Đặt vấn đề Mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus Fabricius thuộc họ Nitidulidae, bộ cánh cứng (Coleoptera) (CABI, 2019). Mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus là một trong số các loài thuộc giống Carpophilus xuất hiện và gây hại cả trong kho và ngoài đồng ruộng trên nhiều loại nông sản. Sự gây hại, phát sinh phát triển của các loài thuộc giống Carpophilus đều phụ thuộc vào độ ẩm tương đối cao để phát triển phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm. Theo Connell (1975), ký chủ của mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus bao gồm: ngô, ngũ cốc, hành tỏi, hạt nhục đậu khấu, hạt cacao, hạt cà phê, lúa mì, bột mì, hạnh nhân, hạt dẻ, củ khoai tây, hạt gạo, rễ gừng hoặt bột gừng, trái cây đã bóc vỏ… Trong các loại ký chủ, ngô là ký chủ ưa thích nhất của mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus.
Theo Nguyễn Thị Diệu Thư (2007), nhóm mọt gây hại thứ cấp gồm 19 loài chiếm 83% và nhóm có ích gồm 2 loài chiếm 8,5%. Kết quả điều tra tại Nghệ An đã ghi nhận một số loài: Rhizopertha dominica, Callosobruchus maculatus, Cryptolestes, Carpophilus, Tribolium castaneum, Palorus ratzeburgi với tần suất bắt gặp rất thấp ở đầu vụ. Giữa vụ mật độ loài Sitophilus oryzae, Carpophilus dimidiatus, Ephestia cautella xuất hiện nhiều hơn (với tần suất 15 – 30%). Đến cuối vụ thì các loài Sitophilus oryzae, Carpophilus dimidiatus, Tribolium castaneum, Palorus ratzeburgi, Ephestia cautella thường xuyên xuất hiện với mật độ khá cao ở tất cả các địa điểm điều tra.
Tại Gia Lâm, Hà Nội, mọt thòi đuôi là thành phần côn trùng gây hại trên các ruộng ngô trong giai đoạn chín sáp đến chin hoàn toàn. Chúng không những trực tiếp làm thiệt hại về số lượng, giảm chất lượng, giá trị thương phẩm, gây mùi khó chịu, màu sắc nông sản không bình thường mà còn là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng khi sử dụng nông sản. Một trong số đó có có loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus Fabr. 1 Để góp phần đáp ứng yêu cầu của khoa học và thực tiễn, dưới sự hướng dẫn của TS.
Phạm Thị Hiếu, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus farbricius (Coleoptera: Nitidulidae) trên một số ký chủ tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2021”. Mục đích và yêu cầu 2. Mục đích Xác định được thành phần, mức độ phổ biến của mọt thòi đuôi gây hại tại Gia Lâm, Hà Nội và nghiên cứu xác định đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của mọt thòi đuôi trên một số loại thức ăn khác nhau để từ đó đề xuất nghiên cứu biện pháp phòng chống chúng trên đồng ruộng và trong kho bảo quản nông sản. Yêu cầu - Xác định thành phần và mức độ phổ biến của mọt thòi đuôi gây hại trên ngô tại Gia Lâm - Hà Nội.
- Xác định đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus trên hạt ngô, lạc và macca. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Thành phần các loài côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả, vùng Đông Nam Á đã phát hiện thành côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho gồm 122 loài thuộc 28 họ của bộ cánh cứng (Coleoptera) và 17 loài thuộc 6 họ của bộ cánh vảy (Lepidoptera) (Sukparakarn, 1985, Sukparakarm & Tauthong, 1981, Nilpanit 1991, Nakakita 1991).
Theo Dobson (1954), giống Carpophilus gồm 180 loài chủ yếu tồn tại ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có 16 loài được phát hiện gây hại trong kho. Một số loài mọt gây hại nghiêm trọng các mặt hàng như trái cây sấy khô được tìm thấy ở Anh gồm loài mọt thòi đuôi điểm vàng Carpophilus hemipterus, mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus, Carpophilus ligneus và Carpophilus obsoletus. Bolin (2001) cho biết các loại côn trùng gây hại trong kho chủ yếu là Rhizopertha dominica, Cryptolestes spp, mọt bột đỏ Tribolium castaneum và ngài Ấn Độ”. Theo CABI (2002), các loài côn trùng Acanthoscelides obrectus, Callosobruchus spp, Rhizopertha dominica, Sitophilus spp, Tribelium castaneum gây hại nguy hiểm đối với kho thóc và đậu.
