ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên quý giá của quốc gia, không những là tài nguyên có khả năng tự tái tạo và phục hồi mà rừng còn có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng. Ở nƣớc ta, rừng và đất rừng chiếm ¾ tổng diện tích lãnh thổ. Song thực tế do rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ ý thức tác động bất hợp lý của con ngƣời, đốt nƣơng làm rẫy, khai thác lạm dụng quá mức cho phép hay nói đúng hơn là sự đói nghèo và thiếu hiểu biết của ngƣời dân, cháy rừng nên diện tích và chất lƣợng rừng đã bị suy giảm trong thời gian dài. Trong những năm gần đây, đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc về việc bảo vệ và phát triển rừng, diện tích rừng tăng lên.
Mặc dù vậy chất lƣợng và trữ lƣợng rừng vẫn chƣa đƣợc cải thiện rõ rệt, chủ yếu rừng tự nhiên thuộc đối tƣợng rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế, phòng hộ và đa dạng sinh học chƣa cao, rừng trồng sản suất chủ yếu là rừng trồng nguyên liệu gỗ nhỏ.Vì vậy hiện nay việc phát triển trồng loài cây bản địa đang rất đƣợc quan tâm. Trong đó có loài Dẻ ăn quả. Dẻ ăn quả là một trong những loài cây rất có triển vọng cho những giải pháp lồng ghép các mục tiêu phát triển kinh tế và bảo tồn rừng ở nhiều vùng nƣớc ta. Tại Hải Dƣơng Dẻ ăn quả là loài cây bản địa đƣợc ƣu tiên để chọn trồng rừng và xúc tiến tái sinh cho việc phòng hộ và mục tiêu kinh tế.
Tuy nhiên trong thực tế sản xuất hiện nay, nhân dân trong vùng mới chỉ biết khai thác và tận dụng các diện tích rừng Dẻ ăn quả đã đƣợc trồng từ trƣớc mà chƣa quan tâm đến việc bảo vệ và phục hồi, dẫn đến sự suy thoái của rừng Dẻ. Trƣớc thực trạng đó, việc tái sinh phục hồi, phát triển nhân rộng diện tích trồng Dẻ là rất cần thiết. Tuy nhiên công tác khoanh nuôi, phục hồi rừng còn gặp rất nhiều những khó khăn do chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về đặc 1 điểm tái sinh rừng Dẻ ăn quả. Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm tái sinh ở khu vực là rất quan trọng và cấp bách hiện nay.
Xuất phát từ thực tế đó đề tài“Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Dẻ ăn quả (Castanopsis boisii Hickel et A.Camus) tại một số xã thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng” đƣợc tôi đề xuất thực hiện. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về tái sinh Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Biểu hiện đặc trƣng của tái sinh là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở các nơi có hoàn cảnh rừng (hoặc mất rừng chƣa lâu): Dƣới tán rừng, lỗ trống trong rừng…Vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi.
Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Trên thế giới Trên thế giới việc nghiên cứu tái sinh rừng đã trải qua hàng trăm năm nhƣng riêng đối với rừng nhiệt đới vấn đề này mới chỉ đƣợc đề cập từ cuối những năm 1930 trở lại đây. Khoa học lâm sinh và kinh nghiệm sản xuất đã chỉ rõ: Sự gìn giữ lớp cây con có sức sống cao để khôi phục rừng tự nhiên sẽ giảm bớt các chi phí về nhân lực, tiền vốn và thời gian so với trồng rừng mới. Hiệu quả tái sinh đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành, cấu trúc tuổi, chất lƣợng, sự phân bố cây con.
Sự tƣơng đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm: Mibbread 1930, Richards 1933 -1939; Beard 1946; Lebrun và Gilbert 1954; Baur 1964. Ở châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lƣợng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngƣợc lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên nhiệt đới Châu Á nhƣ: Bava (1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lại nhận định dƣới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lƣợng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết bảo vệ và phát tiển cây tái sinh có sẵn dƣới tán rừng.[15] 3 Những chuyên gia đầu tiên nghiên cứu về nhóm nhân tố sinh thái ảnh hƣởng đến tái sinh rừng mà không có sự can thiệp của con ngƣời là Baur (1962) đã chỉ ra rằng sự thiếu hụt ánh sáng dƣới tán rừng là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng của cây tái sinh. Nếu ở trong rừng cây con có thể chết vì thiếu nƣớc thì cũng không ngoại trừ cây chết do thiếu ánh sáng.
Trong rừng mƣa nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hƣởng chủ yếu đến sức sinh trƣởng của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển mầm non thì ảnh hƣởng này có thể đƣợc phản ánh chƣa rõ (Baur, 1962) [1]. Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng các tác giả nhận định tầng cây cỏ và cây bụi đã ảnh hƣởng tới cây tái sinh các loài cây gỗ. Ở quần thụ kín tán, tuy thảm cỏ phát triển kém nhƣng cạnh tranh dinh dƣỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hƣởng đến cây tái sinh. Những lâm phần đã qua khai thác, thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẽ trở ngại lớn cho tái sinh rừng.
