Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Mọt thòi đuôi (Carpophilus dimidiatus Fabricius), thuộc họ Nitidulidae, bộ cánh cứng (Coleoptera), là loài dịch hại thứ cấp nguy hiểm có khả năng phân bố rộng và gây hại trên nhiều loại nông sản cả ngoài đồng ruộng lẫn trong kho bảo quản. Tại các vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiện độ ẩm cao là môi trường thuận lợi để các loài thuộc giống Carpophilus sinh trưởng và bộc phát quần thể. Theo các nghiên cứu chuyên ngành, phổ ký chủ của loài mọt này rất đa dạng, bao gồm ngô, ngũ cốc, lúa mì, gạo, các loại hạt có dầu (lạc, hạnh nhân, hạt dẻ, hạt nhục đậu khấu, cacao, cà phê), củ quả khô và nông sản đang lên men.

Tại khu vực huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, ngô là cây trồng chịu sự xâm nhiễm trực tiếp của Carpophilus dimidiatus từ giai đoạn chín sáp đến khi bắp chín hoàn toàn. Mọt xâm nhập qua các vết thương cơ giới hoặc vết đục do sâu hại khác tạo ra, tiếp tục sinh sản và theo sản phẩm sau thu hoạch vào kho bảo quản. Không chỉ gây hao hụt khối lượng và giảm chất lượng hạt, hoạt động của mọt còn làm thay đổi màu sắc, tạo mùi khó chịu, làm mất giá trị thương phẩm và tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe người sử dụng. Bên cạnh ngô, các loại hạt nông sản có giá trị kinh tế cao như hạt mắc ca (Macadamia) và hạt lạc (Arachis hypogaea) cũng đứng trước nguy cơ bị loài dịch hại này xâm nhiễm và gây hại nghiêm trọng trong điều kiện bảo quản thông thường.

Để giải quyết yêu cầu thực tiễn trong công tác bảo vệ thực vật và kiểm soát tổn thất sau thu hoạch, đề tài khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thành phần, mức độ phổ biến của các loài côn trùng gây hại và côn trùng có ích trên cây ngô tại Gia Lâm, Hà Nội; đồng thời xác định đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus khi phát triển trên các nguồn thức ăn gồm hạt ngô, hạt mắc ca và hạt lạc, từ đó cung cấp căn cứ khoa học cho việc đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả ngoài đồng ruộng và trong kho bảo quản.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Điều tra thành phần loài và xác định mức độ phổ biến của mọt thòi đuôi trên đồng ruộng trồng ngô vụ Hè Thu năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội.
    • Quan sát, mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và kích thước qua các pha phát dục của Carpophilus dimidiatus trên 3 loại ký chủ (ngô, mắc ca, lạc).
    • Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ (25°C và 30°C) và loại thức ăn đến thời gian phát dục, vòng đời, tuổi thọ, tỷ lệ chết và sức sinh sản của mọt.
    • Đánh giá mức độ hao hụt khối lượng thức ăn theo các mức mật độ mọt và thời gian lưu kho.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus Fabricius (Coleoptera: Nitidulidae).
  • Vật liệu nghiên cứu: Hạt ngô, hạt mắc ca, hạt lạc vỡ (được xử lý nhiệt 50°C trong 2 giờ để khử nguồn sâu mọt, điều chỉnh thủy phần >17%).
  • Không gian nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) và hệ thống ruộng trồng ngô tại huyện Gia Lâm, Hà Nội.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phân loại học côn trùng (hệ thống phân loại của CABI, 2019; Dobson, 1954; Parsons, 1943; Myers, 2013) và các nguyên lý sinh thái học côn trùng học ứng dụng trong bảo quản nông sản sau thu hoạch. Tác giả vận dụng các tiêu chuẩn quốc gia cùng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành trong côn trùng học thực nghiệm:

