ĐẶT VẤN ĐỀ Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) là loài cây được trồng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, thích nghi với hầu hết c c điều kiện lập địa. Cây Keo là loài cây đa t c dụng, sinh trưởng nhanh, được cho là loài cây cố định đạm, cải tạo đất, được trồng hỗn giao với nhiều loài cây trồng kh c nhau. Tại tỉnh Yên B i, cây Keo được trồng chủ yếu với mục tiêu cung cấp gỗ lớn, gỗ Keo được sử dụng để đóng đồ gia dụng, cung cấp nguyên liệu sản xuất giấy, làm v n gỗ,.Theo số liệu kiểm kê rừng của tỉnh Yên B i, tính đến th ng 12 năm 2015 diện tích Keo tai tượng, Keo lai và Keo l tràm của cả tỉnh là 54. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn huyện Trấn Yên đã và đang bị c c loại bệnh thối rễ, bệnh chết héo, bệnh loét thân,.
Các loại bệnh này làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, ph t triển của cây và có khả năng làm chết cây. Theo kết quả điều tra thành phần bệnh hại trên cây Lâm nghiệp của Cục Bảo vệ thực vật, hiện nay trên địa tỉnh Yên B i xuất hiện c c loại bệnh hại như bệnh chết héo, bệnh chết ngược, bệnh khô cành ngọn, bệnh thối rễ,. Trong các loại bệnh trên có bệnh chết héo, bệnh khô cành ngọn là loại bệnh nguy hiểm nhất. Đây cũng là loại bệnh trên lần đầu tiên xuất hiện và gây hại mạnh ở c c xã của huyện Trấn Yên tỉnh Yên B i, đến nay chưa có biện ph p phòng trừ có hiệu quả.
Theo kết quả kiểm tra rừng của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Yên B i hiện nay trên địa bàn huyện Trấn Yên xuất hiện bệnh chết héo, bệnh loét thân., đây là loại bệnh mới xuất hiện khả năng gây hại rất nguy hiểm. Đối với bệnh chết héo cây do nấm Ceratocystis sp. bệnh gây hại chính đối với c c loài Keo. Tại Indonexia, hiện nay đã có hàng nghìn hécta rừng Keo bị chết héo do c c loài nấm Ceratocystis sp.
Năng suất trung bình của rừng trồng giảm từ 22-35m3/ha/năm xuống dưới 15m3/ha/năm 2 (Carroline, 2015). Tại Malaysia, bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại cũng đang gây tổn thất lớn cho ngành Lâm nghiệp nước này. Trước những diễn biến trên cho thấy, cùng với sự tăng lên về diện tích trồng rừng Keo thì cũng dần xuất hiện nhiều loại bệnh hại nguy hiểm, chiều hướng bệnh ph t triển nhanh trên địa bàn huyện, hậu quả có thể chưa lường hết được do việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn, chưa x c định được nguyên nhân gây bệnh (tên loài vật gây bệnh), chưa nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh th i học, quy luật ph t sinh, ph t triển của bệnh và biện pháp phòng trừ bệnh hại.
Chính vì lý do trên đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh hại chính trên cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái” được thực hiện là rất cần thiết, nhằm cung cấp c c thông tin về bệnh hại, làm cơ sở khoa học cho việc quản lý bệnh hại có hiệu quả. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về bệnh hại Keo trên thế giới 1. Thành phần về bệnh hại Keo Keo là loài cây trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và cũng bị nhiều loại bệnh hại trên cây Keo đã được c c nhà khoa học bệnh cây phát hiện trong thời gian qua.
