Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và tái sinh của loài Nhò vàng tại VQG Cúc Phương

Nhò vàng là loài cây đặc biệt của Cúc Phương, với những đặc điểm sinh thái độc đáo và quá trình tái sinh quan trọng cho hệ sinh thái.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá tổng quan loài nhò vàng Streblus macrophyllus

Bài viết này cung cấp một cái nhìn toàn diện về loài cây nhò vàng (Streblus macrophyllus Blume), một loài thực vật bản địa có vai trò sinh thái quan trọng tại VQG Cúc Phương. Nghiên cứu tập trung làm rõ các đặc điểm sinh thái và khả năng tái sinh tự nhiên, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Đây là nguồn thông tin khoa học giá trị, góp phần bổ sung vào kho tàng tri thức về hệ thực vật đa dạng của Việt Nam.

1.1. Giới thiệu chung về loài nhò vàng và tầm quan trọng

Cây nhò vàng, có tên khoa học là Streblus macrophyllus Blume, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Đây là loài cây gỗ nhỡ, cao từ 15-20m, thường phân bố trong các trạng thái rừng thứ sinh. Mặc dù không có giá trị kinh tế cao về gỗ, nhò vàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao độ che phủ rừng, đặc biệt trên các hệ sinh thái núi đá vôi. Loài cây này được xem là chỉ thị cho đất phát triển trên kiểu rừng kín thường xanh trên núi đá vôi. Lá cây có hình trái xoan, dài 10-20 cm, hoa đơn tính cùng gốc và quả hình cầu. Nhờ khả năng tái sinh tốt, nhò vàng góp phần ổn định cấu trúc quần xã, tạo môi trường sống cho nhiều sinh vật khác và bảo vệ đất chống xói mòn. Việc nghiên cứu sâu về loài này là cần thiết để hiểu rõ hơn về động thái phát triển của rừng tự nhiên tại Việt Nam.

1.2. Vai trò của VQG Cúc Phương trong công tác bảo tồn

VQG Cúc Phương là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam, được thành lập từ rất sớm với sứ mệnh bảo tồn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đặc trưng. Với diện tích 22.408 ha, nơi đây là ngôi nhà của hơn 2000 loài thực vật bậc cao và hàng trăm loài động vật quý hiếm. Cúc Phương không chỉ là một khu bảo tồn thiên nhiên mà còn là một trung tâm nghiên cứu khoa học quan trọng. Các nghiên cứu tại đây, bao gồm cả đề tài về đặc điểm sinh thái và tái sinh của loài nhò vàng, cung cấp những dữ liệu nền tảng cho công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng. Việc hiểu rõ đặc tính của từng loài, như Streblus macrophyllus Blume, giúp các nhà khoa học xây dựng các chiến lược bảo tồn bền vững, phục hồi hệ sinh thái và duy trì tính đa dạng sinh học độc đáo mà thiên nhiên đã ban tặng cho khu vực này.

II. Phân tích đặc điểm sinh thái của nhò vàng tại Cúc Phương

Nghiên cứu đi sâu vào các đặc điểm sinh thái cốt lõi của nhò vàng tại VQG Cúc Phương, bao gồm sự phân bố theo địa hình, cấu trúc lâm phần nơi loài này sinh sống và mối quan hệ tương tác với các loài cây khác. Kết quả cho thấy nhò vàng có những yêu cầu sinh cảnh rất đặc trưng, phản ánh sự thích nghi cao với điều kiện môi trường cụ thể, đặc biệt là trên địa hình núi đá vôi.

2.1. Đặc điểm phân bố của nhò vàng theo địa hình và độ cao

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự phân bố của nhò vàng chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi kiểu rừng và độ cao. Tại VQG Cúc Phương, loài này được tìm thấy với tần suất cao trong kiểu rừng kín thường xanh trên núi đá vôi, đặc biệt tập trung ở độ cao dưới 200m. Ngược lại, trong kiểu rừng kín thường xanh trên núi đất, tần suất bắt gặp nhò vàng rất ít và gần như không xuất hiện ở độ cao trên 400m. Dữ liệu từ Bảng 4.1 của tài liệu gốc cho thấy, ở thung lũng đá vôi dưới 200m là sinh cảnh lý tưởng nhất cho sự phát triển của loài. Điều này khẳng định Streblus macrophyllus Blume là loài cây ưa ẩm, thường gắn liền với các thung lũng hoặc ven suối trong hệ sinh thái núi đá vôi, một đặc điểm sinh thái quan trọng cần được xem xét trong công tác khoanh nuôi và bảo vệ.

