Đặt vấn đề Hiện nay nền kinh tế nước ta thay đổi từng ngày theo chiều hướng đi lên. Sự thay đổi đó diễn ra ở nhiều lĩnh vực khá nhau. Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao.
Vì vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải nghiên cứu, cân nhắc khi thiết kế một chương trình bất kỳ nào đó, phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với các lợi ích khác của xã hội. Hiện nay rừng không chỉ cung cấp gỗ, củi và các lâm đặc sản cho nền kinh tế quốc dân mà rừng còn tạo cảnh quan khu vực sinh thái, là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường và còn nhiều tác dụng to lớn khác, nhưng bên cạnh đó thì nhu cầu của con người đối với rừng và các sản phẩm của rừng ngày càng cao trong khi diện tích tự nhiên của nước ta đang bị thu hẹp ở mức báo động. Tài nguyên rừng bị suy giảm do nhiều nguyên nhân như: sức ép dân số, đô thị hóa, cháy rừng, do con người chưa nhận thức được tầm quan trọng của rừng. Theo tổng cục thống kê cho biết.
Năm 2010 tổng diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá là 7781 ha. Trong đó diện tích rừng bị cháy là 6723 ha, diện tích chặt phá rừng là 1058 ha, như vậy diện tích rừng mỗi năm bị giảm đi rất nhiều. Với tình hình diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp như vậy sẽ gây nhưng hậu quả như mất cân bằng sinh thái, lũ lụt hạn hán, nhiệt độ toàn cầu tăng lên, ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và các vi sinh vật trên trái đất vì thế quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng đang là một trong những vấn đề cấp bách của mọi quốc gia được Đảng và nhà nước quan tâm. e 2 Hiện nay Đảng và nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chính sách chủ trương để nâng cao độ che phủ của rừng, cụ thể có nhiều các trương trình dự án phát triển về rừng như dự án 661, dự án 327, dự án PAM và các dự án đầu tư bảo vệ phát triển rừng ở miền núi như dự án phát triển rừng bốn huyện ở Hà Giang giai đoạn 2008-2015.
Tuy nhiên, khi rừng trên một diện tích lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài nên rất dễ bị sâu bệnh hại phát sinh, phát triển. Để đạt được kết quả tốt của công việc trồng rừng thì điều quan trọng nhất là phải tạo được nhiều cây giống tốt, khỏe mạnh, không sâu hại và không có mầm bệnh. Muốn có được như vậy thì ngoài việc chọn giống tốt, bảo quản hạt giống tốt, đối với những cây có khả năng tái sinh bằng hạt, những phương pháp sử lý trước khi gieo ươm thì việc phòng trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn vườn ươm là không thể thiếu được, nếu thực hiện được vấn đề đó thì tổn thất do bệnh hại gây ra sẽ giảm xuống một cách đáng kể. Hiện nay, tại các vườn ươm cây con giống hiện nay xuất hiện rất nhiều loại bệnh hại do nhiều nguyên nhân gây ra điển hình như bệnh phấn trắng lá Keo, bệnh gỉ sắt lá Keo, bệnh đốm nâu lá Keo, bệnh cháy lá Keo, bệnh vàng lá Keo…bên cạnh các loại bệnh hại thường xảy ra thì các biện pháp phòng vẫn còn hạn chế, hiệu quả thấp.
Vì vậy cần việc cần thiết là nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và những ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sự phát sinh phát triển của bệnh hại cây, từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh hại ở giai đoạn vườn ươm tạo cho cây con sinh trưởng phát triển tốt. Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của khoa Lâm nghiệp cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chính cây keo tai tượng (Acacia mangium)trong giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Góp phần đẩy lùi bệnh dịch, nâng cao chất lượng giống cây Keo phục vụ trồng rừng. - Dự tính dự báo tình hình sâu bệnh hại.
Mục tiêu nghiên cứu Đề tại thực hiện nhằm các mục tiêu sau: - Các nguyên nhân gây bệnh Keo tai tượng - Đánh giá được tình hình bệnh hại cây Keo tai tượng con ở giai đoạn vườn ươm và xác định các bệnh hại chủ yếu - Đề xuất các biện pháp phòng trừ và quản lý dịch bệnh hại ở vườn ươm nói chung và cây Keo tai tượng nói riêng. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học và vận dụng vào thực tiễn sản xuất. - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể.
