Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Khai quat vé ho Cheo cheo Tragulidae Ho Cheo cheo (Tragulidae) thuộc bộ Thú Móng guốc ngón chăn (Artiodactyla), lớp Thú (Mammalia). Thú họ Cheo cheo có thân nhỏ, chân mảnh mai; phần thân sau cao hon phan thân trước; tuyến dưới căm lớn; thường có các đốm trắng ở cỗ và ngực. Cheo cheo không có sừng, con đực có răng nanh hàm trên rất dài thò ra ngoài thành nanh.
Công thức răng: 10/3. Răng nanh hàm dưới giống răng cửa, do đó hàm dưới có § răng cửa. Răng trước hàm có cạnh sắc, răng hàm có mẫu bán nguyệt đặc trưng của thú nhai lại, dạ dày có 3 khoang (thiếu khoang lá sách). Cheo cheo hoạt động chủ yếu về đêm và ăn quả cây rung.
Cheo cheo sông ở vùng rừng nhiệt đới Châu A va Châu Phi. Họ Cheo cheo có 3 giống. 8 loài (Meijaard et al. 2004, Wilson et al.
Giống Hyemoschus có một loài (H. aquaficus) phân bỗ ở châu Phi; giỗng Moschiola có một loài (M. meminna) phân bỗ ở Xrilanca và An Độ: giỗng 7Tragulus có 6 loài phân b6 ở Đông Nam Á: 1. Traguhus javanicus (Osbeck, 1765) - phân bố ở Inđônêxia 2.
Tragulus kanchil (Raffles, 1821) — phân bỗ ở Myanma, Brunây, Vân Nam (Trung Quốc), Lào, Cămpuchia, Inđônêxia, Malaixia, Singapo, Thái Lan và Việt Nam.Cuvier, 1822) — phan b6 Myanma, Brunây, Vân Nam (Trung Quốc), Lao, Campuchia, Ind6néxia, Malaixia, Singapo, Thai Lan va Việt Nam. Tragulus nigricans (Thomas, 1892) — phan b6 & Philippin 5. Tragulus versicolor (Thomas, 1910) — phân bố ở Việt Nam 6. Tragulus williamsoni (Kloss, 1961) — phan b6 Thái Lan Như vậy, ở Việt Nam chỉ có một giống 7raguius với 3 loài: Cheo cheo nhỏ hay Cheo cheo nam dương (Traguius kanchil), Cheo cheo lớn hay Cheo cheo napu (Tragulus napu) va Cheo cheo Việt Nam hay Cheo cheo lung bac (Tragulus versicolor) (Hinh 1.
Ba loai Cheo cheo phan bồ ở Việt Nam (theo Francis 2008) [21] (1 - Cheo cheo nho Tragulus kanchil, 2- Cheo cheo Viét Nam Tragulus versicolor, 3 - Cheo cheo |6n Tragulus napu) ¢ Cheo cheo nho (Tragulus kanchil) Trước đây, loài này được xem là phân loài của Cheo cheo nam dương (Tragulus javanicus) nhưng gần đây Meijaard et al. (2004) [31] đã nâng lên thành loài độc lập. Đây là loài thú móng guốc nhỏ, dài thân-đâu (HB): 33-52 cm, dai dudi (T): 4-10 cm, dai tai (E): 2.1 cm, dai ban chan sau (HF): 8- 13.5 cm, khối lượng thân (W): 1. Bộ lông ngăn, mịn; mặt lưng màu xám hoặc xám đen; bụng trang.
Dưới cằm có 2 vết trắng chung sốc tạo thành hình chữ V và một vệt dọc giữa tự do. Tuyến dưới cằm phát triển (2 x lem). Đuôi ngắn, mặt trên xám giỗng màu lưng, mặt dưới trăng. Chân mảnh, 2 chân trước thấp hơn 2 chân sau, bàn chân 4 ngón.
Cheo cheo đực, cái đều không có sừng, hàm trên không có răng cửa. Con đực có 2 răng nanh dài thò ra ngoài thành nanh. Dạ dày Cheo cheo có 3 ngăn. Cheo cheo sống ở rừng thường xanh núi đất nguyên sinh hoặc thứ sinh nhiều tầng VỚI tang mặt dat ram.
