MỞ ĐẦU Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares Bonnaterre, 1788) là một trong những loài cá ngừ đại dƣơng vùng nhiệt đới có giá trị kinh tế cao. Cá ngừ vây vàng có hình dạng khí động học phù hợp với đặc tính bơi nhanh. Chúng có thể di chuyển 15 km trong một đêm để kiếm ăn và di cƣ với khoảng cách là 8. Cá thể lớn nhất bắt đƣợc năm 1977 ở vùng biển Đông Thái Bình Dƣơng nặng 176,4kg, dài 208cm.
Vòng đời của cá ngừ vây vàng ngắn, chúng chỉ sống khoảng 6 - 7 tuổi (Magnuson, 1978; Dickson, 1995). Một số nƣớc đi đầu trong công nghệ nuôi cá ngừ đại dƣơng phải kể đến nhƣ Nhật Bản, Úc, Croatia. Trong đó, sản lƣợng cá ngừ vây xanh nuôi của Nhật Bản là 8.000 tấn, của Úc là 9.245 tấn chiếm lần lƣợt 21% và 25% sản lƣợng cá ngừ nuôi toàn cầu (Government of South Australia, 2010). Tuy nhiên, cho đến nay sản lƣợng cá ngừ vây xanh nuôi chỉ chiếm chƣa đến 10% tổng sản lƣợng cá ngừ đại dƣơng trên thế giới, trong khi cá ngừ vây vàng mới chỉ đƣợc nuôi ở quy mô thử nghiệm (ATUNA.
Tại Úc, công nghệ nuôi cá ngừ vây vàng đã đƣợc khẳng định bằng việc sản xuất khoảng 200 tấn cá ngừ vây vàng theo mô hình nuôi cá ngừ vây xanh tại Cảng Lincoln năm 2008-2009. Ở khu vực phía Tây nƣớc Úc, ngƣời ta coi loài cá ngừ vây vàng nhƣ một “ứng viên” cho nghề nuôi trồng thủy sản sau cá ngừ vây xanh (Gavin Partridge và Greg Jenkins, 2009). Việc cung cấp con giống cho nghề nuôi cá ngừ hiện nay vẫn dựa chủ yếu vào khai thác cá từ tự nhiên. Việc nghiên cứu cho đẻ nhân tạo đã đạt đƣợc những thành công nhất định nhƣng vẫn trong giai đoạn nghiên cứu, chƣa có con giống cung cấp đại trà cho nghề nuôi.
Tại Việt Nam, cá ngừ đại dƣơng là một trong những đối tƣợng xuất khẩu chủ lực của ngành Thủy sản. Trong năm 2014, giá trị xuất khẩu của cá ngừ đạt gần 500 triệu USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trên 7,8 tỷ USD, đứng vị trí thứ ba sau sản phẩm tôm và cá tra (VASEP, 2015). Trong nhóm ba mặt hàng đứng đầu về giá trị xuất khẩu thì cá ngừ là sản phẩm duy nhất của nƣớc ta hoàn toàn là từ nghề khai thác tự nhiên. Các nhóm khác đa phần đều có sản phẩm từ nghề nuôi.
Do vậy, việc hình thành nghề nuôi cá ngừ đại dƣơng, đặc biệt là cá ngừ vây vàng ở Việt Nam là điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, gia tăng giá trị sản phẩm, giảm áp lực lên khai thác nguồn lợi và phát triển kinh tế - xã hội. Cá ngừ nuôi có nhu cầu tiêu thụ và giá bán cao 1 hơn nhiều so với cá tự nhiên do hàm lƣợng lipid (trong đó có axit béo - FA) trong thịt cá cao (Bimol Chandra Roy và ctv, 2009). Ngoài ra, sản phẩm còn đƣợc đƣa ra thị trƣờng một cách chủ động nên có thể nâng cao đƣợc giá trị. Năm 2010, đề tài nghiên cứu cấp Nhà nƣớc KC.07/06-10 do Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì thực hiện đã thành công trong việc khai thác và vận chuyển cá ngừ đại dƣơng giống (cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to) về vùng nuôi tại Khánh Hòa, mở ra một triển vọng cho việc phát triển nuôi cá ngừ đại dƣơng tại Việt Nam.