  • Khung quy chuẩn điều tra đồng ruộng: Thực hiện theo QCVN 01-38:2010/BNNPTNT (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng) và QCVN 01-167:2014/BNNPTNT (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây ngô).
  • Phương pháp thu mẫu và tạo nguồn nuôi: Thu thập trưởng thành mọt từ ruộng ngô Gia Lâm mang về nuôi sinh học tạo nguồn trứng đồng lứa trong hộp nhựa (đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới), ghép đôi theo dõi đẻ trứng trong vòng 24 giờ.
  • Phương pháp nghiên cứu hình thái và sinh vật học: Áp dụng phương pháp nuôi cá thể của Zean (1986). Thí nghiệm tiến hành trong các hộp nuôi kích thước 4 cm x 5 cm chứa 100 mg - 1 g thức ăn đã chuẩn hóa. Mẫu được theo dõi định kỳ 2 lần/ngày (vào 8h00 và 16h00) dưới kính lúp soi nổi và kính hiển vi có trắc vi thị kính để ghi nhận thời điểm lột xác, hóa nhộng, vũ hóa, đẻ trứng.
  • Phương pháp thí nghiệm nhiệt độ và sinh thái: Khảo sát trong tủ định ôn ở 2 mức nhiệt độ 25°C và 30°C, ẩm độ tương đối 70 - 80%, chế độ quang chu kỳ 16 giờ sáng : 8 giờ tối hoặc 12 giờ sáng : 12 giờ tối. Quy mô mẫu theo dõi hình thái và phát dục là $n = 90$ cá thể hoặc $n = 30$ cá thể lặp lại; thí nghiệm sức sinh sản theo dõi $n = 20$ cặp đực - cái.
  • Phương pháp đánh giá hao hụt khối lượng: Thực hiện theo công thức xác định tỷ lệ hao hụt của Kenton & Carl (1978): $$X(%) = \frac{D_0 - D_c}{D_0} \times 100$$ (Trong đó: $X$ là phần trăm hao hụt khối lượng; $D_0$ là trọng lượng khô ban đầu của 100 g hạt; $D_c$ là trọng lượng khô tại thời điểm kiểm tra sau 30, 60 và 90 ngày với các cấp mật độ 1, 5, 10, 15, 20 cặp trưởng thành, nhắc lại 3 lần).

Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận được kết cấu thành 5 phần chính theo quy chuẩn học thuật của Học viện Nông nghiệp Việt Nam:

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài, lý do lựa chọn nghiên cứu loài mọt Carpophilus dimidiatus trên các ký chủ mới (mắc ca, lạc) tại khu vực Gia Lâm; xác định rõ mục đích nghiên cứu nhằm cung cấp dẫn liệu sinh học cơ bản và đề xuất giải pháp quản lý dịch hại kho.

Phần 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phần này tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Phân tích khu hệ côn trùng hại kho ở Đông Nam Á (122 loài Coleoptera, 17 loài Lepidoptera theo Sukparakarn, Nilpanit); lịch sử định danh giống Carpophilus với khoảng 180 - 200 loài (Dobson, 1954; Yi Wu & cs., 2019); tổng hợp các báo cáo về thiệt hại hàng chục triệu tấn nông sản tại Mỹ, Tây Phi và Châu Mỹ La Tinh (Bakal, 1963; Hall, 1970; Dowd, 2000; Ewing & Cline, 2005); tổng quan các thử nghiệm phòng trừ sinh học bằng Bacillus thuringiensis (Berlinder, 1911; McGaughey, 1980), ong ký sinh Trichogramma evanescens (Scholler Matthias, 2000), cùng các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng (PH60-40 theo Carter & cs., 1975).
  • Tình hình nghiên cứu trong nước: Tổng hợp các mốc điều tra thành phần dịch hại kho từ năm 1966 đến nay của Cục Bảo vệ Thực vật, Viện Bảo vệ Thực vật; các kết quả nghiên cứu trên kho bảo quản lạc tại Nghệ An (Nguyễn Thị Diệu Thư, 2007; Nguyễn Thị Thanh & Nguyễn Thị Hạnh, 2017); nghiên cứu hình thái và sinh thái của mọt thòi đuôi đen (Bùi Công Hiển, 1995; Dương Minh Tú, 2001, 2004); các số liệu thiệt hại do sâu mọt gây ra trên lúa gạo, ngô (Vũ Quốc Trung, 1978; Nguyễn Kim Vũ, 1999, 2003); và hiệu lực xông hơi của Phosphine ($PH_3$) đạt 100% sau 14 ngày đối với Carpophilus dimidiatus (Nguyễn Thị Diệu Thư, 2007).

