ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên rừng là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia. Rừng không chỉ cung cấp lâm sản mà còn bảo vệ môi trƣờng sống, mang lại cho con ngƣời bầu khí quyển trong lành. Những giá trị của rừng mang lại cho con ngƣời không thể phủ nhận đƣợc đó là: cơ sở để phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện chức năng sinh thái vô cùng quan trọng trong việc tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu trình vận chuyển và các yếu tố cơ bản trên hành tinh, duy trì tính ổn định và tính màu mỡ của đất, làm giảm nhẹ sức phá hoại của thiên tai, bảo vệ nguồn nƣớc mặt, nƣớc ngầm, đảm bảo đến mức tối đa về ô nhiễm không khí và nƣớc; ngoài ra nhân dân ta từ xa xƣa đã biết sử dụng hàng ngàn loài cây làm lƣơng thực, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, thuốc chữa bệnh, nguyên nhiên liệu, cây cảnh và nhiều mục đích khác. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta cùng với nhân dân đã có hàng loạt các biện pháp bảo vệ rừng và tài nguyên rừng.
Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng chúng ta đã áp dụng hàng loại các biện pháp nhƣ khoanh nuôi bảo vệ, thành lập các khu bảo tồn, vƣờn quốc gia nhằm quản lý rừng và tài nguyên rừng chặt chẽ hơn, sử dụng tài nguyên hợp lý, nhân giống cây, gây trồng rừng. Tuy nhiên mức độ đa dạng sinh học thực vật vẫn đang dần suy giảm nên việc nghiên cứu phục vụ cho công tác bảo tồn các loài thực vật quý hiếm đang rất đƣợc quan tâm. Khu vực xã Long Đống, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn là vùng núi đá vôi, có địa hình hiểm trở, độ dốc cao, độ cao so với mực nƣớc biển lớn. Các đặc điểm khí hậu đó khá thích hợp với sinh trƣởng, phát triển của thực vật quý hiếm nhƣ Hoàng đàn, Trai Lý, Lát hoa, Đinh.đặc biệt là loài Nghiến, trong khu vực vẫn còn xuất hiện ngoài tự nhiên, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân nhƣ áp lực gia tăng dân số, khai thác lạm dụng, du canh du cƣ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho số lƣợng bị suy giảm trầm trọng, đang đứng trƣớc nguy cơ cạn kiệt.
Nghiến thuộc họ Đay (Tiliaceae) phân bố tự nhiên ở các vùng núi đá vôi, là loài cây quý hiếm có giá trị lớn cả về kinh tế và sinh thái, là loài cây cho gỗ 1 quý, gỗ thuộc nhóm II bền và nặng. Trong Sách đỏ Việt Nam 2007 phần thực vật Nghiến đƣợc xếp vào nhóm nguy cấp (EN). Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp quý hiếm đã đƣa loài Nghiến nằm trong nhóm IIA để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại [5]. Vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng phân bố và một số đặc điểm lâm là điều cần thiết.
Xuất phát từ những thực tiễn đó và tính đến thời gian thực hiện đề tài này, chƣa có một công trình nghiên cứu nào về loài Nghiến tại xã Long Đống, cùng với việc nhằm củng cố kiến thức chuyên môn, áp dụng và bổ sung các kiến thức vào thực tế và đóng góp phần nhỏ vào việc xây dựng cơ sở khoa học, phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển loài Nghiến tại khu vực nghiên cứu, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu W.How) tại xã Long Đống, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn”. Khóa luận tập trung nghiên cứu một số nội dung chính nhƣ: đặc điểm phân bố loài Nghiến theo không gian, đặc điểm cấu trúc rừng nơi có loài Nghiến phân bố, các nhân tố tác động từ đó đề ra một số hƣớng giải pháp bảo tồn phù hợp tại khu vực nghiên cứu. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.
Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học Những công trình nghiên cứu đầu tiên về thực vật lần đầu tiên xuất hiện ở Ai Cập cổ đại cách đây hơn 3000 năm trƣớc công nguyên và Trung Quốc cổ đại 2300 năm trƣớc công nguyên, sau đó là ở Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng lần lƣợt xuất hiện hàng loạt các tác phẩm về thực vật. Sinh thái học là một thuật ngữ đã có từ rất lâu từ năm 1858 do H. Đến năm 1869 nhà sinh thái học ngƣời Đức E.Heackel đã đƣa ra định nghĩa đầu tiên về sinh thái học nhƣ sau: Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa thể hữu cơ và hoàn cảnh xung quanh bao gồm mối quan hệ lẫn nhau giữa hoàn cảnh phi sinh vật và hoàn cảnh sinh vật (dẫn theo Hoàng Kim Ngũ, (2005) [11]. Đây là chƣơng trình nghiên cứu làm tiền đề cho những nghiên cứu sau này về sinh thái học.
Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, một nhận xét đƣợc nhiều nhà lâm học biết đến là: Trong các kiến thức khoa học về các hệ sinh thái rừng còn chƣa hoàn chỉnh , việc xác định các hiểu biết về mặt sinh thái, lâm học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vững một cách nguyên vẹn là có thể chấp nhận đƣợc và có thể áp dụng cho tất cả các kiểu rừng khác nhau kể cả rừng mƣa nhiệt đới ẩm ( Juergen Blasse và Jim Douglass năm 2000). W (1978) đã chỉ rõ vẫn đề nghiên cứu trong nghiên cứu sinh thái học thực vật nhƣ: thích nghi với các điều kiện dinh dƣỡng khoáng, nhiệt độ, độ ẩm,nhịp điệu, khí hậu. Ông đã chia ra sinh thái học quần thể và sinh thái học cá thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu sinh 3 thái từng cá thể hoặc từng loài trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đặc biệt chú ý.
