mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm đƣợc sự phong phú của nơi sống nhƣng không có sự phân hoá mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đƣa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng là 1500 - 2000 loài.
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dƣỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt. Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống. Các công trình nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trƣng vật hậu của từng loài, nhóm loài.
Nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986). Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi. [19] - Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng: Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp bao gồm nhiều thành phần với các qui luật sắp xếp khác nhau trong không gian và thời gian. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng ngƣời ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.
Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Phân bố số cây theo đƣờng kính là quy luật cấu trúc cơ bản của lâm phần và đã đƣợc nhiều nhà Lâm học quan tâm và nghiên cứu. Đầu tiên là công trình nghiên cứu của Meyer ( 1952), ông mô tả phân bố số cây theo đƣờng kính bằng phƣơng pháp toán học, mà dạng của nó là đƣờng cong giảm liên tục. Tiếp đó, Nhiều tác giả đã dùng phƣơng pháp giải tích để tìm phƣơng trình đƣờng cong phân bố.
Naslunel (1936) đã xác lập phân bố Charlier-A đối với phân bố N-D của lâm phần loài đều tuổi.I (1964), Bill và Remken K.A (1964) đã tiếp cận phân bố này bằng phƣơng trình Logarit hóa chính thái. Loetsch (1973) đã dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm .Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài cây của rừng nhiệt đới ở Maranhoo- Brazil đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N-D. - Về nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng: Việc nghiên cứu định lƣợng các qui luật phân bố số cây theo đƣờng kính thân cây ở chiều cao 1m3 (D1,3), phân bố số cây theo cỡ chiều cao cây… Đƣợc nhiều tác giả thực hiện có kết quả. Trong đó việc mô hình hóa cấu trúc đƣờng kính D1,3 đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo dạng phân bố xác suất khác nhau: Balley (1973) sử dụng hàm Weibull.
4 Các dạng hàm Pearson, Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Poisson, Charlier, Logarit, Gama…[11] cũng đƣợc nhiều tác giả sử dụng trong nghiên cứu cấu trúc rừng. Nhƣ vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc, phân bố rừng tự nhiên cũng nhƣ nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây nhƣ trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung. Đó là cơ sở để lựa chọn cho hƣớng nghiên cứu trong luận văn. Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật nhƣ “Flora Cochinchinensis của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879 - 1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dƣơng do H.
Lecomte chủ biên (1907-1952).[12] Trong công trình này, các tác giả ngƣời pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dƣơng, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ. Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau nhƣ ở miền Nam Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974),[3] trong đó tác giả đã chỉ rõ những tiêu chuẩn để phân biệt các quần xã khác nhau là sự phân hóa khí hậu, chế độ thoát nƣớc khác nhau. Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thƣờng thấy ở Việt Nam” [4] gồm 6 tập do Lê Khả Kế (1970-1972) chủ biên và ở miền Nam, Phạm Hoàng Hộ cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”,[6] trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam”. Nghiên cứu về cấu trúc rừng Trong vòng vài chục năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù 5 hợp.
Thái Văn Trừng (1963), Trần Ngũ Phƣơng (1970) [18] cũng đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới ở nƣớc ta Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [19] đã đƣa ra mô hình cấu trúc tầng nhƣ: tầng vƣợt tán (A1), tầng ƣu thế sinh thái (A2), tầng dƣới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C). Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phƣơng pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tƣơi đƣợc vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trƣng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên cạnh đó, tác giả còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ƣu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ƣu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá.
Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Nhƣ vậy, các nhân tố cấu trúc rừng đƣợc vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể. Trần Ngũ Phƣơng (1970) [18] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965. Nhìn chung, để mô tả quy luật phân bố N/D1.3 có thể sử dụng nhiều hàm khác nhau nhƣ phân bố khoảng cách, phân bố giảm, phân bố Weibull, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thƣờng thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thƣờng ít đề cập đến các yếu tố sinh thái nên chƣa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài.
Các công trình nghiên cứu về loài Giổi Đã có một số tác giả nghiên cứu về loài Giổi: Võ Văn Chi, 2003 trong cuốn từ điển thực vật thông dụng đã mô tả về đặc điểm sinh thái, phân bố của loài Giổi xanh.[15] Các công trình nghiên cứu về cây Giổi lông (Michelia balansae Dany, 1927) [3] chỉ giám định tên loài, xác định vùng phân bố mà chƣa quan tâm nhiều về đặc điểm sinh học, đƣa ra các biện pháp bảo vệ. Cây gỗ rừng VN,[23] kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ VN (1991-1995); “ Giổi-loài cây bản địa có giá trị kinh tế cần đƣợc phát triển” (Tạp chí Lâm nghiệp, 5/1995- Nguyên Thanh Phƣơng_. Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh (2005) [20] Nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài cây Huỷnh và cây Giổi xanh làm cơ sở giải pháp kỹ thuật gây trồng. Nghiên cứu của Hoàng Xuân Tý và Nguyễn Đức Minh (2000) cho thấy thời kỳ quả Giổi xanh chín ở miền Bắc thƣờng muộn hơn ở miền Nam.
Thí nghiệm về mùa thu hái cho thấy, thu hái hạt giống trong khoảng thời gian 30/9-15/10 hàng năm cho thấy hạt có tỷ lệ nảy mầm cao nhất (78-87%) tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vƣờn cũng cao nhất (54-65%),…. Các công trình nghiên cứu về loài Giổi và các tài liệu viết về loài Giổi tại Việt Nam còn rất ít, nhƣng cũng đã có một số kết quả của các tác giả đi trƣớc là cơ sở ban đầu để đề tài tham khảo trong quá trình nghiên cứu. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Lộc Bắc Lao động Tổng số có 46 CB.CNV, trong đó có 12 ngƣời trình độ Đại học, 16 Trung cấp, 9 công nhân kỹ thuật (ở các xƣởng chế biến gỗ) và 10 ngƣời lực lƣợng quản lý bảo vệ rừng là ngƣời đồng bào địa phƣơng. Gồm có 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc, 4 phòng chức năng là : Tổ chức, Kinh tế, Kỹ thuật và 7 QLBVR.
Các đơn vị cơ sở trực thuộc gồm có 03 LN trƣờng phân bổ đều trên địa phận rừng đƣợc giao quản lý. Lực lƣợng lao động trực tiếp là lao động ngƣời đồng bào dân tộc tại chỗ hợp đồng theo công việc hoặc mùa vụ. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai tại Công ty Đất lâm nghiệp do Công ty quản lý: 29. * Đất rừng và rừng sản xuất : 25.869 ha (rừng tự nhiên24.991 ha, rừng trồng: 878 ha) * Rừng và đất rừng phòng hộ: 3.
Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh (2007-2009):(biểu 3.3) - Chăm sóc rừng trồng các năm : 68 ha - Giao khoán QLBV rừng: 21.180 ha Tính đến năm 2009 Lâm trƣờng đã giao khoán quản lý bảo vệ cho nhân dân là 21. - Khai thác lâm sản + Khai thác gỗ: 14.450 m3 + Chế biến gỗ: 3.882 m3 + Chế biến chè: 499 tấn 8 CHƢƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.