Phần 3: Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết quy trình chuẩn bị trang thiết bị (kính hiển vi, tủ định ôn, rây sàng 2 mm, cân tiểu ly), quy chuẩn xử lý nguyên liệu hạt thử nghiệm, kỹ thuật nhân nuôi cá thể, các chỉ tiêu đo đếm hình thái, các phương trình toán học tính toán tần suất xuất hiện, mật độ, kích thước trung bình, thời gian phát dục và tỷ lệ hao hụt nông sản.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là chương trọng tâm, trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được qua các bảng biểu và phân tích sinh học:

1. Thành phần côn trùng trên ruộng ngô vụ Hè Thu 2021 tại Gia Lâm

Kết quả điều tra ghi nhận 9 loài côn trùng thuộc 5 bộ khác nhau, được phân định rõ thành nhóm gây hại và nhóm thiên địch:

Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ Bộ Mức độ phổ biến
Nhóm thiên địch
Bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus Chelisochidae Dermaptera +++
Bọ cánh cộc Paederus fuscipes Staphylinidae Coleoptera ++
Bọ rùa Coccinella septempunctata Coccinellidae Coleoptera +
Nhóm gây hại
Mọt thòi đuôi điểm đen Carpophilus dimidiatus Nitidulidae Coleoptera +++
Sâu keo mùa thu Spodoptera frugiperda Noctuidae Lepidoptera +++
Mọt thòi đuôi điểm vàng Carpophilus hemipterus Nitidulidae Coleoptera ++
Sâu đục thân ngô châu Á Ostrinia furnacalis Crambidae Lepidoptera ++
Châu chấu Oxya chinensis Acrididae Orthoptera ++
Sâu khoang Spodoptera litura Noctuidae Lepidoptera +

(Ghi chú: +++ Xuất hiện nhiều $\ge 50%$; ++ Xuất hiện trung bình $25-50%$; + Xuất hiện ít $5-25%$).

2. Đặc điểm hình thái các pha phát dục

  • Pha trứng: Dài 0,61 - 0,83 mm, rộng 0,17 - 0,28 mm; hình bầu dục thuôn dài như hạt gạo, màu trắng sữa.
  • Pha sâu non: Trải qua 4 tuổi phát triển. Cơ thể sâu non có 12 đốt, đầu nhỏ màu nâu nhạt, miệng gặm nhai, có 2 vật phụ đặc trưng ở đốt bụng cuối:
    • Tuổi 1: Dài 1,12 - 1,91 mm; rộng 0,2 - 0,3 mm; màu trắng trong.
    • Tuổi 2: Dài 2,00 - 3,00 mm; rộng 0,3 - 0,5 mm; màu trắng trong.
    • Tuổi 3: Dài 3,00 - 5,00 mm; rộng 0,6 - 1,0 mm; màu trắng sữa, đậm dần.
    • Tuổi 4: Dài 5,00 - 7,00 mm; rộng 1,0 - 1,5 mm; màu trắng vàng; khi đẫy sức phần đầu, cuối bụng và lỗ thở hóa nâu rõ rệt.
  • Pha nhộng: Dài 2,54 - 3,00 mm; rộng 1,13 - 1,30 mm; thuộc dạng nhộng trần, ban đầu màu trắng sau chuyển sang vàng nâu.
  • Pha trưởng thành: Thân dài 2,41 - 2,81 mm; rộng 1,10 - 1,40 mm; màu nâu đậm đến đen. Râu đầu hình dùi trống gồm 11 đốt (3 đốt ngọn phình to liên kết chặt dạng chùy). Cánh cứng ngắn để lộ 2 đốt bụng cuối; hai đầu cánh khép lại tạo thành hình chữ bát. Bụng có 5 đốt nhìn thấy được. Đốt bụng thứ 8 ở con đực hóa cứng chắc và nhô cao, ở con cái mềm hơn.

