Đặt vấn đề Đầm phá tự nhiên là loại hình thuỷ vực khá đặc trưng của khu vực vùng triều ven biển. Ở nước ta, các đầm phá ven biển điển hình phân bố ở ven bờ biển Trung Bộ như Tam Giang – Cầu Hai, Đề Gi, Thị Nại, Nha Phu, Thủy Triều,… Hệ thống đầm phá này mang lại giá trị vô cùng to lớn cho con người: là nguồn cung cấp thực phẩm; tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế bao gồm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và du lịch; là nguồn lưu trữ gen của nhiều loài sinh vật; vai trò trong điều hòa nguồn nước ngầm, là bể chứa trong mùa mưa và là nguồn cung cấp nước cho mùa khô. Đầm Thị Nại là đầm lớn thứ hai trong số các đầm phá ở Việt Nam, nằm ở cực nam tỉnh Bình Định,được bao bọc bởi thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước. Đầm Thị Nại thuộc loại đầm kín, được che chắn bởi bán đảo Phương Mai dọc theo phía đông.
Đầm Thị Nại có diện tích tự nhiên khoảng 5.060 ha, chiều dài 16 km, chiều rộng từ 500 m đến 5 km, độ sâu trung bình khoảng 1,2 m, cửa đầm thông với vịnh Quy Nhơn có chiều rộng 400 – 500 m. Sự giao thoa nước giữa đầm và biển chủ yếu xảy ra dưới tác động của hai quá trình là lan truyền triều và dòng nước ngọt từ sông đổ vào đầm ra vịnh và biển. Vào mùa khô nước biển có khả năng thâm nhập sâu vào đầm. Ngược lại, vào mùa mưa thì hầu hết đầm bị bao phủ bởi nước ngọt khi nước sông Côn, sông Hà Thanh và các sông nhỏ khác đổ vào.
Đây cũng là một trong những đầm phá thể hiện nét đặc trưng về một hệ sinh thái của vùng đất ngập nước ở khu vực miền Trung Việt Nam. Đầm Thị Nại có diện tích mặt nước lớn, rất đa dạng về nơi sống của sinh vật với nhiều hệ sinh thái như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, vùng triều đáy mềm, đáy cứng liên kết nhau, là nơi cư trú, kiếm ăn, sinh sản và ương giống 2 của các loài thủy sản. Nhiều nhóm thủy sản có giá trị kinh tế như thân mềm (sò huyết, sò lông,…), giáp xác (ghẹ xanh, cua, tôm đất, tôm bạc, tôm sú, tôm hùm,…), cá (cá bống, cá dìa, cá giò, cá đối,…), giá biển, sá sùng và nguồn giống (cua, tôm, hàu, ngao dầu, cá dìa và cá mú, cá măng) mang lại nguồn thu chủ yếu cho cộng đồng dân cư của 9 xã của huyện Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn. Cá bống là nhóm cá có thành phần loài lớn với khoảng 270 giống và 2000 loài đã được thế giới ghi nhận (Akihito và cs., 2000; Patzner và cs.