Trong Lâm nghiệp nhiều tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp tác động hợp lý và xây dựng hệ thống kỹ thuật lâm sinh. Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mƣa Baur G. Trên cơ sở nhiên cứu sinh thái rừng mƣa Baur G.N đã tổng kết các biện pháp tác động lâm sinh vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, các biện pháp xử lý cải thiện. Có thể thấy các biện pháp nghiên cứu sinh thái rừng trên thế giới rất đa dạng, song có thể ghép thành nhiều nhóm những phƣơng pháp, đặc điểm sinh thái của loài là đặc điểm mối quan hệ của sinh trƣởng, phát triển của thực vật với điều kiện hoàn cảnh.
Đặc điểm sinh thái của loài thƣờng đƣợc mô tả bằng giới hạn trên, giới hạn dƣới và giá trị tối thích của các yếu tố sinh thái với sinh trƣởng, phát triển của loài. Trong điều kiện nghiên cứu phát triển thì đặc điểm sinh thái của loài có thể đƣợc mô tả bằng những biểu thức toán học phản ánh liên hệ định lƣợng của sinh trƣởng, phát triển của loài với các chỉ tiêu sinh thái. Nghiên cứu về phân bố cây rừng Khu phân bố của một loài cây đƣợc hình thành nhờ khả năng sinh trƣởng phát triển và khả năng thích ứng lâu dài của loài với hoàn cảnh sống. Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố cây rừng chủ yếu theo đƣờng kính D1.3 có liên hệ với giai đoạn phát dục và giai đoạn kinh doanh.
Theo tác giả sự phân bố số cây theo có đƣờng kính có giá trị đặc trƣng nhất của rừng đặc biệt là rừng hỗn giao, nó phản ảnh đặc điểm lâm sinh của rừng(theo Hà Văn Tƣờng [13]). Phân bố cây rừng tự nhiên mà ông xác định đƣợc kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới đó là phân bố cây theo cấp đƣờng kính của rừng tự nhiên có một định lệch trái. Số cây tập trung ở cấp có đƣờng kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế hệ tồn tại trong các kiểu rừng. Nếu xét về một loại cây do đặc tính sinh thái nên lớp cây kế cận bao giờ cũng nhiều hơn các 4 lớp cây lớn do quy luật cạnh tranh không gian dinh dƣỡng, đào thải tự nhiên, những nơi thuận lợi cho cây mới tồn tại và phát triển.
Còn phân bố theo cấp chiều cao rừng tự nhiên thƣờng có quy luật nhiều đỉnh do có nhiều thế hệ cùng tồn tại và đặc tính di truyền của một số cây rừng chỉ lớn đến mổ kích cỡ nhất định nào đó sẽ không lớn nữa đồng thời việc phân bố nhiều đỉnh cũng là kết quả của việc khai thac chọn không đúng quy tắc để lại. Một số công trình nghiên cứu về sự phân bố và số lƣợng tái sinh tự nhiên ở rừng mƣa nhiệt đới nhƣ: P.Rechard (1952); Eggling, Blanford (1929), Warson 1973 đã kết luận rằng: trong các rừng cây họ Dầu ở Mã Lai, có vô số mần non bị chết ngay trong năm thứ nhất do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong số mầm non của loài Shorea đòi hỏi ảnh sáng, chỉ một tỉ lệ rất nhỏ là sống đƣợc trên 2 năm. Vào thế kỉ XX nhà bác học ngƣời Nga V. Docuchaep đã chỉ rõ rằng: Phạm vi phân bố địa lý của thực vật đƣợc xác định bởi điều kiện độ ẩm, khí hậu.
Điều đó phụ thuộc vào lƣợng mƣa và lƣợng bốc hơi do tác dụng của nhiệt độ. Nghiên cứu về loài Nghiến trên thế giới Trên thế giới đã có khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu về loài Nghiến, năm 1918 A.Chew đã phát hiện và lấy tên khoa học loài là Pentace tokinensis, sau đó là sự nghiên cứu của Gagnep.) Chang& Miau,1978 đã giám định lấy tên loài Nghiến là Excentrodendron tonkinense đang đƣợc sử dụng rộng rãi đến nay. Trên thực tế Nghiến phân bố ở rừng nhiệt đới điển hình nhiều nhất ở Trung Quốc. Theo Li Shiyin et al.
(1956) [15], Nghiến phát triển tốt trên núi đá vôi tinh khiết, thƣờng trên các sƣờn dốc, trên đá trần hoặc đất nông, ngƣợc lại nó không thể tồn tại trên các khu vực đồi núi nơi bề mặt có nguồn gốc từ các loại đá có tính axit nhƣ sa thạch hoặc đá phiến sét, ngay cả khi có độ dốc nhẹ hoặc tầng đất sâu. Ở phía Bắc khu vực nhiệt đới những cây đại thụ của loài này thƣờng chiếm lĩnh các lớp trên của rừng nhiệt đới trên núi đá vôi, ở độ cao ƣới 5 700m Nghiến thƣờng mọc cùng với các loài cây nhiệt đới nhƣ Garcinia paucinervis, Drypetes pereticulata, Drypetes confertiflora, Vluricoccum siense và Walsura robusta. Ở miền cận nhiệt đới nơi có độ cao từ 700 đến 900 mét Nghiến vẫn tăng trƣởng khá tốt và thƣờng mọc hỗn giao với các loài cây cân nhiệt đới nhƣ Cinnamomum calcarea, Cryptocaria maclurei, Castanopis hainamensis.