So sánh kích thước trưởng thành trên 3 loại thức ăn ($n=30$):

  • Trên hạt ngô: Chiều dài đạt $3,12 \pm 0,02\text{ mm}$; chiều rộng $1,55 \pm 0,01\text{ mm}$.
  • Trên hạt lạc: Chiều dài đạt $2,75 \pm 0,02\text{ mm}$; chiều rộng $1,41 \pm 0,01\text{ mm}$.
  • Trên hạt mắc ca: Chiều dài đạt $2,61 \pm 0,02\text{ mm}$; chiều rộng $1,23 \pm 0,01\text{ mm}$. (Sự sai khác kích thước giữa các loại thức ăn không có ý nghĩa thống kê ở mức $P < 0,05$, cho thấy thức ăn không làm biến đổi cấu trúc hình thái của mọt).

3. Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học theo nhiệt độ và thức ăn

  • Thời gian phát dục mọt cái ở 25°C và 30°C ($n=30$ cá thể):
Pha phát dục (ngày) Ngô (25°C) Ngô (30°C) Mắc ca (25°C) Mắc ca (30°C) Lạc (25°C) Lạc (30°C)
Pha trứng $7,57 \pm 0,12$ $5,70 \pm 0,13$ $6,43 \pm 0,09$ $4,10 \pm 0,11$ $6,70 \pm 0,12$ $5,30 \pm 0,12$
Sâu non tuổi 1 $8,60 \pm 0,15$ $6,53 \pm 0,11$ $9,47 \pm 0,24$ $4,93 \pm 0,12$ $7,70 \pm 0,12$ $5,90 \pm 0,12$
Sâu non tuổi 2 $8,40 \pm 0,12$ $6,67 \pm 0,14$ $9,47 \pm 0,19$ $6,23 \pm 0,11$ $7,00 \pm 0,18$ $5,87 \pm 0,14$
Sâu non tuổi 3 $8,13 \pm 0,10$ $6,40 \pm 0,11$ $9,77 \pm 0,31$ $5,70 \pm 0,13$ $7,37 \pm 0,12$ $5,90 \pm 0,14$
Sâu non tuổi 4 $8,70 \pm 0,09$ $6,60 \pm 0,12$ $10,07 \pm 0,32$ $6,27 \pm 0,16$ $7,07 \pm 0,13$ $6,03 \pm 0,14$
Pha nhộng $7,43 \pm 0,10$ $5,63 \pm 0,10$ $7,00 \pm 0,19$ $5,30 \pm 0,12$ $6,77 \pm 0,14$ $5,87 \pm 0,15$
Tiền đẻ trứng $7,03 \pm 0,15$ $5,40 \pm 0,11$ $5,07 \pm 1,14$ $4,83 \pm 0,14$ $7,47 \pm 0,11$ $5,90 \pm 0,14$
Vòng đời $53,50 \pm 0,41$ $41,67 \pm 0,45$ $44,13 \pm 0,46$ $33,17 \pm 0,50$ $53,73 \pm 0,44$ $43,90 \pm 0,45$
Thời gian cả đời $82,00 \pm 0,92$ $62,13 \pm 0,74$ $63,27 \pm 1,13$ $51,57 \pm 1,02$ $79,13 \pm 0,92$ $58,33 \pm 1,02$
  • Vòng đời trung bình ở điều kiện phòng ($27,5^\circ\text{C}$, ẩm độ $70,42%$): Trên ngô là 42,48 ngày; trên lạc là 43,60 ngày; trên mắc ca là 41,88 ngày.
  • Sức sinh sản và tỷ lệ chết:
    • Sức đẻ trứng trung bình của 1 con cái: Nuôi trên ngô đạt cao nhất với 104,87 quả; trên lạc đạt 92,65 quả; trên mắc ca đạt 88,73 quả.
    • Tỷ lệ chết tích lũy các pha trước trưởng thành: Trên hạt mắc ca là $11,00%$; trên hạt lạc là $6,67%$.
  • Khả năng gây hao hụt khối lượng: Sau 90 ngày theo dõi ở mật độ 20 cặp trưởng thành, tỷ lệ hao hụt khối lượng hạt đạt mức cao nhất: ngô bị hao hụt $29,67%$; lạc bị hao hụt $10,30%$; mắc ca bị hao hụt $9,60%$.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khái quát toàn bộ các kết luận về sinh học, sinh thái của Carpophilus dimidiatus và đưa ra các đề xuất ứng dụng thực tiễn trong kiểm soát ẩm độ hạt, vệ sinh kho bãi và các hướng nghiên cứu sâu hơn.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực nghiệm

