ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng Việt Nam phong phú và đa dạng là nơi sinh tồn của hàng trăm, hàng ngàn loài động, thực vật nhƣng một thực trạng đáng buồn là trong những năm gần đây dƣới áp lực của sự phát triển kinh tế và bùng nổ dân số lên nguồn tài nguyên rừng, làm những cây gỗ, cây thuốc giá trị bị thƣơng mai hóa do vậy chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít giá trị hoặc chƣa đƣợc nghiên cứu cũng bị tàn phá nhƣờng chỗ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp làm cho rừng không những suy thoái về số lƣợng mà cả chất lƣợng. Bên cạnh đó việc nghiên cứu gây trồng còn hạn chế chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của thị trƣờng cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của những loài cây quý hiếm trong tự nhiên. Để khắc phục tình trạng suy thoái rừng, trong những năm qua Đảng và Nhà nƣớc ta cùng với ngƣời dân đã có hàng loạt các biện pháp bảo vệ rừng và tài nguyên rừng.
Bên cạnh các văn bản pháp luật chúng ta áp dụng hàng loạt các biện pháp nhƣ: khoanh nuôi bảo vệ, sử dụng tài nguyên hợp lí, gây trồng rừng… Tại Vƣờn quốc gia Pù Mát trƣớc đây là một trong những Vƣờn quốc gia có giá trị dạng sinh học cao của Việt Nam: thành phần động thực vật phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình trạng khai thác gỗ, săn bắt trái phép làm cho số lƣợng các loài giảm sút nghiêm trọng, trong đó có những loài quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng. Riêng về thực vật đã có hơn 70 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và danh sách thực vật bị đe dọa trên thế giới cần đƣợc bảo tồn. Trong số hơn 70 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có Sa mộc (Cunninghamia konishii), Pơ mu (Fokienia hodginii), Sến mật (Madhuca pasquieri).
Đặc biệt một số loài bản địa quý hiếm, có gia trị kinh tế cao phải kể đến là Sao mặt quỷ (Hopea mollissima) phân bố ở Vƣờn quốc gia Pù Mát. Nếu chúng ta không có những biện pháp tác động hiệu quả loài cây này có thể bị tuyệt chủng trong tƣơng lai. 1 Làm thế nào để duy trì sử dụng lâu bền tài nguyên rừng nói chung, các loài cây gỗ bản địa Sa mộc, Pơ mu, Sao mặt quỷ nói riêng? Vấn đề đặt ra là chúng ta cần nghiên cứu để bảo tồn loài. Trong đó việc nghiên cứu đăc điểm phân bố của loài đóng vai trò rất quan trọng và hết sức cần thiết.
Chính vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Sao mặt quỷ (Hopea mollissima C.Wu, 1957) tại xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm về loài Sao mặt quỷ (Hopea mollisima C.Wu, 1957) Đặc điểm hình thái Sao mặt quỷ thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), bộ Bông (Malvales). Là cây gỗ lớn, bạnh vè cao, chiều cao có thể đạt 40m với đƣờng kính lên tới 150 – 200 cm (kể cả bạnh vè).
Vỏ nâu nhạt khi non, khi già nâu sẫm và bong thành các mảnh, để lại các vết sẹo hình tròn đồng tâm. Cành non mảnh, có lông hình sao. Lá đơn, hình trứng hay hình mác, dài 13 -18 cm, rộng 3,5 – 4,5 cm, hai mặt có lông hình sao; gân bên 8 – 14 đôi. Cụm hoa chùy, chia nhánh nhiều, mọc ở nách các lá phía đỉnh hay sẹo lá.
Cánh hoa 5, màu hồng, phía ngoài có lông. Quả hình cầu, đƣờng kính 0,9 cm, 2 cánh phát triển dài 9 – 10 cm, rộng 2,5 – 3,5 cm, với 10 – 14 đôi gân song song. Đặc điểm sinh học và sinh thái học Mùa hoa tháng 6 – 9, mùa quả tháng 3 – 4 năm sau. Cây mọc trong các rừng nhiệt đới, kín, ẩm, thƣờng xanh, ở độ cao 100 – 1100 m, nhƣng tập trung nhất ở 400 – 800 m, tạo thành các khu rừng ƣu thế Sao măt quỷ hoặc gần thuần loài.
