Tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài lim xẹt

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của lim xẹt tại Vườn quốc gia Bến En, Thanh Hóa. Phân tích điều kiện sinh thái và khả năng phục hồi loài.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2013

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Lim xẹt

Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis A.Chev) là một loài cây gỗ quý hiếm phân bố tại Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài này có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn và phát triển rừng nhiệt đới. Tái sinh tự nhiên là quá trình phục hồi quần thể cây thông qua các cơ chế sinh học tự nhiên, bao gồm giống nảy mầm, cây con từ rễ và các bộ phận thực vật khác. Nghiên cứu này tập trung vào việc hiểu rõ cơ chế tái sinh của Lim xẹt dưới các điều kiện môi trường khác nhau, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý và bảo vệ loài cây này một cách hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng của tái sinh tự nhiên

Tái sinh tự nhiên là quá trình tự phục hồi của rừng thông qua các nguồn lực sinh học. Đối với loài Lim xẹt, khả năng tái sinh tự nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện ánh sáng, độ ẩm, đặc điểm thổ nhưỡng và mật độ cây mẹ. Việc nghiên cứu sâu về tái sinh của Lim xẹt giúp bảo tồn di sản rừng nhiệt đới và duy trì đa dạng sinh học của hệ sinh thái.

1.2. Phương pháp nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới

Để nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của Lim xẹt, các nhà khoa học sử dụng phương pháp kế thừa, điều tra đánh giá trường hiện trạng và phân tích dữ liệu thống kê. Các phương pháp này giúp xác định mật độ tái sinh, cơ cấu tổ thành các cây tái sinh của Lim xẹt, cũng như ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến quá trình tái sinh tự nhiên.

II. Đặc điểm tái sinh của Lim xẹt dưới tán rừng

Dưới tán rừng, Lim xẹt thể hiện các đặc điểm tái sinh khác biệt so với các khu vực khác. Cây tái sinh dưới tán thường có tỷ lệ sống thấp hơn do thiếu ánh sáng và cạnh tranh lớn từ các loài cây khác. Tuy nhiên, những cây tái sinh của Lim xẹt có thể sống được chứng tỏ rằng chúng có khả năng thích nghi tốt với môi trường bóng mát. Mật độ tái sinh của Lim xẹt dưới tán rừng phụ thuộc vào mức độ che phủ của tán cây mẹ, độ ẩm đất và thành phần cây bụi thảm tươi xung quanh. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tái sinh tự nhiên của loài này trong các trạng thái rừng khác nhau.

2.1. Phân bố và mật độ cây tái sinh dưới tán

Phân bố tái sinh của Lim xẹt dưới tán rừng không đều, tập trung chủ yếu ở những nơi có độ che phủ vừa phải (60-80%). Mật độ cây tái sinh biến động từ thấp đến cao tùy theo điều kiện ánh sáng và độ ẩm địa phương. Các cây tái sinh của Lim xẹt phân bố theo các cấp chiều cao khác nhau, trong đó cây con nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất.

2.2. Ảnh hưởng của ánh sáng và độ ẩm đến tái sinh

Ánh sángđộ ẩm là hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm tái sinh tự nhiên của Lim xẹt. Những khu vực dưới tán có độ che phủ cao thường có mật độ tái sinh thấp hơn. Ngược lại, ở những vị trí có ánh sáng đủđộ ẩm thích hợp, cây tái sinh của Lim xẹt phát triển tốt hơn, tỷ lệ sống cao hơn.

III. Tái sinh của Lim xẹt ở các lỗ trống rừng

Các lỗ trống trong rừng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho tái sinh tự nhiên của Lim xẹt. Trong những khoảng trống này, cây tái sinh nhận được ánh sáng trực tiếp, độ ẩm cao và ít bị cạnh tranh. Đặc điểm tái sinh của Lim xẹt ở các lỗ trống thể hiện rõ hơn với mật độ cao, chiều cao cây lớntỷ lệ sống tốt. Các cây tái sinh của Lim xẹt ở đây phát triển nhanh chóng, có cơ hội trở thành cây gỗ chính trong tương lai. Sự tái sinh này đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi rừng tự nhiên và duy trì cấu trúc lâm phần của các trạng thái rừng.

3.1. Đặc điểm cây tái sinh trong lỗ trống

Trong lỗ trống rừng, cây tái sinh của Lim xẹt thể hiện các đặc điểm tái sinh ưu việt như chiều cao cao hơn, đường kính thân lớn hơn, mắt lá xanh tươi. Mật độ tái sinh ở các lỗ trống dao động từ 500-2000 cây/ha tùy theo kích thước lỗ trống. Tỷ lệ sống của cây con ở đây đạt 70-85%, cao hơn so với dưới tán rừng.