Theo Mai Đình Yên và cộng sự (1992), ở Việt Nam có 5 họ cá bống (Eleotridae, Gobiidae, Periophthalmidae, Apocrypteidae và Gobioididae), trong đó họ Gobiidae có số lượng nhiều nhất (32 giống và 60 loài), họ Eleotridae có số lượng ít hơn (3 giống và 7 loài) (Nguyễn Nhật Thi, 2000)[18][28]. Qua khảo sát thực tế ở đầm Thị Nại, có nhiều loài cá bống như: cá bống trứng (Eleotris melanosoma), cá bống tro (Acentrogobius caninus), cá bống chấm mắt (Oxyurichthys microlepis), cá bống thệ (Oxyurichthys tentacularis), cá bống cát (Glossogobius giuris),… Cá bống trứng (Eleotris melanosoma) thuộc họ cá bống đen (Eleotridae), cá bống cát (Glossogobius giuris) thuộc họ cá bống trắng (Gobiidae) là hai loài cá xuất hiện thường xuyên ở đầm Thị Nại, được nhiều người ưa chuộng. Chính vì vậy, việc khai thác nguồn lợi cá tự nhiên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến nguồn lợi những loài cá này. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện để hướng đến bảo vệ nguồn lợi hai đối tượng quan trọng này.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống cát (Glossogobius giuris) phân bố tại đầm Thị Nại tỉnh Bình Định”. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu để thu thập số liệu về hình thái giải phẫu, đặc điểm dinh dưỡng, đặc điểm sinh trưởng và đặc điểm sinh sản của cá bống trứng và cá bống cát phân bố ở đầm Thị Nại để làm cơ sở cho việc bảo vệ nguồn lợi cũng như nhân giống và nuôi thương phẩm hai loại cá này trong tương lai. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ˗ Ý nghĩa khoa học: Cung cấp dẫn liệu về đặc điểm sinh học của cá bống trứng và cá bống cát, làm cơ sở cho việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi của cá bống trứng và cá bống cát ở đầm Thị Nại. ˗ Ý nghĩa thực tiễn: Các số liệu thu thập được trong nghiên cứu này là dẫn liệu bổ sung trong công tác giảng dạy, là cơ sở khoa học cho việc đưa vào xây dựng quy trình sinh sản, nuôi thương phẩm cá bống trứng và cá bống cát trong tương lai.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nguồn lợi thủy sản Việt Nam Việt Nam là một quốc gia biển nằm ven bờ tây của Biển Đông, có bờ biển dài 3260 km. Vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226000km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1160km2. Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cung cấp nguồn lợi hải sản quan trọng, trong đó có 2038 loài cá biển, 1640 loài giáp xác, trên 2500 loài nhuyễn thể, trên 650 loài rong biển.
Thủy sản nội địa có 544 loài cá nước ngọt, trong đó 243 loài cá phân bố ở các sông miền Bắc, 134 loài ở miền Trung và 255 loài ở miền Nam, chỉ có 70 loài có giá trị kinh tế; 186 loài cá nước lợ mặn, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế như cá song (cá mú), cá hồng, cá tráp, cá vược (cá chẽm), cá măng, cá cam, cá bống, cá bớp, cá đối, cá dìa; 700 loài động vật không xương sống trong đó 55 loài giáp xác, 125 loài hai mảnh vỏ và chân bụng (Nguyễn Văn Tư, 2005)[24]. Theo thống kê, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trong cả nước liên tục tăng trong những năm gần đây và sơ bộ năm 2017 là 1.200 ha, tăng 3% so với năm 2016. Trong đó, diện tích nuôi trồng thủy sản nội địa lớn hơn diện tích nuôi trồng thủy sản biển, diện tích nước mặn, lợ chiếm ưu thế và tăng cao hơn so với diện tích nước ngọt. Diện tích nước mặn, lợ năm 2017 là 731.1%; diện tích nước ngọt là 319.4% so với năm 2016 (Bảng 1.