Từ những năm 1954, Roger đã ph t hiện bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng hay còn gọi là chết ngược do loài nấm (Glomerella cingulata) gây ra, giai đoạn vô tính là nấm (Colletotrichum gloeosporioides) đó là nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại trong vườn giống tại Papua New Guinea (Roger, 1954) [25]. Tại Hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và ph t triển c c loài Keo (Acacia sp.), họp tại Đài Loan năm 1964 nhiều đại biểu của c c quốc gia Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng đã đề cập đến Bệnh đốm l do nấm (Colletotrichum sp. Bệnh chết héo Keo do chi nấm Phomopsis gây ra cũng đã được ghi nhận bởi (Kobayashi và Guzman, 1988) [19]. Lee và Maziah (1993) [20], đã phân lập được 25 chủng nấm lấy từ Keo tai tượng bị bệnh mục ruột ở c c địa điểm kh c nhau tại Malaysia, kết quả giám định là do nấm Phellinus noxius, Trametes sp., và Formes sp; c c loại bệnh này gây hại ở cây 2 năm tuổi trở lên và làm giảm chất lượng và trọng lượng gỗ.
Theo Zakaria và đồng t c giả (1994) bệnh mục ruột có xu hướng tăng dần theo tuổi cây Keo tai tượng, như ở Malaysia cây trồng ở 2 năm tuổi tỷ lệ bị hại là 57% và đối với cây trồng ở 8 năm tuổi tỷ lệ bị mục ruột lên đến 98%. Theo Mehrotra và đồng t c giả (1996) [21], đã mô tả bệnh hại rễ Keo tai tượng ở phía Tây Bengal, Ấn Độ. Bệnh thối gốc Keo tai tượng do nấm 4 Ganoderma sp. và Phellinus sp.
ảnh hưởng đến diện tích rừng trồng và kế hoạch trồng rừng. Tại Indonesia nấm Ceratocystis spp., gây bệnh cho nhiều loài cây trồng, trong đó loài nấm này gây hại nghiêm trọng ở rừng Keo tai tượng (Tarigan et al. Tại Sabah, Malaysia nguyên nhân gây bệnh chết héo hàng vài chục nghìn ha Keo tai tượng được x c định là nấm Ceratocystis acaciivora (Brawner et al., 2015; Brawner et al. Từ c c kết quả tổng quan c c công trình nghiên cứu ở trên cho thấy c c thông tin về thành phần loài bệnh hại Keo là kh phong phú, tuy nhiên chưa được đầy đủ; nhưng đây cũng là những tài liệu để tham khảo trong quá trình nhiên cứu về thành phần loài bệnh hại Keo.
Đặc điểm sinh học, sinh thái về bệnh hại Keo Tarigan và đồng t c giả (2011) [28] x c định nấm Ceratocytis acaciivora xâm nhiễm gây hại Keo tai tượng thông qua c c công thức tỉa cành, x c định được khả năng tỉa cành làm ảnh hưởng đến cành làm cho tăng khả năng xâm nhiễm. Đặc điểm nhận biết của nấm Ceratocystis spp. đã được một số t c giả mô tả: bào tử túi có hình cầu hoặc gần cầu, có màu nâu đen, kích thước thể hình cầu dài từ 106 đến 288µm, khi chuẩn bị phun bào tử ở phía đầu cổ có những sợi tua ra; bào tử hữu tính hình mũ có chiều dài từ 4,5 đến 9,3µm, chiều rộng từ 2,0 đến 4,9µm; bào tử hữu tính hình mũ có chiều dài từ 11,0 đến 25,6µm và chiều rộng từ 1,6 đến 4,9µm; bào tử vô tính hình trống chiều dài từ 12,1 đến 25,5µm và có chiều rộng từ 9,2 đến 13,6µm. Một số kết quả bước đầu cho thấy nấm Ceratocystis spp.