Tại Ấn Độ ghi nhận 05 loài côn trùng gây hại nguy hiểm trên lạc bao gồm: Mọt lạc Caryedon serratus (Olivier), mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst), ngài gạo Corcyra cephalonica (Stainton), mọt răng cưa Oryzaephilus mercator (Fauvel) và mọt thóc lớn Tenebroides mauritanicus (L. Theo Yi Wu & cs. (2019) ghi nhận hiện có khoảng 200 loài Carpophilus, phần lớn phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một số loài được coi là dịch hại sản phẩm bảo quản trong kho quan trọng.
Carpophilus dimidiatus và Carpophilus pilosellus Motschulsky là hai loài gần nhau gây hại trên nông sản 3 như ngũ cốc, trái cây khô, thuốc thảo mộc Trung Quốc và nhiều loại sản phẩm dự trữ khác. Qua quá trình theo dõi, tác giả Cotterell (1952) đã phát hiện ra nhiều loài gây hại khác nhau trên lạc như: Holepyris hawaiiensis (Ashm.), Bracon (Microbracon) hebetor Say, Caryedon fuscus (Goeze), Necrobia rufipes (Deg.), Ahasverus advena (Waltl), Laemophloeus ferrugineus (Steph.), Oryzaephilus mercator (Fauv.), Dermestes ater Deg., Orphinus aethiops Arrow, Trinodes hirtus (F.), Trogoderma granarium Everts, Carcinops quattuordecimstriata (Steph.), Palorus ratzeburgi (Wissm.), Tribolium castaneum (Hbst.), Corcyra cephalonica (Staint.), Esphetia cautella (Wlk.), Plodia interpunctella (Hb.), Pyralis manihotals Gn., Tinaea fusscipunctella Haw. Thiệt hại do các loài côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho gây ra Pawgleg (1963) cho biết tổn thất hạt bảo quản hàng năm được công bố ở Mỹ là khoảng 15-23 triệu tấn (trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, 8-16 triệu tấn do côn trùng). Ở Châu Mỹ La Tinh người ta đã đánh giá rằng ngũ cốc và đậu đỏ sau thu hoạch bị tổn thất khoảng 25 - 50%.
Ở một số nước Châu Phi, khoảng 30% tổng sản lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm (Vũ Quốc Trung, 1991). Bakal (1963) đã đánh giá sự mất mát lương thực hàng năm do chuột, côn trùng và nấm mốc gây ra là 33 triệu tấn. Hàng năm, ngũ cốc dự trữ trên toàn thế giới bị thiệt hai vào khoảng 10%, tương đương 1,3 triệu tấn do côn trùng gây ra và khoảng 100 triệu tấn đã bị mất giá trị (Wolpent, 1967). Ít nhất 10% lương thực sau thu hoạch bị mất do dịch hại trong kho và thiệt hại tới 30% là phổ biến ở các nước trên thế giới (Saelson, 1978).
Hall (1970) cho biết, ở các nước Mỹ la tinh, thiệt hại được đánh giá vào khoảng 25-50% đối với riêng các mặt hàng ngũ cốc và đậu đỏ. 4 Ở Mỹ, riêng mặt hàng thuốc lá bị thiệt hại do ngài Ephestia clutella gây ra hàng năm là 2 triệu USD (Keed và Living Store, 1937) và thiệt hại riêng cho ngô bảo quản do các loại mọt (Tribolium spp) gây ra vào khoảng 28 triệu USD và mất mát hàng năm trong kho dự trữ ngũ cốc thường dao động từ 15-23 triệu tấn, trong đó khoảng 8-16 triệu tấn do côn trùng phá hoại. Theo nghiên cứu của Dowd (2000), thiệt hại đối với ngô trên đồng ruộng gồm cả thiệt hại trực tiếp và gián tiếp do các loài mọt thòi đuôi Carpophilus spp., Glischrochilus quadrisignatus và Stelidota geminata gây ra. Mọt thòi đuôi xâm nhiễm vào các bắp ngô thường có vết do côn trùng và các loài động vật khác gây hại.