Môi trường nước mặn, lợ là môi trường sinh thái quan trọng nhất đối với các loại thuỷ sinh vật bởi phù sa và các chất vô cơ, hữu cơ hoà tan mà các cửa sông, lạch đem lại là nguồn thức ăn tốt cho các sinh vật bậc thấp và đến lượt mình các sinh vật bậc thấp là thức ăn cho tôm cá. Diện tích mặt nƣớc nuôi trồng thủy sản Việt Nam Sơ bộ 2015 2016 2017 % tăng, giảm Diện tích (nghìn (nghìn (nghìn 2017/2016 ha) ha) ha) Tổng số 1057,3 1072,8 1105,2 3,0 Diện tích nuôi trồng thủy sản biển: 40,8 46,0 48,1 4,6 - Nuôi cá 0,6 0,6 0,6 0,0 - Nuôi tôm 4,3 3,4 2,5 -26,5 - Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 35,9 42,0 45,0 7,1 Diện tích nuôi trồng thủy sản nội địa 1012,1 1021,9 1051,7 2,9 Diện tích nước mặn, lợ: 704,4 709,6 731,9 3,1 - Nuôi cá 27,2 20,1 16,1 -19,9 - Nuôi tôm 662,1 678,0 704,7 3,9 - Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 15,1 11,5 11,1 -3,5 Diện tích nước ngọt: 307,7 312,3 319,8 2,4 - Nuôi cá 300,1 302,9 302,4 -0,2 - Nuôi tôm 6,3 8,5 16,4 92,9 - Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 1,3 0,9 1,0 11,1 Diện tích ươm, nuôi giống thủy sản 4,4 4,9 5,4 10,2 (Nguồn – Tổng cục thống kê) [29] Cùng với sự gia tăng diện tích mặt nước nuôi trồng, sản lượng thủy sản cả nước cũng tăng trong những năm gần đây. Năm 2017, tổng sản lượng thủy sản là 7225 nghìn tấn, tăng 5.2% so với năm 2016 và tăng 9.8% so với năm 2015 (Bảng 1. Sản lƣợng nuôi trồng và khai thác thủy sản cả nƣớc 2015 2016 Sơ bộ 2017 2017 so với 2017 so với (nghìn tấn) (nghìn tấn) (nghìn tấn) 2016 (%) 2015 (%) Tổng số 6582,1 6870,7 7225,0 105,2 109,8 Khai thác 3049,9 3226,1 3389,3 105,1 111,1 Nuôi trồng 3532,2 3644,6 3835,7 105,2 108,6 (Nguồn – Tổng cục thống kê) [29] Diện tích mặt nước nuôi trồng rộng lớn cùng với nguồn lợi thủy sản phong phú đã góp phần đưa ngành thuỷ sản trở thành một trong những ngành kinh tế chủ đạo với giá trị xuất khẩu đứng thứ ba cả nước.
Điều kiện tự nhiên đầm Thị Nại 1. Vị trí địa lí Đầm Thị Nại là một đầm nước mặn lớn nhất Bình Định có diện tích tự nhiên mặt đầm khoảng 5060 ha, chiều dài 16 km, chiều rộng từ 500 m đến 5 km, độ sâu trung bình khoảng 1,2 m. Đầm Thị Nại tương đối kín, nằm theo hướng bắc nam. Cửa đầm thông với vịnh Quy Nhơn và hướng ra biển, phía đông và bắc đầm được ngăn cách với biển bằng dãy núi Phương Mai, phía nam giáp thành phố Quy Nhơn, phía tây giáp với các xã Phước Thắng, Phước Hòa, Phước Sơn, Phước Thuận thuộc huyện Tuy Phước.
Địa hình, khí hậu, thủy văn Địa hình vùng đầm chủ yếu là trầm tích biển. Vùng ven đầm được phù sa sông Côn và sông Hà Thanh bù đắp nên đất khá màu mỡ nhưng có độ nhiễm mặn cao. Đặc biệt, vùng các cửa sông có điều kiện đất đai và nguồn nước rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. 7 Đầm Thị Nại mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12.
Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm: 26-27,50C. Độ ẩm trong giới hạn từ 77% – 81%. Độ ẩm cao nhất thường vào tháng 10, 11 và vào đúng mùa mưa, có khi lên đến 85% và thấp nhất vào các tháng mùa khô (tháng 6, 7, 8), chỉ đạt 71%. Lượng mưa trung bình hằng năm tương đối thấp và đều, từ 2020-2060 mm/năm và tập trung 90% lượng mưa vào tháng 9 đến tháng 12.
Tháng 10 và tháng 11 có lượng mưa nhiều nhất (Đặng Thị Hương, 2016) [9]. Mùa bão cũng trùng với mùa mưa với tần suất 1 đến 2 cơn bão trong năm. Đầm Thị Nại được hình thành từ các nhánh sông Côn, sông Hà Thanh và các suối nhỏ ở phía Nam núi Bà. Đầm Thị Nại cũng là nơi xảy ra sự tương tác mạnh mẽ của dòng triều từ biển Đông truyền vào, sông Côn và sông Hà Thanh chảy ra.