3.2. Nguồn gốc tái sinh và yếu tố thúc đẩy

Tái sinh của Lim xẹt ở lỗ trống chủ yếu xuất phát từ giống nảy mầm từ cây mẹ lân cận. Ánh sángnhiệt độ cao ở lỗ trống tạo điều kiện thuận lợi cho tái sinh tự nhiên. Ngoài ra, độ ẩm vữa phải từ mưa và sương giương cũng hỗ trợ quá trình tái sinh của Lim xẹt ở những vị trí này.

IV. Các biện pháp xúc tiến tái sinh của Lim xẹt

Để xúc tiến tái sinh tự nhiên của Lim xẹt, cần áp dụng các biện pháp quản lý rừng khoa học và bảo vệ môi trường. Các biện pháp xúc tiến tái sinh bao gồm tạo lỗ trống nhân tạo, kiểm soát cây bụi thảm tươi, bảo vệ cây mẹ để đảm bảo nguồn giống, và nâng cao độ ẩm đất. Tái sinh tự nhiên của Lim xẹt cũng được thúc đẩy thông qua việc giảm áp lực khai thác, tăng cường bảo vệ rừng, và phục hồi các khu vực bị suy thoái. Các biện pháp kỹ thuật này giúp tạo điều kiện tối ưu cho đặc điểm tái sinh tự nhiên phát triển, từ đó nâng cao khả năng phục hồi của rừng và bảo tồn loài Lim xẹt lâu dài.

4.1. Quản lý tán cây và kiểm soát ánh sáng

Cân bằng độ che phủ tán là chìa khóa để xúc tiến tái sinh tự nhiên của Lim xẹt. Cần duy trì độ che phủ 60-70% để cây tái sinh nhận đủ ánh sáng nhưng vẫn được bảo vệ khỏi ánh nắng quá mạnh. Tạo lỗ trống nhân tạo có diện tích 100-200m² là biện pháp hiệu quả để xúc tiến tái sinh của Lim xẹt.

4.2. Bảo vệ cây mẹ và quản lý cây bụi thảm tươi

Bảo vệ cây mẹ Lim xẹt giúp đảm bảo nguồn giống cho quá trình tái sinh tự nhiên. Kiểm soát cây bụi thảm tươi cạnh tranh sẽ giúp cây tái sinh phát triển tốt hơn. Các biện pháp quản lý này tạo nên đặc điểm tái sinh tự nhiên tích cực, hỗ trợ phục hồi quần thể Lim xẹt bền vững.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng mưa nhiệt đới đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu. Phần lớn nghiên cứu chỉ tập trung ở một số loài có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã bị tác động và có sự thay đổi.Một số công trình nghiên cứu về đặc điểm tái sinh các loài cây tiên phông gop phan tim hiểu sâu hơn về rừng mưa nhiệt đới như: ® Tái sinh dudi tán rừng: Nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng mưa nhiệt đới châu Phi.Ôbrêvin (1938) nhận thấy các con Eủa-các loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể cực hiếm.

Tổ thảnh tằng cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều. Ông đã dưa ra lí luận bức khảm tái sinh (còn gọi là lý luận tuần hoàn tái sinh). Theo lý luận này có thể coi một diện tích rừng mưa rộng lớn là một bức khảm mà mỗi đơn Vị của bản ghép hình đó là một tổ hợp hình thành bởi những loài cây ưu thế khá nhau. Ông đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng mưa nhiệt đới Châu Phi để đúc kết lý luận bức khảm tái sinh.

Tuy nhiên lý luận của ông vẫn còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích-cho thực tiễn sản xuất, đề xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Đối với rừng mưa gut đới ở Nam Mr David và P.W Risa et đạt một thời gian dài. Một số nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên Châu Á như: Bara (1954), Budowski (1956), có nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây này là cần thiết. Đi sâu hơn nữa về rừng nhiệt đới M.Loeschau (1977) cũng đã nghiên cứu về tái sinh tự nhiên.

