣới 5 tuổi tỉnh Quảng Ngãi, Phạm Thị Bích Ngọc và cs (2009) thấy: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn của mẹ; mức kinh tế gia đình; nguồn nƣớc sinh hoạt; tính chất vệ sinh hố xí; thói quen vệ sinh; dinh dƣỡng; mức hiểu biết chung về phũng chống tiêu chảy của mẹ đều có 2 liên quan đến tiêu chảy của trẻ [13]. Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Chi Mai và cs (2017) cho kết quả: nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus ở nhóm trẻ chƣa uống vắc xin phòng Rotavirus cao gấp 7,2 lần so với những trẻ đã đƣợc uống vắc xin này [12]. Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sapa là bệnh viện Đa khoa hạng II đóng trên địa bàn thị xã Sapa. Hằng năm, bệnh viện thực hiện khám chữa bệnh cho hàng nghìn trẻ em, trong đó có rất nhiều trẻ bị tiêu chảy.
Số lƣợng trẻ bị tiêu chảy thay đổi theo mùa trong năm. Nhiều trẻ bị tiêu chảy lại đến viện muộn trong tình trạng đã mất nƣớc. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của các yếu tố nguy cơ giúp ngƣời thầy thuốc lâm sàng đƣa ra những tƣ vấn xác đáng, khoa học phù hợp cho mỗi bệnh nhân nhằm giảm đƣợc tỉ lệ mắc và nâng cao đƣợc kiến thức về bệnh tiêu chảy. Chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai” nhằm mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị của bệnh nhân tiêu chảy cấp từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai năm 2020. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tiêu chảy cấp của trẻ ở nhóm nghiên cứu trên. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm chung về bệnh tiêu chảy cấp 1.
Một số định nghĩa liên quan đến tiêu chảy cấp Tiêu chảy cấp là tình trạng trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nƣớc ≥ 3 lần/24 giờ và kéo dài không quá 14 ngày, phân không có máu [1]. Đợt tiêu chảy đƣợc xác định từ ngày đầu tiên trẻ bị tiêu chảy cho đến ngày sau đó 2 ngày phân bình thƣờng. Sau khi hết tiêu chảy hai ngày mà trẻ mắc tiêu chảy lại thì đƣợc tính là đợt tiêu chảy mới. Sau khi hết tiêu chảy một ngày mà trẻ mắc tiêu chảy thì vẫn tính là đợt tiêu chảy cũ [41].
Hội chứng lỵ là tiêu chảy có máu trong phân. Bệnh nhân đau quặn bụng mót rặn, phân nhày máu do vi khuẩn xâm nhập gây tổn thƣơng niêm mạc ruột. Tiêu chảy kéo dài là đợt tiêu chảy khởi đầu cấp tính nhƣng kéo dài trên 14 ngày. Bắt đầu mỗi đợt có thể là tiêu chảy cấp hoặc hội chứng lỵ [1].
Đặc điểm dịch tễ học bệnh tiêu chảy cấp trẻ em 1. Tần suất mắc bệnh tiêu chảy cấp trẻ em Tiêu chảy ở trẻ em dƣới 5 tuổi là bệnh phổ biến có thể phòng và điều trị đƣợc, bệnh là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở trẻ nhỏ. Ƣớc tính trên toàn thế giới hằng năm có khoảng 1,7 tỷ trẻ em dƣới 5 tuổi bị tiêu chảy cấp với khoảng 525.000 trẻ tử vong. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây ra suy dinh dƣỡng ở trẻ dƣới 5 tuổi [42].
Theo thống kê của Viện Nhi Việt Nam - Thụy Điển, các bệnh nhi bị bệnh về đƣờng tiêu hóa chiếm 18,08% tổng số bệnh nhi vào viện trong đó tiêu chảy chiếm 72,39%. Đường lây truyền bệnh tiêu chảy Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy thƣờng lây truyền bằng đƣờng phân - 4 miệng: Phân trẻ bị tiêu chảy là nguồn nhiễm bệnh cho thức ăn, nƣớc uống. Trẻ bị tiêu chảy khi ăn phải thức ăn, nƣớc uống bị nhiễm bệnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây [33]. Tác nhân gây bệnh tiêu chảy cấp trẻ em Tác nhân gây bệnh phân lập đƣợc từ 75% các trƣờng hợp tiêu chảy trong bệnh viện và 50% các trƣờng hợp tại cộng đồng [33].
* Tác nhân do virus: - Rota virus: là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa tính mạng trẻ em dƣới 2 tuổi. Rota virus có 4 týp huyết thanh gây bệnh. Khoảng 1/3 số trẻ em dƣới 2 tuổi ít nhất bị 1 đợt tiêu chảy do Rota virus, tiêu chảy do virus Rota chiếm 50% - 65% tiêu chảy cấp ở trẻ em trong bệnh viện [30]. - Các virus khác: Adeno virus, Norwalk virus cũng gây tiêu chảy….
[28] * Tác nhân do vi khuẩn - Coli đƣờng ruột Escherichia coli (E. coli) gây ra 25% trƣờng hợp tiêu chảy cấp, gồm có 5 týp gây bệnh. Loại bệnh thƣờng gặp nhất là E.coli gây bệnh đƣờng ruột (50,0%), tiếp theo là E.coli sinh ruột (20,4%), E.coli độc tố ruột (14,8%), E.coli xâm lấn đƣờng ruột (3,7%) và Shiga E. - Trực khuẩn lỵ (Shigela) là tác nhân gây lỵ trong 60% các đợt lỵ.