  1. Xác định cơ cấu côn trùng đồng ruộng: Khẳng định Carpophilus dimidiatus là loài mọt chiếm ưu thế tuyệt đối ($+++$, tần suất $\ge 50%$) trên các ruộng ngô tại Gia Lâm cùng với sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda).
  2. Quy luật phát dục phụ thuộc nhiệt độ: Khi nhiệt độ tăng từ 25°C lên 30°C, thời gian phát dục các pha và vòng đời của mọt rút ngắn đáng kể trên cả 3 loại thức ăn. Cụ thể, vòng đời trên hạt mắc ca rút ngắn từ 44,13 ngày xuống 33,17 ngày; trên hạt ngô rút ngắn từ 53,50 ngày xuống 41,67 ngày; trên hạt lạc rút ngắn từ 53,73 ngày xuống 43,90 ngày.
  3. Tiềm năng sinh sản và gây hại trên hạt dinh dưỡng: Mọt thòi đuôi có khả năng thích nghi và sinh sản tốt trên hạt mắc ca (88,73 trứng/cái) và lạc (92,65 trứng/cái) với tỷ lệ chết pha tiền trưởng thành thấp ($6,67 - 11,00%$).
  4. Mức độ thiệt hại kinh tế: Ở mật độ nhiễm 20 cặp trưởng thành/100 g hạt, sau 90 ngày mọt gây tổn thất $29,67%$ khối lượng ngô, $10,30%$ khối lượng lạc và $9,60%$ khối lượng hạt mắc ca.

Giải pháp và khuyến nghị quản lý dịch hại

  • Kiểm soát thủy phần bảo quản: Hạt nông sản đưa vào bảo quản phải được phơi sấy đạt độ khô an toàn (thủy phần ngũ cốc từ $12 - 13%$, hạt lạc $\le 8%$), ngăn chặn độ ẩm môi trường kho $>70 - 75%$ nhằm triệt tiêu điều kiện phát triển tối thích của mọt.
  • Vệ sinh và kiểm dịch kho tàng: Làm sạch toàn bộ kho trước khi nhập hàng mới, thu gom tiêu hủy triệt để tàn dư mùa vụ và các hạt vỡ trên đồng ruộng cũng như trong khe sàn kho để loại trừ nguồn lây nhiễm ban đầu.
  • Biện pháp sinh học và xông hơi khử trùng: Bảo tồn các nhóm thiên địch tự nhiên sẵn có trên đồng ruộng (bọ đuôi kìm Chelisoches variegatus, bọ cánh cộc Paederus fuscipes, bọ rùa); áp dụng thuốc xông hơi Phosphine ($PH_3$) với liều lượng khuyến nghị $2 - 4\text{ g }PH_3/\text{m}^3$ trong thời gian 72 - 96 giờ khi kho bị tái nhiễm mọt mật độ cao.

Đóng góp mới của đề tài

Công trình đã bổ sung các dữ liệu sinh học, sinh thái học thực nghiệm đầu tiên về khả năng phát sinh, phát triển và mức độ gây hại của loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus trên hạt mắc ca và hạt lạc tại Việt Nam. Kết quả chứng minh rằng bên cạnh ký chủ truyền thống là ngô, các loại hạt nông sản giàu dầu và dinh dưỡng hoàn toàn có thể trở thành đối tượng gây hại nguy hiểm của loài côn trùng này nếu bảo quản không đúng quy chuẩn kỹ thuật.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thí nghiệm sinh học cá thể và đánh giá hao hụt mới được tiến hành trong phạm vi phòng thí nghiệm (điều kiện tủ định ôn khống chế ở 2 mức nhiệt độ 25°C và 30°C) và mẫu mọt thu thập trong phạm vi hẹp tại huyện Gia Lâm trong khung thời gian từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2021; chưa khảo sát đầy đủ biến động quần thể ngoài kho bảo quản quy mô công nghiệp lớn và các mức dải nhiệt độ cực đoan.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu ngưỡng nhiệt độ phát dục dưới và trên ($t_0$ và $K$) của loài Carpophilus dimidiatus trên nhiều dạng sản phẩm chế biến từ hạt dinh dưỡng.
    • Khảo sát sự tương tác giữa mọt thòi đuôi và các loài nấm mốc sinh độc tố (Aspergillus flavus) trên nông sản tồn trữ.
    • Đánh giá hiệu lực của các chế phẩm sinh học thảo mộc và ong ký sinh bắt mồi trong điều kiện kho nông hộ thực tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Côn trùng học, Nông học, Công nghệ sau thu hoạch và Quản lý chất lượng nông sản.
    • Cán bộ kỹ thuật kiểm dịch thực vật nội địa và cửa khẩu, cán bộ quản lý kho lương thực quốc gia và các doanh nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu hạt nông sản (ngô, lạc, hạt mắc ca).
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình xử lý nguyên liệu và phương pháp nhân nuôi cá thể côn trùng hại kho trong phòng thí nghiệm.
    • Bảng số liệu chuẩn về kích thước hình thái 4 tuổi sâu non và bảng thời gian phát dục chi tiết theo từng mức nhiệt độ.
    • Bộ số liệu định lượng về tỷ lệ hao hụt khối lượng hạt theo thời gian và mật độ nhiễm mọt phục vụ tính toán ngưỡng kinh tế trong bảo quản.