- Nắm vững được các phương pháp điều tra bệnh hại cây con tại vườn ươm. - Học tập và tìm hiểu thêm kinh nghiệm về kĩ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu - Rèn luyện kĩ năng làm việc, kỹ năng viết đề tài tốt nghiệp cho người thực hiện. Ý nghĩa trong thực tiễn - Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định biện pháp bảo vệ cây con trong giai đoạn vườn ươm. - Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã đề xuất các biện pháp phòng trừ có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất để phòng trừ bệnh hại cây con trong vườn ươm nâng cao năng suất, chất lượng cây giống đáp ứng mục tiêu trồng rừng.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học bệnh cây Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi nhu cầu sản xuất nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữa ý thức hệ duy tâm và duy vật. Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão, 1997) [6]. Khoa học bệnh cây có các nhiệm vụ chính: Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó xác định các biện pháp bảo vệ làm cho năng suất cây trồng ở mức cao nhất và ổn định.
Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kĩ thuật trồng trọt tiên tiến: Bón phân, chế độ nước, mật độ cao…Trong sản xuất không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch. Giải quyết vấn đề về bệnh cây góp phần tạo điều kiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn (Đường Hồng Dật, 2004) [1]. Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, khoa học bệnh cây có các nội dung: Nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh: Nghiên cứu bệnh thường rất nhiều và phức tạp, trong thực tế nhiều trường hợp cùng một nguyên nhân nhưng gây ra những biểu hiện bệnh rất khác nhau, ngược lại có những trường hợp nhiều nguyên nhân cùng gây ra một triệu chứng bệnh rất giống nhau. Một biểu hiện bệnh có thể có một hoặc một số nguyên nhân chủ yếu và một số nguyên nhân thứ yếu.
Nhầm lẫn vai trò và vị trí các loại nguyên nhân có thể dẫn đến những kết luận và hành động sai lầm. Có xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì các công việc tiếp tục sau đó mới có cơ sở chắc e 5 chắn và chính xác. Muốn phòng trừ bệnh, bảo vệ cây có hiệu quả, tránh lãng phí và các hậu quả tiêu cực khác, không thể không xác định nguyên nhân gây bệnh (Đường Hồng Dật, 2004) [1]. Phát hiện các quy luật phát sinh, phát triển và hình thành của dịch bệnh cây: Bệnh cây phát sinh và phát triển theo những quy luật nhất định.
Các quy luật đó phụ thuộc vào tình trạng và đặc điểm của tập đoàn vi sinh vật gây bệnh, cây chủ và điều kiện bên ngoài. Khoa học bệnh cây phải nắm được các quy luật đó. Công tác dự tính, dự báo và phòng trừ đều phải dựa trên quy luật này mới đảm bảo kết quả tốt được (Đường Hồng Dật, 2004) [1]. Tìm hiểu bản chất, đặc điểm và các quy luật chống chịu của bệnh cây: Nói chung, khi cây bị nguồn bệnh xâm nhập thường có những biểu hiện phản ứng và hoạt động chống lại nó để tự vệ.
Trong tự nhiên hiện tượng này thường xảy ra và đó là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài giữa vi sinh vật gây bệnh và cây chủ. Nắm được các đặc điểm chống chịu bệnh của cây ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để không ngừng củng cố, làm tăng lên để ngăn ngừa mọi tác hại của bệnh, đồng thời tìm cách đưa ra các đặc điểm đó vào các giống mới. các đặc điểm chống chịu bệnh thường chỉ được phát huy trong những điều kiện chăm sóc, kỹ thuật canh tác, khí hậu, đất đai nhất định. Công tác chọn lọc, lai tạo các giống chống bệnh cũng như tiến hành các biện pháp phòng trừ chỉ có thể đạt kết quả thật tốt khi nắm được các quy luật này (Đường Hồng Dật, 2004 ) [1].
Nghiên cứu xác định các biện pháp phòng trừ bệnh: Phòng trừ bệnh cây có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách có những ưu điểm và nhược điểm của nó. Vì vậy mỗi phương pháp thường chỉ phát huy tác dụng cao nhất trong những điều kiện nhất định. Trong thực tế sản xuất, những biện pháp riêng rẽ thường không đảm bảo, bảo vệ tốt cây chống bệnh và cần phải phối hợp nhiều biện pháp khác nhau mới giải quyết được bệnh. Nhiệm vụ của e 6 khoa học bệnh cây là tìm ra các hệ thống tổng hợp các biện pháp bảo vệ cây chống bệnh (Đường Hồng Dật, 2004) [1].
Thực chât công tác phòng trừ bệnh cây không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh. Việc làm đó chỉ có ý nghĩa khi bảo vệ được cây, góp phần làm tăng năng suất, giữ năng suất cây ở mức cao nhất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Phương hướng chủ yếu của công tác bảo vệ thực vật là tác động các biện pháp khác nhau trong một hệ thống hợp lý có cơ sở và căn cứ đầy đủ, nhằm điều khiển toàn bộ sinh quần đồng ruộng, rừng cây, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng tốt nhất, bệnh hại không thể phát triển được, đảm bảo tạo ra khối lượng nông lâm sản cao nhất, có phẩm chất tốt nhất.