nuôi cấy thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từ 25 đến 30oC, độ ẩm từ 80 đến 90% và xâm nhiễm gây hại Keo tai tượng thông qua vết thương do tỉa cành, c ch thức tỉa cành làm ảnh hưởng đến cành cũng làm cho tăng khả năng xâm nhiễm. (Tarigan et al., 2011; Thu et al. 5 Keo tai tượng hay bị một số bệnh hại như: Bệnh rỗng ruột (thường bị ở c c cây ở cấp tuổi cao hoặc do giống); Bệnh phấn trắng (thường bị ở giai đoạn vườn ươm hoặc rừng trồng tuổi 1), nguyên nhân gây bệnh là do thời tiết mưa ẩm kéo dài dẫn đến nấm bệnh ph t triển; Bệnh hại rễ do nấm Phytophthora gây hiện tượng cây chết hàng loạt tại một số nước ở khu vực châu Á (Hutacharem, 1993) [17]. Từ c c kết quả tổng quan c c công trình nghiên cứu ở trên cho thấy c c thông tin về đặc điểm sinh học của c c loài sâu, bệnh hại Keo là khá phong phú, tuy nhiên chưa được đầy đủ; nhưng đây cũng là những tài liệu để tham khảo trong qu trình nhiên cứu về sâu, bệnh hại Keo.
Các biện pháp phòng trừ bệnh hại Keo Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và ph t triển c c loài Keo Acacia sp., họp tại Đài Loan năm 1964 nhiều đại biểu của c c quốc gia Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng đã đề cập đến Bệnh đốm l do nấm (Colletotrichum sp.) gây hại Keo. Để giảm thiệt hại do nấm bệnh gây ra nên sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất chlorothalonil (Barnard và Schroeder, 1984) [14]. Old và đồng t c giả (1999) [23] đã công bố c c bệnh hại Keo như bệnh gỉ sắt do nấm Atelocauda digitata, bệnh phấn trắng do nấm Oidium sp., bệnh bồ hóng do nấm Meliola spp., bệnh đốm l do các nấm Cercospora spp. và Colletotrichum spp., bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor, bệnh thối đen rễ do nấm Phythophora palmivora, bệnh mục rễ do nấm Phellinus spp.
và Ganoderma spp. Phòng trừ bệnh gỉ sắt ở Keo có thể xử lý bằng thuốc hóa học có hoạt chất bitertanol, oxycarboxin đối với cây ở vườn ươm hoặc khu vực bị bệnh ít song với rừng trồng thì khó giải quyết do diện tích lớn, mầm bệnh dễ ph t t n. Biện ph p quản lý bệnh bằng c ch loại bỏ những bộ phận bị bệnh ra khỏi rừng trồng và tiêu hủy, tr nh ph t dịch trên 6 quy mô lớn hơn. Chọn lọc những giống kh ng bệnh, chọn lập địa phù hợp để hạn chế được nấm bệnh cũng là giải ph p đang được quan tâm nghiên cứu.
Phòng trừ bệnh gỉ sắt ở Keo có thể xử lý bằng thuốc hóa học có hoạt chất bitertanol, oxycarboxin đối với cây ở vườn ươm hoặc khu vực bị bệnh ít song với rừng trồng thì khó giải quyết khi diện tích lớn, mầm bệnh dễ ph t t n. Biện ph p quản lý bệnh bằng c ch loại bỏ những bộ phận bị bệnh ra khỏi rừng trồng và tiêu hủy, tr nh ph t dịch trên quy mô lớn hơn. Chọn lọc những giống kh ng bệnh, chọn lập địa phù hợp để hạn chế được nấm bệnh cũng là giải ph p đang được quan tâm nghiên cứu. Biện ph p phòng bệnh chết héo do c c loài nấm Ceratocystis spp.
hiệu quả là hạn chế gây tổn thương cho cây, tr nh thực hiện chăm sóc, tỉa cành trong mùa mưa hoặc khi thời tiết ẩm ướt (Haugen et al. Thí nghiệm t c động của c c công thức tỉa cành cho rừng trồng Keo tai tượng và Keo l liềm tại Indonesia đến khả năng bị nhiễm nấm Ceratocystis acaciivora, kết quả đ nh gi cho thấy c c công thức tỉa cành đúng kỹ thuật đã hạn chế rõ rệt sự xâm nhiễm của nấm gây bệnh (Tarigan et al. Biện ph p phòng trừ nấm Ceratocystis spp.