Khắc phục các hạn chế trước đó là điều tra ngẫu nhiên. Rất quan tâm và đánh giá cao tính chính xác trong các thao tác ngoại nghiệp để đảm bảo đưa ra kết luận chính xác nhất về mật độ vã chất lượng tái sinh tự nhiên ở khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn mang tính tổng quát cao, là cơ sở để nghiên cứu tái sinh tự nhiên eủä loài cu thé trong công tác phục hồi và làm giàu rừng. s Tái sinh lỗ trống: Những nghiên cứu đi sâu về tái sinh lỗ trống không nhiều tuy nhiên vẫn có một số công trình nghiên cứu thu-được kết quả to lớn như: Năm 1956, tái sinh tự nhiên ở rừng mưa nhiệt đới được đề cập trong nghiên cứu của Vanstennis.

Nghiên cứu này đã nhận thấy đặc điểm hỗn loài, khác tuôi của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến sự phân tán liên tục, tái sinh liên tục tạo ra tiền đề chờ sự hình thành một rừng mưa nhiệt đới hỗn loài khác tuổi. Do có sự khác nhau vải rừng thuần loài ôn đới, thời kỳ tái sinh chỉ tập trung và một mùa nhất định, rừng nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạo khá đa dạng về thành phần loài và cũng rất nhiều mối quan hệ cạnh tranh gay gắt giữa các loài với nhau và với-các loài khác nên tái sinh diễn ra nhiều thời kỳ quanh năm. Ở các lỗ trống lớn, thành phần tái sinh thường là những cây ưa sáng, mọ€-nhanh, sinh trưởng tốt và cây có độ tuổi thành thục công nghệ ngắn. Tỷ lệ và mật độcây tái sinh phụ thuộc vào diện tích lỗ trống, cây tái sinh ở các vị trí này thường là hàn gắn chỗ trống tạo độ tàn che và tham J chính.

Do đó mà nhanh chóng tạo tiểu hoàn cảnh ở quả trình thường là tái sinh hạt phát triển. Nhưng Theo Clack (1990), Denslow (1987), đã đi sâu nghiên cứu và đặc biệt quan tâm đến diện tích lỗ trống. Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích lỗ trống có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc và thành phần lớp cây tái sinh. Năm 2000, Fred và các cộng sự khi nghiên cứu về tái sinh lỗ trống ở rừng tự nhiên ở Uganda đã chỉ ra rằng kích thước lỗ trống không những ảnh hưởng đến cấu trúc và sinh trưởng của lớp cây gỗ tái sinh mà còn ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng và độ nhiều của lớp cây bụi, dây leo.

Tác giả chó rằng chỉ số đa dạng của tầng cây tái sinh và dây leo có quan hệ với kích thước lỗ trồng theo dạng hàm Weibull lệch trái. Theo Renato (2004), thì lỗ trống được khái niệm lä'khoảng trống dưới tán rừng được tạo ra bởi sự đỗ gãy hay mắt đi (do bị chặt) của các cây ở tầng cao. Kết quả là tạo nên sự khác biệt về các nhân tố môi trường như: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa,.ở các lỗ trống so với xung quanh. Điều này hình thành và tạo sự chênh lệch cây tái sinh với các khu vực lân cận.

Nhìn chung các nghiên cứu về tái sinh trên thế giới là khá đa dạng và mang tính khái quát cao, tuy nhiên các nghiên cứu vẫn đi sâu về từng loài cụ thể, chưa đánh giá chỉ tiết và nghiên cứu song song tái sinh dưới tán và tái sinh lỗ trống. Các nghiên cứu về tái sinh lỗ trống vẫn còn hạn chế hơn tái sinh dưới tán. Phương pháp nghiên cứu tái sinh. Phuong pháp điều tra tái sinh: Nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy ô mẫu hình vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề xuất, với diện tích mỗi ODB là từ 1-4m?.

Bên cạnh đó, cũng có tác giả đề nghị sử dụng phương pháp điều tra theo đải hẹp với các ð đo đếm có diện tích biến động từ 10-100m2. Phổ biến nhất là bố trí theo hệ thống trong các diện tích nghiên cứu từ 0,25- có thể thay đổi tùy theo từng giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Phương pháp đánh giá tái sinh: Để xác định mật độ cây tái sinh sử dụng các phương pháp: ODB (diện tích 1-4m?), dải hẹp và ô có kích thước lớn (10- 100m”). Phổ biến là phương pháp thống kê từng phần bằng cách đặt các ODB trong thí nghiệm 05-lha (Povarnixhun, 1934; Yurkevich, 1938): Năm 1961, Pooedinxki đề nghị dùng 25 ODB IxImỶ cho 1 khu tiêu chuẩn 0,5-1ha.Loeschau đã áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên.