Ngoài ra Ghent, A.W (1969) còn nhận xét: Thảm mục, chế độ thủy nhiệt, tầng đất mặt quan hệ với tái sinh rừng cũng cần đƣợc làm rõ. Hiển nhiên, trong những trƣờng hợp cụ thể ảnh hƣởng của động vật và lửa có thể gây những tác hại đến tái sinh tự nhiên ở mức độ khác nhau. Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới, M.Loeschau (1977) [12] đã đƣa ra một số đề nghị nhƣ: Đánh giá một khu bằng cách rút mẫu tự nhiên, trừ trƣờng hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh nhƣ nơi có lƣợng tái sinh lớn nhất. Các số liệu này là cơ sở cho các quyết định trong từng kế hoạch lâm sinh cụ thể, đặc biệt là xét xem lâm phần có xứng đáng đƣợc chăm sóc hay không? Việc chăm sóc cấp bách đến mức độ nào? Cƣờng độ chăm sóc phải ra sao? Những chỉ tiêu cũng cần phải điều tra nhƣ mật độ, chất lƣợng cây tái sinh cũng nhƣ đƣờng kính ngang ngực của những cây có giá trị kinh tế lớn 1cm đến 12.
4 Về phƣơng pháp điều tra tái sinh nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô dạng bản thông thƣờng từ 1- 4m2. Bên cạnh đó cũng có nhiều tác giả đã đề nghị sử dụng điều tra dải hẹp với các ô đo đếm có diện tích biến động từ 10 - 100m2. Phƣơng pháp này trong điều tra tái sinh sẽ khó xác định đƣợc quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên mặt đất rừng. Để giảm sai số khi thống kê, Barnard (1950) đã đề nghị một phƣơng pháp “điều tra chẩn đoán” theo đó kích thƣớc ô đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau.
Nhìn chung những kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên một phần đã làm sáng tỏ các đặc điểm tái sinh, các nhân tố ảnh hƣởng đến tái sinh và cách để xây dựng phƣơng thức xúc tiến tái sinh rừng. Tuy nhiên những nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới nói chung chƣa thật đầy đủ hệ thống cho từng loại rừng cụ thể. Tại Việt Nam Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm 1960. Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963 -1978) về “Thảm thực vật rừng Việt Nam”, ông nhấn mạnh ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh.[16] Dựa vào mật độ tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [8] đã phân chia khả năng tái sinh thành 5 cấp trong đó: + Cấp rất tốt có mật đô tái sinh: > 12.000 cây/ha + Cấp tốt có mật độ tái sinh: 8.000-12000 cây/ha + Cấp trung bình có mật độ tái sinh: 4.000 cây/ha + Cấp xấu có mật độ cây tái sinh: 2.000 cây/ha + Cấp kém có mật độ cây tái sinh < 2.000 cây/ha 5 Vũ Đình Huề (1975) [9] đã tổng kết và rút ra kết luận: Tái sinh tự nhiên rừng miền bắc Việt Nam mang những đặc điểm của tái sinh rừng nhiệt đới.
Dƣới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tƣơng tự nhƣ tầng cây gỗ, dƣới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm, kém giá trị và hiện tƣợng tái sinh theo đám đƣợc thể hiện rõ nét, tạo nên sự phân bố không đồng đều trên mặt đất rừng. Lâm Công Định (1987) [4] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng tái sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng. Tác giả kết luận hiệu quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hƣớng tới đạt đƣợc 3 yếu tố mấu chốt sau đây: - Giữ vững đƣợc vốn rừng về cả mấy mặt hiện tại trong đó: Địa bàn, diện tích, thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học, sản lƣợng, phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh. - Đảm bảo đƣợc sản lƣợng khai thác hàng năm theo chù kỳ ổn định.
- Nâng thêm đƣợc giá trị vốn rừng chủ yếu về 3 mặt: Ông nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng phƣơng pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh. Nghĩa là cuối cùng tùy thuộc vào đặc tính sinh học của từng loài cây, quy luật lâm học của rừng, hiệu lực tác động của các biện pháp kinh tế và ảnh hƣởng tố xấu của từng cách thức khai thác cùng với từng loại dụng cụ máy móc thi công, không có đầy đủ hiểu biết trên cơ sở để làm cơ sở lựa chọn con đƣờng tái sinh khai thác tối ƣu chắc chắn không thể đảm bảo tái sinh. Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên tác giả Vũ Tiến Hinh (1991)[6] đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý nghĩa của nó trong điều tra cũng nhƣ kinh doanh rừng. Tác giả còn cho biết hệ số tổ thành tính theo phần trăm của tầng cây cao và tầng tái sinh có sự liên hệ chặt chẽ.