Các chất bay hơi của côn trùng và ngô sau khi bị gây hại là chất hấp dẫn mạnh mẽ đối với mọt thòi đuôi. Ngoài ra, mọt thòi đuôi còn gây hại trên các loại cây trồng khác như gây hại trực tiếp đối với quả dâu tây chín hoặc gần chín trên đồng ruộng. Tại các nước Tây Phi, các tác giả đã điều tra và báo cáo trên sắn lát và khoai tây bảo quản trong kho năm 2003 - 2004, 30% sản lượng sắn lát thu được từ Northern Guinea Savanna và 10% sản lượng sắn lát ở vùng Sudan Savanna bị côn trùng gây hại khi bắt đầu bảo quản. Sau thời gian bảo quản 3 tháng, 100% mẫu sẵn bị côn trùng gây hại.
Thành phần gây hại đối với sắn lát và khoai tây bảo quản có sự xuất hiện của loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus. Theo nghiên cứu Ewing & Cline (2005), loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus được phát hiện lần đầu tiên ở Hawaii và được báo cáo là loài gây hại phổ biến nhất tại đây. Loài mọt thòi đuôi gây hại trên nhiều loại thực phẩm dự trữ, đặc biệt là các loại ngũ cốc và trái cây. Chúng có thể được tìm thấy ở cả trong hoa, quả và các vật chất hữu cơ khác ở các vùng ven biển đến các khu rừng trên núi cao.
Riêng đối với sản xuất ngô tại vùng cận sa mạc Sahara, một phân tích tổng hợp về tổn thất sau thu hoạch chỉ ra rằng tổn thất về số lượng trung bình đối với ngô dao động trong khoảng từ 5,6 đến 25,5% (Affognon et al. 5 Tại Mỹ, đối với cây trồng Nonpareil trong vụ thu hoạch năm 2015, chỉ tính riêng quận Sunraysia của Victoria, thiệt hại do côn trùng thuộc giống Carpophilus gây ra là gần 11 triệu đô la. Bên cạnh việc mất mùa trực tiếp, sản phẩm còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng nông sản sau thu hoạch, mọt tồn tại trong sản phẩm hạt và hạt xuất khẩu. Nghiên cứu về mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus * Vị trí phân loại: Domain: Eukaryota Kingdom: Metazoa Phylum: Arthropoda Subphylum: Uniramia Lớp: Insecta Bộ: Coleoptera Họ: Nitidulidae Giống: Carpophilus Loài: Carpophilus dimidiatus (CABI, 2019) Mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus Fabricius có tên tiếng anh là corn-sap beetle, Ngoài tên Carpophilus dimidiatus, loài mọt này còn có tên khoa học khác là Carpophilus auropilosus Wollaston(1854); Carpophilus pusillus Stephens, 1830 (PaDil, 2020); Nitidula dimidiatus F.
* Phân bố và phạm vi kí chủ Một số loài thuộc giống Carpophilus xuất hiện gây hại trên nhiều loại nông sản cả trong kho và ngoài đồng ruộng. Các loài này phát triển phù hợp trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm và ẩm độ cao. Một số loại mặt hàng như ngũ cốc, đậu tương, ngô với độ ẩm thích hợp dễ trở thành đối tượng của các loài Carpophilus dimidiatus, Carpophilus hemipterus. Gạo được bảo quản ở độ ẩm môi trường cao là Đông Nam Á dễ bị tấn công bởi nấm Carpophilus pilosellus 6 (Hodges & cs.
Connell (1975) đã tổng hợp lại các ký chủ mà mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus gây hại bao gồm: ngô, ngũ cốc, hành tỏi, hạt nhục đậu khấu, hạt cacao, hạt cà phê, lúa mì, bột mì, hạnh nhân, hạt dẻ, củ khoai tây, hạt gạo, rễ gừng hoặt bột gừng, trái cây đã bóc vỏ… Tác giả kết luận ngoài ngô thì hạt lạc cũng là ký chủ ưa thích của mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus, chúng được cho rằng có phổ ký chủ rộng hơn so với Tribolium spp. * Đặc điểm hình thái, sinh vật học và sinh thái học của mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus Theo nghiên cứu của Parsons (1943), các loài mọt thòi đuôi có đặc điểm hình thái tương tự nhau.