Có 4 nhóm huyết thanh: S. Một nghiên cứu phân lập Shigella từ 26 trẻ em, tất cả đều bị tiêu chảy cấp (10,4%): S. flexneri là 21 (80,8%) và S. - Campylobacter jejuni: gây bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ, lây qua tiếp xúc với phần, uống nƣớc bẩn, ăn sữa và thực phẩm bị ô nhiễm.
jejuni gây tiêu chảy tóe nƣớc 2/3 trƣờng hợp và 1/3 trƣờng hợp gây hội chứng lỵ và sốt. Bệnh thƣờng diễn biến nhẹ và chỉ kéo dài 2 - 5 ngày, khó phân biệt với tiêu chảy do các nguyên nhân khác [28]. - Samonella không gây thƣơng hàn: do lây từ súc vật nhiễm trùng hoặc 5 thức ăn động vật bị ô nhiễm. Nghiên cứu trên 895 trƣờng hợp trẻ nhập viện mắc bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính, tác nhân gây bệnh phổ biến nhất trong các trƣờng hợp viêm ruột do Salmonella là nhóm huyết thanh B, cũng là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất và kháng ampicillin [40].
- Vi khuấn Vibrio cholerae: Có 2 týp sinh vật (týp cổ điển và Eltor) và týp huyết thanh (Ogawa và Inaba). Vi khuẩn tả gây tiêu chảy xuất tiết qua trung gian độc tố tả, gây xuất tiết mất nƣớc và điện giải ở ruột non. Tiêu chảy có thể nặng dân tới mất nƣớc, điện giải nặng trong vài giờ [38]. * Tác nhân do ký sinh trùng - Entamoeba histolytica (Amip): gây bệnh qua xâm nhập vào liên bào đại tràng hay hồi tràng gây các ổ áp xe nhỏ và loét (90% số ngƣời bị nhiễm các chứng amip không gây độc lực [26].
- Giardia lamblia là một ký sinh trùng đơn bào bám dính lên liên bào ruột non, làm teo các nhung mao ruột gây tiêu chảy, kém hấp thụ [24]. - Cryptosporidium: là một ký sinh trung thuộc họ Coccidian gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ, ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và ở nhiều loại gia súc. Tiêu chảy thƣờng nặng và kéo dài khi xảy ra ở trẻ suy dinh và ngƣời mắc bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải [23]. Cơ chế bệnh sinh tiêu chảy - Trong tình trạng bệnh lý, sự hấp thu nƣớc và muối ở ruột non bị rối loạn, nhiều nƣớc xuống đại tràng , không có khả năng hấp thu và gây tiêu chảy - Cơ chế tiêu chảy có thể phân chia làm hai loại: * Tiêu chảy xâm nhập (Invasive diarrhoes) Các yếu tố gây bệnh xâm nhập vào trong tế bào liên bào ruột non, ruột già, nhân lên trong đó và phá huỷ tế bào, làm bong tế bào và gây phản ứng viêm.
Những sản phẩm phá huỷ tế bào, viêm bài tiết vào trong lòng ruột gây nên tiêu chảy [27]. 6 Vi khuẩn gây xâm nhập gồm: Shigella, Coli xâm nhập, Coli xuất huyết, Campylobactejejuni, Salmo-nella, Yersinia, Vibrio hema, Jrarahemolytica và Entamoeba histolitica [33]. Mức độ làn tràn của tổn thƣơng tổ chức thay đổi tuỳ theo nguyên nhân và sức đề kháng của vặt chủ. Ngƣời ta biết ít về vai trò của độc tố làm vi khuẩn xâm nhập, nhân lên trong tế bào trƣớc khi phá huỷ tế bào.
Đối với Shigella màng protein lipopolysaccharid bên ngoài ở thành tế bào dƣờng nhƣ là yếu tố cần thiết. Nhiều bệnh nguyên nhân gây ỉa chảy do cơ chế xâm nhập đƣợc tìm thấy cơ chế tạo các độc tố tế bào [33]. Thƣơng hàn và phó thƣơng hàn: Là những ví dụ xâm nhập viêm ở ruột, từ đó vi khuẩn có thể lan vào máu đi khắp cơ thể gây sốt thƣơng hàn. Đối với các nguyên nhân khác nhƣ: Enteropathogenic E.
coli, Rotavirus, Cryptosporidium, Giardia lambria: Bám chặt vào niêm mạc ruột, gây tổn thƣơng diềm bàn chải của các tế bào hấp thu ruột non không xâm nhập vào tế bào [28]. * Tiêu chảy do cơ chế xuất tiết Sau khi qua dạ dày, vi khuẩn tả cƣ trú ở phần dƣới hồi tràng và sản sinh ra độc tố ruột cholera toxin: đơn vị B của độc tố gắn vào bộ phận tiếp nhận đặc hiệu của tế bào giải phóng ra đơn vị A của độc tố. Đơn vị này đi vào tế bào ruột hoạt hoá Adenylcyclase, làm ATP trở thành AMP vòng.