Tiếp theo đó, Viện Nghiên cứu Hải sản đã triển khai Nhiệm vụ lƣu giữ và nuôi đàn cá ngừ đại dƣơng giống trên nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, thăm dò khả năng nuôi cá ngừ đại dƣơng trong lồng ở vùng biển ven bờ nƣớc ta. Sau thành công ban đầu trong việc nuôi giữ cá ngừ đại dƣơng tại Cam Ranh – Khánh Hòa, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục giao cho Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì thực hiện hai đề tài nghiên cứu cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu nuôi thƣơng phẩm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to tại Việt Nam”, mã số KC.07/11-15 và đề tài “Nghiên cứu sinh học sinh sản và thử nghiệm sản xuất giống cá ngừ vây vàng”, mã số KC.21/11-15 bắt đầu thực hiện từ năm 2012. Phát triển nuôi đối tƣợng mới có đặc tính di cƣ nhƣ cá ngừ vây vàng là điều rất khó vì chúng không quen bị nuôi nhốt trong lồng. Để nghề nuôi thƣơng phẩm cá ngừ vây vàng có hiệu quả và xa hơn nữa là mục tiêu cho sinh sản nhân tạo thì điều cần thiết và hết sức quan trọng phải nắm đƣợc những đặc điểm sinh học của chúng trong điều kiện bị nuôi nhốt.
Tại Việt Nam, chƣa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học của cá ngừ vây vàng trong lồng nuôi. Do vậy, việc thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) trong điều kiện nuôi lồng tại Việt Nam” là cần thiết để có đƣợc những cơ sở khoa học phục vụ xây dựng quy trình nuôi thƣơng phẩm và sinh sản nhân tạo cá ngừ vây vàng tại Việt Nam. MỤC TIÊU CỦA LUẬN ÁN: Xác định đƣợc đặc điểm sinh trƣởng, dinh dƣỡng, thức ăn và sinh sản của cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng làm cơ sở khoa học phục vụ xây dựng quy trình nuôi thƣơng phẩm và sinh sản nhân tạo loài cá này tại Việt Nam. 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN: Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng của cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng.
Nội dung 2: Nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng, thức ăn của cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng. Nội dung 3: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN: - Ý nghĩa khoa học: Cung cấp dữ liệu và cơ sở lý luận về đặc điểm sinh học của cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng. - Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ xây dựng quy trình nuôi thƣơng phẩm và sinh sản nhân tạo cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng.
ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN: Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) là loài cá ngừ đại dƣơng, di cƣ và phân bố chủ yếu ở vùng biển xa bờ. Kết quả nghiên cứu đã di giống về nuôi thành công ở vùng biển ven bờ và những nghiên cứu về đặc điểm sinh trƣởng, dinh dƣỡng thức ăn và sinh sản trong điều kiện nuôi lồng là những kết quả nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam. Trong đó có một số điểm mới nổi bật nhƣ sau: 1. Kết quả nghiên cứu của luận án đã khẳng định cá ngừ vây vàng có khả năng sinh trƣởng tốt khi đƣợc nuôi nhốt trong lồng ở vùng biển ven bờ nƣớc ta.
Kết quả này làm phong phú thêm thành tựu nghiên cứu phát triển đối tƣợng nuôi mới cho nghề nuôi trồng hải sản. Cá ngừ nuôi sử dụng thức ăn là cá trích và cá nục cho hàm lƣợng lipid trong thịt cao hơn nhiều lần so cá tự nhiên. Đây là yếu tố quan trọng quyết định giá trị kinh tế và nhu cầu tiêu thụ cao hơn của cá ngừ nuôi thƣơng phẩm so với cá tự nhiên. Sức sinh sản của cá ngừ vây vàng tƣơng đối cao trong điều kiện nuôi lồng.