Sao mặt quỷ thƣờng mọc chung với Sến mật (Madhuca pasquieri), Táu muối (Vatica diospyroides)…. Sao mặt quỷ là loài ƣa ẩm, tầng đất sâu dày, nhƣng thoát nƣớc. Tái sinh dƣới gốc cây mẹ rất tốt. Đặc điểm phân bố Phân bố ở Việt Nam: Táu mặt quỷ phân bố từ Lào Cai, Yên Bái, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Phân bố trên thế giới: Nam Trung Quốc. Giá trị sử dụng Là loài cho gỗ tốt, cứng, ít bị mối mọt, nằm trong nhóm tứ thiết (Đinh, Lim, Sến, Táu). Đƣợc sử dụng làm đồ nội thất cao cấp, đồ gia dụng. Tình trạng 3 Do có chất lƣợng gỗ tốt nên hiện nay cây bị khai thác nhiều, cùng với đó môi trƣờng sống đang dần bị thu hẹp cho nạn phá rừng, đốt rừng làm nƣơng rẫy… Cấp độ quý hiếm Sao mặt quỷ (Hopea mollisima C.Wu, 1957) đƣợc phân loại mức độ Nguy cấp (EN) theo IUCN 2007 và mức Sẽ nguy cấp (VU) theo Sách đỏ Việt Nam 2007.
Tình trạng bảo vệ Đã đƣợc quan tâm bảo vệ tại một số Vƣờn quốc gia: Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang (Hà Tĩnh), Bến En (Thanh Hóa). Nghiên cứu về họ Dầu (Dipterocarpaceae) trên thế giới Nghiên cứu của Maury-lecon Curtet (1998) đã liệt kê chi tiết các thông tin liên quan đến phân loại của họ Dầu mà theo họ có thể có 15, 16 hoặc 19 chi với 470 - 480 loài ở châu Á và châu Phi với số liệu chƣa chắc chắn. Châu Á là trung tâm của các loài cây họ Dầu và hiện có nhiều loài nhất. Ba khu vực rất đáng đƣợc quan tâm ở khu vực này là đảo Bomeo, Sumatra và bán đảo Malaixia (Maury-Lecon and Curtet,1998).
- Số lƣợng loài ở vùng Malesia + Symington (1943) xuất bản cuốn “Foresters Manual of Dipterocarps” ở Malaixia có giới thiệu 168 loài với nhiều hình vẽ và khóa phân loại cho 13 nhóm dựa vào lá, quả, lá kèm, thân và vỏ. Các nhóm đó là: Parashora, Pentacme,Hopea, Balannocarpus, Dipterocarpus, Dryobalanops, Anisoptera, Vatica, Cotylelobium và 4 nhóm của Shorea. + Ashton (1982) đã hoàn thiện việc xem xét các loài cây họ Dầu ở vùng này với 10 chi và 368 loài. - Số lƣợng loài ở Nam Á (Bănglađét, Myanma, Ấn Độ, Nê Pan, Sri Lanca).
+ Dyer (1874) trong cuốn “J.Hooker’s Flora British India” đã mô tả 92 loài của 9 chi cây họ Dầu đó là các chi sau: Dipterocarpus, Ancistrocladus, Anisoptera, Vatica, Shorea, Hopea, Doona, Vateria, Monoporanda. 4 + Tổ chức lƣơng thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO,1985) đã thông báo khu vực Nam Á có cả thảy 10 chi với 99 loài cây họ Dầu bao gồm các chi sau: Dipterocarpus 19 loài, Balanocarpus 1 loài, Anisoptera 3 loài, Vatica 9 loài, Shorea 27 loài, Hopea 18 loài, Parashorea 2 loài, Vateria 3 loài, Monoporanda 15 loài, Cotylelobium 2 loài. + Tewary and Sarkar (1985) đã thông báo rằng Ấn Độ chỉ có 31 loài của 5 chi họ Dầu. Còn ở Sri Lanca, Ashton (1972) cho rằng có 44 - 45 loài, trong khi đó Kostermans (1992) cho rằng có 9 chi và 58 loài.
- Số lƣợng loài ở Trung Quốc Cheng-chiu (1987) có 5 chi và 9 loài và 2 loài phụ cụ thể nhƣ sau: Dipterocarpus retusus, Vatica guanxiensis, Vatica mangachapoi, Parashorea chinensis, Hopea chinensis, Hopea hainanensis, Hopea mollissima, Hopea jianshu ( mà theo ông là tên đồng nghĩa của Sao mạng Hopea reticulata), Shorea robusta, Shorea assamica ssp. assamica, và Shorea assamica ssp. Ông cũng cho biết là Dipterocarpus turbinatus đã đƣợc nhập trồng vào Vân Nam từ lâu và vào Hải Nam từ vài thập niên qua nên đƣợc coi là tự nhiên hóa. - Số lƣợng loài ở Đông Dƣơng (Lào, Campuchia, Việt Nam) và Thái Lan.
+ Tổng hợp các công trình nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy ở nƣớc này có cả thảy khoảng 65 - 68 loài thuộc 8 chi nhƣ sau: Dipterocarpus 16 - 17 loài, Neobalannocarpus 1 loài, Anisoptera 3 loài, Vatica 8 loài, Shorea 22 loài, Hopea 14 - 15 loài, Cotylelobium 1 loài, Parashorea 1 loài. + Smitinand et al. (1990) trong công trình “ Flore du Cambodge du Laos et du Vietnam” cho biết ở 3 nƣớc Đông Dƣơng có 48 loài của 6 chi. Nghiên cứu về họ Dầu tại Việt Nam Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về họ Dầu nhƣ “Báo cáo tổng quát về họ Dầu Việt Nam” của Thái Văn Trừng năm 1986, họ Dầu khu vực Lào, Campochia và Việt Nam của Smitinand và Phạm Hoàng Hộ 5 năm 1990; Cây làm thuốc trong họ Dầu của Việt Nam của Võ Văn Chi năm 1985.
Các công trình trên tập trung vào mô tả và tìm hiểu giá trị sử dụng của các loài trong họ Dầu tại Việt Nam. - Trong cuốn Phân loại học thực vật bậc cao của tác giả Võ Văn Chi và Dƣơng Đức Tiến, 1977 : Họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc bộ Chè – Phân lớp Sổ - Lớp Ngọc lan. Theo đó các loài cây trong họ Dầu là những cây gỗ lớn chỉ phân bố trong vùng cổ nhiệt đới (bao gồm vùng Đông Nam Á), đó là một trong ba họ đặc hữu của vùng cổ nhiệt đới (Dipterocarpaceae, Nephethaceae, Pandanaceae). Trong thân của chúng luôn có ống tiết nhựa dầu.
Lá mọc cách, đơn, lá kèm sớm rụng. Hoa đều, lƣỡng tính, mẫu 5. Đế hoa phẳng hay lồi nhƣng cũng có khi lõm. Đài gồm 5 lá đài rời hay dính lại ở phần dƣới thành bao, phần trên tự do và một số mảnh lớn lên cùng với quả tạo thành cánh.
Tràng gồm 5 cánh hoa, có tiền khai hoa văn, bộ nhị có số lƣợng thay đổi từ 10-15 (10 ở Hopea, 15 ở Pentacme, Vatica) hoặc nhiều hơn (20-35 ở Dipterocarpus, Anisoptera hay hơn nữa ở Shorea). Chỉ nhị rời hay dính lại với nhau ở dƣới, bầu trên 3 ô, trong mỗi ô có 2 noãn đảo. Đôi khi dính với ống đài làm thành bầu dƣới. Quả nang, có cánh do lá đài lớn lên làm thành: 2 cánh ở Dipterocarpus, Anisoptera, Hopea ; 3 cánh ở Shorea, Vatica; 5 cánh ở Parashorea.
Hạt thƣờng không có nội nhũ, thùy hạt xoắn lại, ôm lấy rễ mầm. - Nguyễn Tiến Bân (1997) trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã giới thiệu về họ Dầu nhƣ sau : Cây gỗ, lá đơn mọc cách, có lá kèm sớm rụng, hoa đều, lƣỡng tính, lá đài 5 hợp ở gốc và ống đài thƣờng dính với bầu. Cánh hoa 5 xếp vặn, nhị nhiều hoặc 10 - 15, đôi khi 5, thƣờng rời nhau. Bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp Syncarp (hợp nguyên lá noãn) thành bầu thƣợng 3 ô.
Rất đặc trƣng bởi qua khô không mở, nằm trong đài bền, đồng trƣởng thành 2, 3 hoặc 5 cánh. Hạt thƣờng không có nội nhũ, lá mầm vặn và ôm lấy rễ mầm. Phân bố ở nhiệt đới chủ yếu ở rừng mƣa nhiệt đới. Việt Nam có 6 chi đó là Dipterocarpus, Anisoptera, Shorea (Pentacme), Hopea, Vatica (Perissandra), Parashorea với trên 45 loài.