ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là taì nguyên vô cùng quý giá, vốn đƣợc xem là “lá phổi xanh” của Trái Đất, là hơi thở của sự sống. Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tƣơng tác giữa sinh vật với môi trƣờng. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta. Rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxi, duy trì ổn định của đất, hạn chế xói mòn, lũ lụt, làm giảm nhẹ sự tàn phá khốc liệt từ thiên tai và làm giảm nhẹ mức độ ô nhiễm không khí môi trƣờng.
Ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng. Rừng là thảm thực vật của những cây gỗ trên bề mặt trái đất. Thực vật rừng hay cây rừng bao gồm tất cả các loài cây thân gỗ, loài dây leo, loài cỏ thực vật bậc cao và c ó mạch phân bố trong rừng. Thực vật rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo cung cấp cho con ngƣời từ lƣơng thực, thực phẩm đến các nguyên nhiên liệu trong công nghiệp các loại thuốc chữa bệnh, Việc thực hiện nghiên cứu về thực vật rừng là rất quan trọng và cần thiết.
Thmar thực vật rừng rất phong phú và đa dạng, phân bố khắp mọi nơi trên Trái Đất từ các vùng núi cao đến các hải đảo tạo nên một sự sống sầm uất. Việt Nam là một nƣớc na mừ trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa với hệ thống thực vật rừng đa dạng, phong phú và rất phức tạp nhƣng chƣa đƣợc nghiên cứu một cách toàn diện. Đặc biệt là ở các địa phƣơng miền núi xã xôi có địa hình hiểm trở nên việc thực hiện nghiên cứu rất khó khăn, thực vật rừng ở nhiều nơi còn chƣa đƣợc chúng ta biết đến. Có những loài cây chỉ thấy ở một miền tự nhiên nhất định mà không phổ biến.
Việc thực hiện các nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu biết đƣợc đặc tính và nơi phân bố của loài đó để có biện pháp bảo tồn và duy trì hiện trạng thực vật rừng, tìm ra giải pháp tối ƣu để ngăn chặn sự suy thoái rừng gây mất cân bằng hệ sinh thái. Nhằm củng cố kiến thức chuyên môn, áp dụng và bổ sung các kiên thức vào thực tế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Táu muối( Vatica diospyroides Symington) tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”, với mong muốn góp phần bảo tồn và phát triển loài cây Táu muối tại khu vực nghiên cứu. 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các nhà lâm sinh quan niệm rằng, cấu trúc rừng ( forest structure) là sự sắp xếp tổ hợp chức nội bộ của các hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc tính sinh thái học khác nhau có thể chung sống hài hòa v à đạt tới sự ổn định tƣơng đối trong một giai đoạn nhất định của tự nhiên. Cũng theo quan điểm này, Phùng Ngọc Lan( 1986) cho rằng: cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian.
Còn trên quan điểm sản lƣợng, Husch, B.( 1982), cấu trúc là sự phân bố kích thƣớc của loài và cá thể trên diện tích rừng Nhƣ vậy, có thể thấy cấu trúc lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật, giữa thực vật và môi trƣờng sống. Trên Quan điểm sinh thái thì cầu trúc là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái. Trên quan điểm sản lƣợng thì cấu trúc rừng phản ánh sức sản xuất của rừng theo điều kiện lập địa. Cấu trúc quần xã thực vật rừng bao gồm cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tuổi, cấu trúc mật độ, cấu trúc theo mặt phẳng nằm ngang… Nhìn chung, nghiên cứu cấu trúc đã chuyển từ mô tả định tính sang phân tích định lƣợng dƣới dạng ô hình hóa toán học nhằm khái quát hóa các quy luật tự nhiên.
Trong đó, các quy luật phân bố, tƣơng quan của một số nhân tố điều tra đƣợc sự quan tâm nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu quy luật phân bố. Theo mayer đã xây dựng rừng chuẩn theo phƣơng trình hồi quy để toan tính cho chu kỳ khai thác ổn định số cây và cấp đƣờng kính.
Richard trong quyển “ Rừng mƣa mƣa nhiệt đới” cũng đề cập đến phân bố số cây theo cấp kính, ông cho đó là phần bố đặc trƣng của rừng tự nhiên hỗn loài. Trong quyển “ Hệ sinh thái rừng mƣa nhiệt đới” FAO xuất bản gần đây tác giả cũng xét phân bố số cây theo cấp đƣờng kính. Theo quan điểm Richards Wenk đã nghiên cứu 2 thân cây theo kích cỡ và đồng hóa một số dạng phân bố lý thuyết để sử dụng tính toán quy hoạch rừng, Rolle đã dành một chƣơng quan trọng để xác lập phƣơng trình hồi quy số cây – Đƣờng kính ( Nguyễn Văn Trƣờng 1983). Các tác giả này đã xây dựng phƣơng trình hồi quy cho các kiểu rừng khác nhau(số cây theo đƣờng kính).