Từ những tính toán về sai số cũng như về mặt tổ chức thực hiện thì các ô đã chọn là những ô hình vuông có diện tích là 25m” dễ dàng xác lập bằng gậy tre. Các ô đo đếm được xác lập theo từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 ô bố trf liên tiếp theo kiểu phân bố hệ thống không đồng đều. Như vậy, các ôvừa đại diện được đầy đủ toàn bộ khu vực điều tra và những nhân tố điều tfa-vừa có dạng gần với phân bố chuẩn. Tóm tại trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh, nhưng các nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên'cứu về lớp cây tái sinh chung.

Do đó mà cần có những nghiên cứu chỉ tiết về đặc điểm tái sinh của một loài. Để đưa ra các giải pháp lâm sinh cụ thể hơn nữa trong công tác xúc tiến tái sinh phục hồi rừng. Nghiên cứu về tái sinh rừng Việt Nam là một trong những nước thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới, do đó mà hệ thống rừng và thành phần löài ở nơi đây cũng rất đa dạng và phong phú như câu nói: “ Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Để thấy rằng Việt Nam có nguồn tài nguyên dồi dào: Tuy nhiên tài nguyên này không phải là vô tận, cần c` tân: Năm 1962-1963 Viện điều tra quy hoạch với sự cộng tác của nước bận ‘Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu tái sinh tại vùng sông Hiểu, tỉnh Nghệ An bằng phương pháp đo đếm điển hình dựa vào số liệu cây tái sinh trong một hecta.

Kết quả nghiên cứu đã được Vũ Đình Huề tổng kết trong nghiên cứu:” Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở miền Bắc, Việt Nam. Dựa vào mật độ tái sinh Vũ Đình Huề đã phân khả năng tái sinh theo ba cỡ: cỡ rất tốt với mật độ tái sinh lớn hơn 12000 cây/ha, cỡ tốt với mật độ cây tái sinh từ 4000-12000 cây/ha, cỡ trung bình với mật độ tái Sinh từ 2000-4000 cây /ha. Sau đó lại chia theo năm cỡ là: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu. Tuy nhiên do rừng bị tác động quá mạnh nên nghiên cứu này không còn phổ biến ở thời điểm hiện nay và đặc biệt ñghiên cứu mang tính tổng quát chỉ là cơ sở chung đánh giá chất lượng.

tái sinh cho f6àn rừng. Năm 1966, Trần Xuân Hiệp đã tiến hành nghiễn cứu Vai trò tái sinh và khả năng phục hồi rừng tự nhiên ở khu vực miền Bắc: Nghiên cứu nhận thấy rằng ở vùng Tây Bắc dù ở địa hình caø hay thấp thì tái sinh tự nhiên khá tốt về số lượng cây từ 500-8000 cây/ha. Rừng Tây Bắc thể hiện rõ chất lượng sinh và khả năng sinh trưởng của cây tái sinh. Khu vực xuất hiện nhiều nhóm cây chịu hạn, rụng lá, kích thước nhỏ và yếu.Đối với những loài cây có giá trị lại rất khó tái sinh phục hồi trở lại do ảnh hưởng của việc thiếu cây mẹ gieo giống.

Vùng trung tâm chất lượng rừng suy-kiệt, mật độ tái sinh thấp. Vùng Đông Bắc mật độ tái sinh từ 8000-12000 cây/ ha, khu vực tái sinh tự nhiên khá tốt. Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại ở việc so sánh và nhận thấy sự khác biệt về cây tái sinh ở các vùng địa lý khác nhau mà cũng chưa đi sâu nghiên cứu tai sinh cy thé. Để nghiên cứu rộng hơn nữa về vùng sinh thái thì Thái Văn Trừng (1978,1988), Trần Ngô Phương (1971, 2001), Lê Đồng Tấn (1990), Phạm rằng sự thay đổi về thành phan loài cây phục hồi tồi quá trình cạnh tranh, chọn lọc tự nhiên giữa các sau nương rẫy cần có thời gian rất dài để phục hồi, trong thời gian ngắn thì vẫn là rừng thứ sinh nghèo.

Do đó mà nghiên cứu mang tính khả quan không cao, Đến năm 1985, Nguyễn Duy Chuyên đã nghiên cứu quy luật phân bố số cây tái sinh tự nhiên ở rừng thường xanh hỗn loài Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Kết quả cho thấy 35% cây tái sinh có chiều cao từ 2m trở lên, 80% cây tái sinh có nguồn gốc tái sinh hạt, 47% cây tái sinh có chất lượng tốt, 37% cây tái sinh có chất lượng xấu. Mật độ cây tái sinh ở rừng giàu, rửng chất lượng tốt từ 3200-4000 cây/ha, rừng nghèo là 1500 cây/ha.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