2.2. Cấu trúc lâm phần rừng có nhò vàng phân bố tự nhiên

Phân tích cấu trúc lâm phần nơi nhò vàng sinh sống cho thấy sự đa dạng và phức tạp của hệ sinh thái. Về trữ lượng, các lâm phần có nhò vàng dao động từ rừng nghèo (90.99 m³/ha) đến rừng rất giàu (380.73 m³/ha). Đáng chú ý, trong kiểu rừng kín thường xanh trên núi đá vôi, trữ lượng của nhò vàng chiếm tỷ lệ rất cao, có nơi lên đến 51.1% tổng trữ lượng lâm phần. Về tổ thành loài, công thức tổ thành (CTTT) theo chỉ số Ki cho thấy nhò vàng là loài chiếm ưu thế vượt trội ở các ô tiêu chuẩn trên núi đá vôi, với hệ số tổ thành cao nhất là 6.4. Ngược lại, trên núi đất, vai trò của loài này trong CTTT mờ nhạt hơn. Mật độ cây nhò vàng cũng thể hiện sự khác biệt rõ rệt: trên núi đá vôi có thể đạt 340 cây/ha, trong khi trên núi đất chỉ khoảng 40-100 cây/ha. Những chỉ số này chứng tỏ nhò vàng là loài ưu thế và đóng vai trò kiến tạo trong quần xã thực vật trên núi đá vôi tại Cúc Phương.

2.3. Mối quan hệ giữa nhò vàng và các loài cây đi kèm

Trong một quần xã thực vật, các loài luôn có mối quan hệ tương tác mật thiết. Nghiên cứu về các loài cây đi kèm với nhò vàng đã xác định được 21 loài khác nhau trong các ô điều tra. Dựa trên phân tích tần suất xuất hiện, loài Vàng anh (Saraca dives) được xác định là loài rất hay gặp (Nhóm I), với tần suất xuất hiện theo điểm điều tra (Po) là 66.67%. Các loài như Trà hoa vàng và Cứt ngựa thuộc nhóm hay gặp (Nhóm II). Các loài còn lại thuộc nhóm ít gặp (Nhóm III). Điều thú vị là nhò vàng cũng có thể mọc quần tụ với chính nó, tạo thành các quần thể tập trung, đặc biệt tại các thung lũng ẩm ướt trên núi đá vôi. Mối quan hệ này cho thấy sự cộng sinh hoặc cạnh tranh không quá gay gắt, giúp các loài cùng tồn tại và phát triển, tạo nên một cấu trúc lâm phần ổn định và đa dạng.

III. Đánh giá chi tiết khả năng tái sinh tự nhiên của nhò vàng

Khả năng tái sinh tự nhiên là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của một loài trong quần xã. Phần này tập trung đánh giá toàn diện quá trình tái sinh của cây nhò vàng, từ mật độ, tổ thành loài, chất lượng cây con cho đến các yếu tố ảnh hưởng. Các số liệu cho thấy nhò vàng có tiềm năng tái sinh rất mạnh mẽ, đặc biệt trong sinh cảnh phù hợp, hứa hẹn một thế hệ rừng kế cận phát triển tốt.

3.1. Phân tích mật độ và tổ thành loài cây tái sinh nhò vàng

Kết quả nghiên cứu về tái sinh nhò vàng cho thấy một bức tranh rất lạc quan. Mật độ cây tái sinh của toàn lâm phần ở các khu vực nghiên cứu rất cao, dao động từ 4000 đến 6667 cây/ha. Đặc biệt, nhò vàng là loài chiếm ưu thế tuyệt đối trong lớp cây tái sinh ở kiểu rừng kín thường xanh trên núi đá vôi. Tại đây, mật độ tái sinh của riêng loài này đạt từ 2444 đến 5111 cây/ha, chiếm phần lớn số cây con trong lâm phần. Công thức tổ thành cây tái sinh cũng khẳng định điều này, với hệ số tổ thành Ki của nhò vàng lên tới 7.33, vượt xa các loài khác. Ngược lại, ở rừng trên núi đất, mật độ tái sinh của nhò vàng thấp hơn đáng kể, chỉ từ 889 – 1556 cây/ha. Sự chênh lệch này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của sinh cảnh núi đá vôi đối với sự duy trì và phát triển của loài Streblus macrophyllus Blume.

3.2. Chất lượng và nguồn gốc của thế hệ cây nhò vàng kế cận

Không chỉ vượt trội về số lượng, chất lượng cây tái sinh nhò vàng cũng được đánh giá cao. Bảng 4.12 và 4.13 trong tài liệu gốc cho thấy phần lớn cây tái sinh của loài có chất lượng tốt và trung bình, hứa hẹn khả năng phát triển thành những cây gỗ trưởng thành khỏe mạnh. Về nguồn gốc, cây tái sinh từ hạt chiếm tỷ lệ chủ yếu, cho thấy khả năng phát tán và nảy mầm tự nhiên của loài rất tốt. Tái sinh từ chồi cũng được ghi nhận nhưng với tỷ lệ thấp hơn. Nguồn gốc từ hạt đảm bảo sự đa dạng di truyền cho quần thể, giúp loài có khả năng thích ứng tốt hơn với những thay đổi của môi trường trong tương lai. Đây là một tín hiệu tích cực cho thấy quần thể nhò vàng tại VQG Cúc Phương đang ở trạng thái phát triển ổn định và có khả năng tự phục hồi mạnh mẽ.

IV. Ứng dụng kết quả nghiên cứu nhò vàng vào công tác bảo tồn

Từ những kết quả chi tiết về đặc điểm sinh thái và tái sinh của loài nhò vàng, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển loài một cách hiệu quả tại VQG Cúc Phương. Việc ứng dụng các kiến thức này vào thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng rừng, bảo vệ nguồn gen quý và duy trì sự ổn định của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi.

4.1. Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho Streblus macrophyllus

Dựa trên đặc tính sinh thái ưa ẩm và phát triển mạnh trên núi đá vôi, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần tập trung vào việc bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi cho sinh cảnh tự nhiên của nhò vàng. Cần ưu tiên khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực thung lũng đá vôi có độ cao dưới 200m, nơi loài nhò vàng phân bố và tái sinh tập trung. Đối với những khu vực rừng đã bị tác động, có thể áp dụng biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên bằng cách phát quang dây leo, cây bụi cạnh tranh ánh sáng với cây con nhò vàng. Tuyệt đối không khai thác nhò vàng tại các khu vực này do vai trò quan trọng của nó trong việc giữ đất, giữ nước và tạo độ che phủ. Việc làm giàu rừng bằng cách trồng bổ sung nhò vàng vào những khoảng trống trên địa hình núi đá vôi cũng là một giải pháp khả thi để đẩy nhanh quá trình phục hồi hệ sinh thái.

4.2. Định hướng bảo tồn và phát triển loài tại VQG Cúc Phương

Loài nhò vàng (Streblus macrophyllus Blume) cần được xem là một loài cây chủ chốt trong các chương trình phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái rừng kín thường xanh trên núi đá vôi tại VQG Cúc Phương. Ban quản lý Vườn quốc gia cần xây dựng các chương trình giám sát dài hạn quần thể nhò vàng, theo dõi động thái phát triển và khả năng tái sinh của loài trước các tác động của biến đổi khí hậu. Đồng thời, cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm vật hậu, khả năng nhân giống nhân tạo để chủ động nguồn cây giống cho công tác trồng rừng. Việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương về vai trò sinh thái của nhò vàng cũng rất quan trọng, nhằm ngăn chặn các hoạt động xâm hại đến môi trường sống của loài. Bảo tồn thành công loài nhò vàng chính là góp phần bảo vệ sự toàn vẹn của hệ sinh thái độc đáo tại Cúc Phương.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bảo tồn thiên nhiên đang là mối quan tâm lớn của cộng đồng thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hiện nay, nƣớc ta có hệ thống bảo tồn thiên nhiên khá lớn, gồm 34 VQG, 58 khu bảo tổn thiên nhiên, 14 khu bảo tồn loài động thực vật quý hiếm, 61 khu bảo vệ cảnh quan và 9 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học (quyết định 1976/Gd – TTg của thủ tƣớng chính phủ về phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặng dụng đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030) [20]. Trong đó VQG Cúc Phƣơng là khu rừng Quốc gia đƣợc thành lập từ rất sớm của cả nƣớc, với đặc trƣng là các hệ sinh thái rừng núi đá vôi, gồm nhiều loài đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt. VQG Cúc Phƣơng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa.

VQG này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trƣng rừng mƣa nhiệt đới. Hiện tại VQG Cúc Phƣơng có diện tích 22.408 ha, là khu vực bảo tồn hơn 2000 loài thực vật bậc cao và hơn 600 loài động vật. Trong đó có nhiều loại động thực vật quí hiếm nhƣ: Lan kim tuyến, Vọoc quần đùi trắng, Cầy vằn, Rùa đá… Dẫn đến thiếu thông tin về những loài này làm ảnh hƣởng đến công tác bảo vệ tài nguyên rừng ở khu vực. Bởi vậy, cần tiến hành nhiều các công trình nghiên cứu.