Từ các nhân tố điều tra có thể suy ra từ các biến khác thông qua tƣơng quan hồi quy. Đây là cơ sở quan trọng để ứng dụng trong điều chế rừng góp phần tìm ra một số kết luật bổ ích cho công tác lâm sinh hƣớng vào mục tiêu xây dựng và nâng cao vốn rừng về lƣợng và chất. Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố rừng chủ yếu theo đƣờng kính D1.3 có liên hệ với giai đoạn phát dục và giai đoạn kinh doanh. Theo tác giả sự phân bố cây theo đƣờng kính có giá trị đặc trƣng nhất cho rừng đặc biệt là rừng hỗn loại, nó phản ánh các đặc điểm lâm sinh của rừng ( dẫn theo Trần Minh Cƣờng, 2007).
Phân bố cây rừng tự nhiên mà ông xác định đƣợc kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố số cây theo cấp đƣờng kính của rừng tự nhiên có một đỉnh lệch trái. Số cây tập trung ở cấp đƣờng kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế hệ tồn tại trong các kiểu rừng. Nếu xét về một loài cây do đặc tính sinh thái nên lớp cây kế cận ( cây nhỏ) bao giờ cũng nhiều hơn các lớp cây lớn do quy luật cạnh tranh không gian dinh dƣỡng và đào thải tự nhiên, những nơi thuận lợi trong rừng cây mới vƣơn lên và tồn tại , phát triển.
Còn phân bố theo cấp chiều cao, rừng tự nhiên thƣờng có quy luật nhiều dỉnh do có nhiều thế hệ cùng tồn tại và đặc tính di truyền của một số loài cây rừng chỉ lớn đến một kích cỡ nhất định nào đó sẽ không lớn nữa. Đồng thời việc phân bố nhiều đỉnh cũng là kết quả của việc khai thác chọn không đúng quy tác để lại. Nghiên cứu về Họ Dầu. Họ Dầu một số tài liệu tiếng việt gọi là Họ Hai cánh có danh pháp khoa học là Dipterocarpaceae là một họ của 17 chi và khoảng 580-680 loài cây thân gỗ chủ yếu ở các rừng mƣa nhiệt đới vùng đất thấp với quả có hai cánh.
Tên gọi khoa học của họ xuất phát từ chi điển hình là Dipterocarpus, có nguồn gốc từ 3 tiếng Hy Lạp (di = hai, pteron = cánh và karpos = quả, nghĩa là quả có hai cánh). Các chi lớn nhất là Shorea (196-360 loài), Hopea (105 loài), Dipterocarpus (70 loài) và Vatica (60-65 loài). Nhiều loài là các loại cây nổi bật trong các cánh rừng, thông thƣờng có thể cao tới 40-70 m, đôi khi cao trên 80 m (trong các chi Dryobalanops, Hopea và Shorea), với cây còn sống cao nhất (Shorea faguetiana) đạt tới 88,3 m. Các loài trong họ này có tầm quan trọng lớn trong việc buôn bán gỗ.
Chúng phân bổ rộng khắp vùng nhiệt đới, từ miền bắc Nam Mỹ tới châu Phi, Seychelles, Ấn Độ, Đông Dƣơng và Malesia, với sự đa dạng và phổ biến nhất ở miền tây Malesia. Một số loài hiện nay đang bị rơi vào tình trạng nguy cấp do kết quả của việc chặt hạ quá mức cũng nhƣ việc buôn lậu gỗ. Chúng cung cấp các loại gỗ có giá trị, tinh dầu thơm, bôm, nhựa mủ cũng nhƣ làm gỗ dán 1. Nghiên cứu tái sinh Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hang tăm năm nhƣng với rừng nhiệt đới vấn đề này đƣợc tiến hanh chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trƣớc trở lại đây.
Nghiên cứu về tái sinh rừng là nhƣng nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên có 4 khả năng tái sản xuất mở rộng nếu con ngƣời nắm bắt đƣợc quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ cho kinh doanh rừng. Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo, hay sự hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh ật trong tự nhiên, các tác giả nhƣ Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại của quần xã sinh vật giống nhƣ nó đã xuất hiện trong tự nhiên. Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956), đối với rừng nhiệt đới có hai đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống).
Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả rừng thứ sinh – một đối tƣợng rừng khá phổ biến ở nhiều nƣớc nhiệt đới. Theo Aubréville (1938), nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Châu Phi, ông cho rằng “Cây con của loài cây ƣu thế trong rừng mƣa có thể cực hiếm”. Tổ 4 thành loài cây mẹ ở tầng trên va tổ thành loài cây tái sinh ở tầng dƣới thƣờng khác nhau rất nhiều. Trong khi đó nghiên cứu của David (2003), Ri Sa (1993), Bead (1964) và Rôlê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ nhận định sự xuất hiện hiện tƣợng tái sinh tại chỗ và lien tục của các loài cây và tổ thành loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài.