Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về Lan Kim tuyến trên thế giới * Phân loại, đặc điểm hình thái và tình hình phân bố Lan Kim tuyến thuộc họ lan Orchidaceae, chi Anoectochius. Trên thế giới có khoảng 30-40 loài chi Lan Kim tuyến phân bố rộng khắp các vùng nhiệt đới từ Ấn Độ tới các dãy núi ở Đông Nam Á, Nhật Bản. (Acharya et al.
Về phân bố: Lan Kim tuyến thường mọc dưới tán rừng tự nhiên nguyên sinh, rừng rậm thường xanh lá rộng trung bình cho đến rừng giàu, rừng nhiệt đới, trên các sườn núi đá vôi, ở độ cao 800-1600 m, độ tàn che thường từ 85-90%. Chủ yếu mọc những nới đất giàu mùn, độ ẩm và xốp cao, thoáng khí hoặc trên lớp thảm mục của rừng đang phân huỷ, đôi khi chúng mọc trên tảng đá ẩm, trên thân các cây gỗ mục hoặc trong hốc cây, (Chang et al. Lan Kim tuyến có thân rễ dài, thân rễ nằm ngang sát mặt đất, hoặc nghiêng, bò trên mặt đất. Kích thước thân rễ dài từ 6-12,5 cm, thông thường là 7,5 cm.
Thân rễ nhẵn, không có lông, màu xanh nhạt hoặc nâu đỏ. Lan Kim tuyến là cây thân thảo, thân trên đất mọng nước mang 2-7 lá mọc cách. Trên thân rễ có từ 3-7 lóng tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây. Thân khí sinh mọc thẳng trên mặt đất hoặc nghiêng, mọng nước, không có lông, màu xanh trắng hoặc hồng nhạt, có chiều dài từ 4,5 – 7,5 cm, đường kính từ 0,3-0,5 cm.
Trên thân khí sinh có nhiều lóng với chiều dài khác nhau, thông thường có từ 3-7 lóng với kích thước mỗi lóng dao động từ 1,5 – 2,5 cm. Rễ được mọc ra từ thân rễ hoặc thân khí sinh. Rễ đâm thẳng xuống đất, mỗi đốt mẫu trên các lóng có từ 1 đến 3 rễ. Kích thước rễ dài ngắn khác nhau, doa động từ 0,5 – 6,5 cm.
Lá mọc cách quanh thân. Lá hình trứng, ở sát gốc gần tròn, đầu lá hơi nhọn, lá có kích thước dài từ 3,5-5,5 cm, rộng từ 2,5-5 cm. Lá màu nâu đỏ ở mặt trên, có nhung mịn, mặt dưới màu nhạt. Gân lá nổi rõ, dạng mạng, có 5 gân gốc và các gân rìa nổi rõ, gân ở giữa lá có màu vàng nhạt.
Cuống lá ngắn, nhẵn, kích thước từ 0,5- h 4 1,3 cm, có màu trắng xanh hoặc đỏ tía ở bẹ lá, các lá khác nhau trên cùng một thân có kích thước khác nhau. Hoa Lan Kim tuyến dạng cụm, mọc ở ngọn, dài từ 9-13 cm, mang từ 5-10 hoa nhỏ, mọc thưa. Lá bắc hình trứng, dài từ 5-10 mm, màu hồng, các mảnh bao hoa dài khoảng 5 mm, cánh môi màu trắng, kích thước 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 5-7 dải hẹp, đầu chẻ đôi. Lan kim tuyến thường ra hoa vào tháng 10-12 và quả chín vào tháng 12-2 năm sau (Sherif et al., 2012) * Giá trị kinh tế Lan kim tuyến là một loại dược liệu đặc biệt có tác dụng tăng cường sức khỏe, bồi bổ khí huyết.
Ngoài ra, lan kim tuyến còn có tính kháng khuẩn, ứng dụng trong các bài thuốc phòng ngừa Ung thư, hỗ trợ điều trị bệnh gan, bình ổn huyết áp vô cùng hiệu quả nên hiện nay rất nhiều người tìm mua và sử dụng Lan kim tuyến để bồi bổ sức khỏe và chữa bệnh. Giá bán Lan Kim tuyến hiện nay trên thị trường dao động từ 1,5 – 2 tr đồng /1 kg tươi, tìm mua được cũng rất hiếm. Để bảo tồn và phát triển loài Lan kim tuyến có rất nhiều các cơ quan, đơn vị nghiên cứu nhân giống Lan Kim tuyến bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, tạo ra các cây con có độ đồng đều cao, ổn định được nguồn gen, giá thành cây con hiện nay khá đắt dao động từ 7-15. Như vậy nếu sản xuất cây con hoặc bán thương phẩm cây trưởng thành thì Lan kim tuyến vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số loài khác.