Cheo cheo nhỏ hoạt động chủ yếu về đêm (19-23h), sống đơn, chỉ ghép đôi vào mùa động dục. Thức ăn chủ yếu là quả cây, ngoài ra, có cỏ, lá cây. Thời gian mang thai khoảng 120 ngày, mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa 1 con. Cheo cheo nhỏ phân bố rộng ở các vùng rừng núi từ Lạng Sơn đến Đông Nai, Tây Ninh.
Ở các tỉnh phía Bắc, loài này hầu như đã bị tuyệt chủng: ở các tỉnh phía Nam, vùng sống và trữ lượng giảm mạnh; mức đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam: VU (Sách Đỏ Việt Nam, 2007, dưới tên Tragulus J7avanicus), trên thé gidi: LC — it lo ngai (Danh luc Do IUCN, 2011). ¢ Cheo cheo Viét Nam (Tragulus versicolor) Loài này được Thomas (1910) mô tả dựa trên các mẫu vat thu được ở gần Nha Trang (Khánh Hòa), tuy nhiên, nhiều tác giả vẫn xem đây là loài đồng danh với Cheo cheo lớn (Tragulus napu). Năm 2004, Meijaard va Groves đã kiểm tra lại đặc điểm hình thái của các mẫu vật do Thomas nghiên Cứu và khang định Cheo cheo Viét Nam (Tragulus versicolor) la mot loai doc lập. Quan điểm nay citing duoc Kuznetsov and Borissenko (2004) [26] ủng hộ trong công bố về việc thu được mẫu vật của loài nay 0 Gia Lai.
Cheo cheo Việt Nam có cơ thể chỉ hơi lớn hơn loài Cheo cheo nho: HB: 40-45 cm, T: 5 cm, HF: 11 cm, W: 1. Dau, bên cô và vai Cheo cheo Việt Nam màu nâu thâm, lốm đốm đen (tập trung hơn ở phân trên của cổ); mặt trên cố có một dải màu tối hơn; phần còn lại của lưng, sườn va 1/4 sau than mau xám phớt trăng bạc; phan dưới thân màu trắng: phía ngực và họng có các sọc trắng và nâu đỏ; thường thì môi bên cô có một dải trắng. Điêm khác biệt chính với loài Cheo cheo nhỏ là có màu vàng nâu tươi ở bên cô và vai khác biệt với màu trắng bạc của phần mông và lưng (đồng màu nâu đỏ lỗm đốm đen ở Cheo cheo nhỏ). Cheo cheo Việt Nam sống ở rừng nguyên sinh đất thấp.
Cheo cheo Việt Nam chỉ có ở Việt Nam, và mới ghi nhận ở Khánh Hoà và Gia Lai với mật độ rất thấp. Tình trạng của loài này trong thiên nhiên cần được tiếp tục khảo sát đánh giá (Kuznetsov et al. Trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), loài này được xem là đồng danh với loài Cheo cheo lớn, Tragulus napu và xếp bậc DD (thiếu số liệu), trong Danh lục Dé cla IUCN (2011) loài này được xem là loài độc lập và xếp bậc DD do thiếu số liệu về tình trạng quân thẻ. ¢ Cheo cheo lon (Tragulus napu) Co thé Cheo cheo lớn lớn hơn 2 loài Cheo cheo nêu trên, HB: 52-57 cm, T: 6-10 cm, HF: 14-15.
Phan trén thân có lông thô cứng, lỗốm đốm nâu vàng, nâu xám và đen nhạt với các sợi lông có màu nâu xám tới nâu vàng, chóp lông đen nhạt. Bộ lông mau sam hon ở phân gần sống lưng, phần bên thân nhạt hơn, gáy thường tôi màu hơn. Dưới thân màu trăng, thường không có các sọc nâu ở bụng. Mặt dưới của cỗ và phần ngực trên có các vệt màu nâu và trắng, gồm một sóc trăng đặc trưng hình tam giác ở trung tâm, được bao quanh bởi các sọc nâu tối, sau đó chia thành 2 sọc trắng tỏa ra 2 bên: một sọc xuất phát gan trước căm và một sọc ở giữa họng.
Nhìn từ mặt bên, thường thấy rõ 2 sọc trắng tách biệt nhau ở mỗi bên cổ (loài Cheo cheo nhỏ chỉ có một sọc trắng ở mỗi bên cổ). Cheo cheo đực, cái đều không có sừng, không có tuyến trước ô mắt, răng nanh mọc dài thò ra ngoài, thiếu răng cửa trên. Cheo cheo lớn sống ở rừng cây cao, hoạt động chủ yếu về đêm, đôi khi cả ban ngày, hoạt động đơn, chỉ ghép đôi vào mùa sinh sản. Thức ăn chủ yếu là quả cây rừng, cành và lá cây.