Cá có thể sinh sản nhiều lần trong năm với mùa vụ chính từ tháng 5 đến tháng 9. Cá có khả năng thành thục sinh dục tốt. Đây là cơ sở khoa học cho hƣớng nghiên cứu tiếp theo về sinh sản nhân tạo cá ngừ vây vàng tại Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá ngừ vây vàng trong điều kiện nuôi lồng, tác giả đã đề xuất đƣợc một số cơ sở, điều kiện kỹ thuật phục vụ nuôi thƣơng phẩm và sinh sản nhân tạo, góp phần định hƣớng phát triển nghề nuôi cá ngừ vây vàng tại Việt Nam.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1. Đặc điểm phân loại, sinh thái và phân bố của cá ngừ vây vàng Cá ngừ đại dƣơng thuộc họ Scombridae, trong đó có một số loài có giá trị cao và đang đƣợc nuôi rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ là: Cá ngừ vây xanh phƣơng Bắc (loài Thunnus thynnus phân bố ở Bắc Đại Tây Dƣơng và loài Thunnus orientalis phân bố ở Bắc Thái Bình Dƣơng) và cá ngừ vây xanh phƣơng Nam (Thunnus maccoyii) phân bố ở Nam Thái Bình Dƣơng. Ngoài ra, loài cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) phân bố nhiều ở vùng biển nhiệt đới (trong đó có Việt Nam) đang đƣợc chú trọng nghiên cứu, phát triển nuôi và sản xuất giống nhân tạo.
Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) là một loài có giá trị kinh tế cao thuộc họ cá thu ngừ (Scombriade) (Hình 1. Cá ngừ vây vàng có thể bắt gặp ở tất cả các vùng biển nhiệt đới và ôn đới trên thế giới, ngoại trừ vùng biển Địa Trung Hải. Hệ thống phân loại của cá ngừ vây vàng nhƣ sau: Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Chordata Lớp (Class): Actinopterygii Bộ (Order): Perciformes Họ (Family): Scombridae Giống (Genus): Thunnus Loài (Species): Thunnus albacares (Bonnaterre, 1788) Theo một số tài liệu phân loại, cá ngừ vây vàng có một số tên đồng vật (Synonym) nhƣ sau: Scomber albacorus (Lacepède, 1800); Thunnus argentivittatus (Cuvier, 1832) và Thunnus macropterus (Temminck & Schlegel, 1844). Cá ngừ vây vàng là loài cá có kích thƣớc lớn, cơ thể rắn chắc, hình thoi và dẹt bên.
Số lƣợc mang ở cung mang thứ nhất dao động khoảng 26-34 chiếc. Trên thân, phần hai bên bụng cá thƣờng có khoảng 20 vạch ngang hoặc các đƣờng chấm đứt đoạn. Có hai vây lƣng phân cách nhau một khoảng rất hẹp. Thuộc họ cá thu ngừ, do vậy loài cá này có 8-10 vây phụ phía sau vây lƣng thứ 2 và 7-10 vây phụ sau vây hậu 5 môn.
Vây lƣng, vây hậu môn và các vây phụ có màu vàng sáng, các vây phụ có viền đen hẹp. Ở kích thƣớc lớn, vây lƣng thứ hai và vây hậu môn kéo dài, có thể đạt trên 20% chiều dài thân. Thân phủ vẩy rất bé, phần ngực có vẩy lớn hơn nhƣng cũng không phân biệt quá rõ. Cuống đuôi rất dẹt với 1 sống da lớn giữa hai sống da nhỏ hơn ở mỗi bên.
Cá ngừ vây vàng có bóng bơi. Phần lƣng có màu xanh đậm chuyển dần sang vàng đến bạc ở phần bụng (Fishbase.1: Hình thái ngoài cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) (Ảnh: Tác giả) Hình 1.2: Phân bố của cá ngừ vây vàng ở đại dƣơng (Nguồn: Suzuki và ctv, 1977; Biên dịch Tiếng Việt: Tác giả) 6 Cá ngừ vây vàng phân bố rộng từ 350N - 350S ở Đông Thái Bình Dƣơng và 400N - 350S ở Trung - Tây Thái Bình Dƣơng (Sund và ctv, 1981).