* Giá trị dược liệu Trung Quốc là nước có lịch sử sử dụng các loài Lan Kim tuyến như một loại thảo dược quý (Bulpitt, 2005). Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, Lan Kim tuyến có chứa các hợp chất hóa học như alkaloid, flavonoid (Bajracharya, 2003); axit 4- hydroxycinnamic, β-sitosterol, β-D-glucopyranoside, 3-glucosides butanoic axit, kinsenoside (Sukamto et al., 2011; Shiau et al. Từ các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc được công bố bằng sắc ký cột và kỹ thuật quang phổ đã phân lập kỹ thuật sắc ký lỏng, xác định được cấu trúc hóa học và thử hoạt tính sinh học của một số hợp chất có trong loài Lan Kim tuyến. Bằng các kỹ thuật quang phổ đã xác định được 8 hợp chất hoá học.
Các hợp chất này đều có hoạt tính sinh học mạnh, có h 5 khả năng làm giảm các gốc tự do trong cơ thể, nên có khả năng phòng bệnh rất tốt. Đặc biệt có hai axít hữu cơ được phân lập là Olenolic acid và Ursolic acid có khả năng chống ung thư, giảm cholesterol máu, chống tăng huyết áp, kháng khuẩn… Theo y học cổ truyền Đài Loan, Lan Kim tuyến tươi hoặc khô nấu nước uống trị các chứng bệnh đau ngực, đau bụng, tiểu đường, viêm thận, sốt, huyết áp cao, liệt dương, rối loạn gan, lá lách, tim, phổi. Lan Kim tuyến có khả năng kháng virus, kháng sưng viêm, bảo vệ gan và sử dụng để chữa các bệnh về gan, chống khối u, ung thư, điều trị bệnh tim mạch, chống loãng xương, chống mệt mỏi, chống lão hóa, tăng cường miễn dịch (Cheng et al., 2009; Du et al., 2001; Lin et al., 1993; Huang et al., 1991; Mak et al. Hợp chất 3(R)-3-β-D-glucopyranosyloxy butanolide tên thương mại là kinsenoside được chiết xuất từ Lan Kim tuyến có tác dụng chống tăng huyết áp hiệu quả và hợp chất chuyển hóa arachidonic acid liên quan đến chức năng tim mạch (Chang et al.
Lan Kim tuyến chứa các nguyên tố vi lượng (Fe, Co, Cu, Mn, Cr) đóng vai trò quan trọng trong việc chống lão hóa, chuỗi polysaccharide nâng cao hiệu lực của miễn dịch trong cơ thể con người (Cheng et al. Cây Lan Kim tuyến sau khi thu hoạch có thể xuất khẩu ở dạng thô, sản phẩm gồm thân, rễ và lá phơi khô để chế biến trà dược, thực phẩm chức năng, thạch lan và đặc biệt là chiết xuất chất 3(R)-3-β-D-glucopyranosyloxy butanolide từ Lan Kim tuyến để sản xuất biệt dược kinsenoside (Sukamto et al., 2011), (Cheng et al. Lan Kim tuyến được coi là thần dược vì có thành phần hóa học đa dạng bao gồm các chất như quercetin, isoharmnetin-3-O-beta-D-glucopyranosid,kaempferol- 3-O-betaDglucopyranosi, 5-hydroxy-3'-4'-7'-trimethoxyflavonol-3-O-beta-D-rutinosid và isorhamnetin-3-O-beta-D-rutinosid có tác dụng chữa bệnh đa dạng như:tiểu đường, ung thư, trẻ em chậm phát triển, trị lao phổi, phong thấp, đau nhức khớp xương, chấn thương, viêm dạ dày mãn tính, viêm khí quản, viêm gan mãn tính, suy nhược thần kinh, chữa rắn độc cắn; giúp tăng cường sức khoẻ, làm khí huyết lưu thông, kháng khuẩn (Cheng et al. * Nhân giống và bảo tồn Lan Kim tuyến Lan Kim tuyến ngày càng cạn kiệt ngoài tự nhiên nên việc nghiên cứu các h 6 biện pháp bảo tồn Lan kim tuyên là rất cần thiết và được các nhà khoa học và mọi người quan tâm.
Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu nhân giống thành công Lan Kim tuyến trong điều kiện nhân tạo góp phần vào công tác phục hồi số lượng loài, nghiên cứu lai tạo giống và đáp ứng mục tiêu y học. Tuy nhiên các công trình đã công bố phần lớn tập trung nghiên cứu nhân giống và bảo tồn loài này trong điều kiện in vitro. Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu nhân giống thành công chi Lan Kim tuyến. Tác giả Shiau và cs (2001), đã nghiên cứu đưa ra được phương pháp bảo tồn loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus formosanus Hayata) bằng cách thụ phấn chéo và nuôi cấy hạt nảy mầm.
Giai đoạn phát triển của cây đực và cây cái là kết quả cho việc thành công của thụ phấn và đậu quả. Số quả đậu được sau thụ phấn đạt 86,7%. Kiet Van Nguyen (2004) cũng đã nghiên cứu đưa ra quy trình nhân giống in vitro thành công cho loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus formosanus) với vật liệu ban đầu là từ chồi đỉnh tại đại học Chungbuk, Hàn Quốc. Các đầu rễ cũng được nuôi cấy trong bình chứa của hệ thống bioreactor 3l với các thể tích sục khí khác nhau.
Khả năng tăng sinh rễ và sinh trưởng tốt nhất khi thể tích là 0,06 wm. Bước 2 các chồi được chuyển sang bình chứa 3l có bổ sung 0,75l Hyponex (20-20-20) 1g/l + (6,5-4,5-19) 1g/l môi trường với 2g/l peptone, 3% đường, 0,5g/l than hoạt tính với các điều kiện nuôi cấy khác nhau cho sự kéo dài chồi và rễ. Tình hình nghiên cứu về Lan Kim tuyến ở Việt Nam * Phân loại, đặc điểm hình thái và tình hình phân bố Lan Kim tuyến có Tên khoa học: Anoectochilus setaceus Blume, tên gọi thông thường: Lan Kim tuyến, Kim tuyến tơ, Lan gấm, Cỏ nhung, Kim cương (Trần Hợp, 1990). h 7 Lan Kim tuyến thuộc họ Lan - Orchidaceae, có phân bố rộng ở hầu hết các tỉnh có đồi núi cao tại Việt Nam.
Chi Lan Kim tuyến (Anoectochilus) ở Việt Nam hiện thống kê được 12 loài (Trần Hợp,1990). Theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Lan Kim tuyến có phân bố khá rộng bao gồm các tỉnh: Lâm Đồng (Lạc Dương: núi Bì Đúp), Đắk Lắk (Krông Bông: núi Chư Yang Sinh), Quảng Trị, Kontum (Đắk Glei: núi Ngọc Linh, Sa Thầy: núi Chư Mom Ray), Lào Cai (Sapa: Phăng Xi Păng, Văn Bàn: Liêm Phú), Hà Tĩnh (Hương Sơn: Rào Àn). Do số lượng Lan Kim tuyến mọc ít, mọc rải rác và bị khai thác quá nhiều (với hình thức khai thác thu hái cả cây) nên Lan Kim tuyến đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, xếp hạng EN A1 a, c, d và bị cấm khai thác sử dụng mục đích thương mại. Tác giả Nguyễn Hùng Mạnh cùng các cs đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) tại vườn quốc gia Tam Đảo và các vùng phụ cận tỉnh Vĩnh Phúc.
Nhóm tác giả đã chỉ ra thảm thực vật nơi Lan Kim tuyến phân bố tự nhiên thuộc kiểu rừng tự nhiên thứ sinh được phục hồi sau khai thác kiệt, ở độ cao xấp xỉ 405m so với mực nước biển, với tầng ưu thế sinh thái chủ yếu là loài Sặt (95%), xen lẫn một vài cây gỗ (5%); Hàm lượng mùn trung bình khoảng 4.653%, hàm lượng nitơ (K20) dễ tiêu trung bình 0. hàm lượng kali dễ tiêu (N20) trung bình khoảng 0.172%, hàm lượng silic (SiO2) dễ tiêu trung bình khoảng 5.32%; cường độ ánh sáng tương đối tại khu vực phân bố tự nhiên của Lan Kim tuyến trung bình khoảng 0.01788; Lan Kim tuyến thích nghi với dạng địa hình núi đất có độ dốc từ 12º -20º; độ ẩm đất tầng A trung bình khoảng 35.