Thời gian mang thai 152-172 ngày, đẻ mỗi năm một lứa, mỗi lứa 1 con. Phân bố ở Việt Nam của Cheo cheo lớn chưa được rõ, mới chỉ thu được mẫu ở Nha Trang (Khánh Hòa), có thể có ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngài và Phú Yên nhưng chưa được khăng định (Sách Đỏ Việt Nam, 2007). Cheo cheo lớn được xếp bậc DD - thiếu số liệu Trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) va LC - ít lo ngại trong Danh lục Đỏ IUCN (2011). Lịch sử nghiên cứu thú móng guốc ngón chẵn ở Việt Nam Trong bối cảnh chung của lịch sử nghiên cứu động vật học ở Việt Nam, nghiên cứu thú móng guốc ngón chan (Artiodactyla) noi chung va họ Cheo cheo (Tragulidae) nói riêng có thể chia thành 3 giai đoạn như sau: giai đoạn trước năm 1954; giai đoạn từ năm 1954 đến 1975; giai đoạn từ 1975 tới nay.
e Giai doan trudc năm 1954 Các nghiên cứu về thú móng guốc ở Việt Nam được bắt đầu sau khi người Pháp đến Đông Dương (cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20). Trong thời gian này, các nghiên cứu được các nhà nghiên cứu và thám hiểm nước ngoài thực hiện như Pháp, Anh và Mỹ. Các nghiên cứu được thực hiện chung cho nhiều nhóm động vật, chủ yếu về phân loại học và thu mẫu cho các bảo tàng như: Bảo tàng Lich su Ty nhién Pari, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Luân Đôn, Bảo tàng Lịch sử Tu nhién Hoa Ky va Bao tang Lich su Ty nhién Field, Chicago. Các kết quả điều tra và thu mẫu đã được công bố trong các công trình cua cac tac gia nhu Milne-Edwards (1867-1874); Morice (1875); Billet (1896- 1898); Butan (1900-1906); De Pousargues (1904); Bonhote (1907); Kloss (1916); Robinson & Kloss (1922); Thomas (1927-1928); Bourret (1927- 1942); Osgood (1932) va Delacour (1940).
Tuy nhién, rat ít các thông tin về Cheo cheo được nêu trong các báo cáo, kết quả nghiên cứu ở giai đoạn này. Các nhà động vật học nước ngoài tham gia những đoàn khảo sát tài nguyên thiên nhiên ở Đông Dương đã thu được nhiều vật mẫu thú rừng ở Việt Nam. Trong thời kỳ này, nhiều loài thú có ở Việt Nam đã được ghi nhận trong các công trình của: De Pousargues (1904); E. Osgood (1932); đã thống kê được 172 loài và phân loài thú ở Việt Nam, J.
Các công trình nói trên đã ghi nhận nhiều loài thú móng guốc ở Việt Nam trong đó có loài Cheo cheo nhỏ. Giai đoạn này, nghiên cứu móng guốc nói riêng và thú rừng nói chung mới chỉ ghi nhận được sự có mặt của chúng ở một số địa điểm, mà chưa xác định được vùng phân bồ của loài. e Giai doan năm 1954 — 1975 Sau khi chién thang Dién Bién Phu, hoa binh lap lai, mién Bac hoan toàn giải phóng, công tác điều tra tài nguyên, trong đó có nguồn tài nguyên sinh vật cần phải tiễn hành để nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế đất nước và hoàn toàn do các cán bộ Việt Nam đảm nhận. Nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thú và sinh học sinh thái cá thế và quân thê thú đã được công bố.
Một số công trình tiêu biểu của Đào Văn Tiến (1960 - 1973); Võ Quý, Mai Đình Yên, Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1961); Lê Hiền Hào (1962, 1964, 1969, 1973); Van Peneen và cộng sự (1969), Lê Hiền Hào và Trần Hải (1970, 1971); Đặng Huy Huỳnh, Vũ Đình Tuân (1964); Đặng Huy Huỳnh, Đỗ Ngọc Quang và Sablina (1964), Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965, 1973); Cao Van Sung, Đào Văn Tiến (1966), Lê Vũ Khôi (1970), Lê Vũ Khôi, Nguyễn Trác Tiến (1975);.Các công trình nghiên cứu có liên quan đến thú móng guốc không nhiều.