Câu hỏi thường gặp

1. Mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus có mấy tuổi sâu non và đặc điểm nhận dạng nổi bật của pha trưởng thành là gì?
Trả lời: Pha sâu non của C. dimidiatus trải qua 4 tuổi phát triển với 12 đốt cơ thể và mang 2 vật phụ đặc trưng ở đốt bụng cuối. Trưởng thành có thân dài 2,41 - 2,81 mm, màu nâu đậm đến đen, râu đầu 11 đốt với 3 đốt ngọn phình to hình chuỳ, cánh cứng ngắn để lộ 2 đốt bụng và khép lại tạo hình chữ bát.

2. Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng như thế nào đến vòng đời của mọt thòi đuôi cái trên hạt mắc ca?
Trả lời: Theo số liệu thực nghiệm tại Bảng 4.4, ở nhiệt độ 25°C, vòng đời của mọt cái trên hạt mắc ca kéo dài trung bình $44,13 \pm 0,46$ ngày; khi nhiệt độ tăng lên 30°C, vòng đời rút ngắn xuống còn $33,17 \pm 0,50$ ngày.

3. Sức đẻ trứng của mọt thòi đuôi cái trên 3 loại thức ăn (ngô, mắc ca, lạc) đạt bao nhiêu quả?
Trả lời: Trong điều kiện thực nghiệm, số lượng trứng đẻ trung bình của một con cái khi nuôi trên hạt ngô đạt 104,87 quả; trên hạt lạc đạt 92,65 quả; và trên hạt mắc ca đạt 88,73 quả.

4. Mức độ hao hụt khối lượng hạt cao nhất do mọt gây ra sau 90 ngày ở mật độ 20 cặp trưởng thành là bao nhiêu?
Trả lời: Sau 90 ngày theo dõi ở mật độ 20 cặp trưởng thành, tỷ lệ hao hụt khối lượng khô của hạt ngô là $29,67%$, hạt lạc là $10,30%$, và hạt mắc ca là $9,60%$.

5. Nhóm thiên địch nào xuất hiện phổ biến nhất trên đồng ruộng trồng ngô tại Gia Lâm cùng với mọt thòi đuôi?
Trả lời: Kết quả điều tra đồng ruộng (Bảng 4.1) ghi nhận bọ đuôi kìm (Chelisoches variegatus, bộ Dermaptera) là loài thiên địch xuất hiện nhiều nhất với mức độ phổ biến cao ($+++$, tần suất xuất hiện $\ge 50%$).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Huy đã hoàn thành toàn diện việc khảo sát thành phần côn trùng trên ngô và xác định đầy đủ các đặc tính hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thòi đuôi Carpophilus dimidiatus tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2021. Kết quả nghiên cứu khẳng định nhiệt độ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ phát dục và chứng minh hạt mắc ca cùng hạt lạc là các ký chủ thích hợp cho sự phát triển và gây hại của loài mọt này. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác, có giá trị khoa học và ứng dụng cao cho công tác kiểm soát dịch hại, bảo vệ chất lượng nông sản sau thu hoạch.