Để phục vụ cho công tác quản lý của cán bộ và bổ thêm thông tin cho các loài. Nhò vàng (Streblus macrophyllus Blume) thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) là loài phổ biến trong cáctrạng thái rừng thứ sinh phát triển trên rừng kín thƣờng xanh trên núi đá vôi tại miền Bắc Việt Nam. Cây Nhò vàng không có nhiều giá trị kinh tế nhƣng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao độ che phủ của rừng trên rừng kín thƣờng xanh trên núi đá vôi. Để bổ sung thêm thông tin về đặc điểm sinh thái và tái sinh của loài Nhò vàng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và tái sinh của loài Nhò vàng (Streblus macrophyllus Blume) tại VQG Cúc Phương”.

1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nầng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh đƣợc vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó. Kraft (1884) đã tiến hành phân chia những cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trƣởng, kích thƣớc và chất lƣợng cây rừng.

Phân cấp của Kraft phẩn ánh tình hình phân hóa của cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng những chỉ tiêu phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi (đặc biệt là rừng thuần loài).W (1965) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới về mặt hình thái.Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mƣa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thƣờng có nhiều tầng. Ông nhận định: “Rừng mƣa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây [15]. Nghiên cứu của Catinot R (1965) đã tìm hiểu về những cấu trúc sinh thái thông qua mô tả, phân loại và đƣa ra những khái niệm về dạng sống, về tầng phiến.Ngoài ra, còn biểu diễn các cấu trúc rừng mƣa và hình thái của chúng bằng những phẫu đồ rừng [18]. Ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể.

Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý [14]. Nghiên cứu về tái sinh rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, Bảng hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: Dƣới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nƣơng rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ.

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố. Sự tƣơng đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh tầng cây gỗ lớn đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm.Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả rừng thứ sinh một đối tƣợng rừng khá phổ biến ở nhiều nƣớc nhiệt đới. Khi nghiên cứu phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tƣơi đƣợc đề cập thƣờng xuyên [17].N (1961) cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hƣởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm, ảnh hƣởng này thƣờng không rõ ràng. Ngoài ra, các tác giả nhận định, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của cây tái sinh.

Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhƣng chúng vẫn có ảnh hƣởng đến cây tái sinh. Đối với rừng nhiệt đới, số lƣợng loài cây trên một đơn vị diện 3 tích và mật độ tái sinh thƣờng khá lớn. Số lƣợng loài cây có giá trị kinh tế thƣờng không nhiều và đƣợc chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp lại ít đƣợc quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng [13]. Tóm lại, các công trình nghiên cứu đƣợc đề cập trên đây phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng tự nhiên nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng.

Đó là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu tái sinh rừng trong đề tài này. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học Ở nƣớc ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chƣa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhƣ sau: Thái Văn Trừng (1978) đã đƣa ra mô hình cấu trúc tầng nhƣ: tầng vƣợt tán (A1), tầng ƣu thế sinh thái (A2), tầng dƣới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C). Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phƣơng pháp Bảng đồ mặt cắt đứng của Davit – Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tƣơi đƣợc vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trƣng sinh thái và vật hậu cùng Bảng đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ƣu thế của những thực vật trong tầng cây lâp quần, độ tàn che của tầng ƣu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá.

Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Nhƣ vậy, các nhân tố cấu trúc rừng đƣợc vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể [8]. Phùng Ngọc Lan (1986) cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian cấu trúc rừng bao gồm cả về sinh thái lẫn hình thái quần thể thực vật (dẫn theo Trần Mạnh Cƣờng, 2007). Nghiên cứu cấu trúc rừng là nội dung quan trọng để phục 4 vụ cho việc áp dụng các giải pháp lâm sinh, lập kế hoạch kinh doanh rừng lâu dài [6].

Trần Minh Tuấn (1997) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại VQG Ba Vì - Hà Tây (cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trƣởng và phân bốcủa loài, tác giả còn đƣa ra một số định hƣớng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này. Theo Trần Minh Tuấn (1997), Bƣớc đầu nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì - Hà Tây (cũ), luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Trƣờng Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam [10]. Vũ Văn Cần (1997) đã tiến hành nghiên cứu một sốđặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở VQG Cúc Phƣơng, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố. Tác giả cũng đã đƣa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi [1].

Vƣơng Hữu Nhi (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây tạo cây con Căm Xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắk Lắk – Tây Nguyên. Từ kết quả nghiên cứu và những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên… Tác giả còn đƣa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này [5]. Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam. Nghiên cứu về tái sinh rừng Thực tế cho thấy, với điều kiện nƣớc ta hiện nay nhiều khu vực vẫn phải trồng cây đƣa vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới đƣợc triển khai với quy mô nhỏ.Vì vậy nhƣng đề tài về tái sinh tự nhiên tƣơng đối cụ thể và là cần thiết để có các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp.

Nguyễn Văn Trƣơng (1983) đã đè cặp đến mối quan hệ giữa cấu trúc rừng và lớp cây tái sinh trong rừng hỗn loài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