ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam, đất nƣớc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mƣa nhiều. Do đó mà nƣớc ta mang một hệ thực vật rất đa dạng và phong phú. Trong số đó các loài tre nứa chiếm một vị trí rất quan trọng trong phân loại hệ thực vật và chiếm tỷ lệ rất cao. Theo nguồn tài liệu của Vũ Văn Dũng (1978) nƣớc ta có khoảng 100 loại tre nứa thuộc 14 chi, chiếm 20% tổng số loài ghi trên thế giới.
Loài Lùng (Bambusa longissima Nov) thuộc chi (Bambusa) phân hộ tre nứa ( Bambusoideae) là loại cây mọc tự nhiên có vùng phân bố hẹp, phân bố chủ yếu tại 2 tỉnh là Nghệ An và tỉnh Sơn La và một phần nhỏ tỉnh Thanh Hóa. Lùng là loài cây đa tác dụng về mặt kinh tế và có giá trị về sinh thái, bảo vệ môi trƣờng. Con ngƣời thƣờng sử dụng các công trình xây dựng nhƣ: làm nhà cửa, hàng rào, các đồ dùng trong gia đình và đặc biệt loài Lùng có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế mây tre đan xuất khẩu. Hiện nay loài Lùng còn có giá trị về mặt công nghiệp nhƣ: nguyên liệu giấy, tăm hƣơng.
Còn rất nhiều các sản phẩm thủ công khác đƣợc rất nhiều ngƣời dân ƣa chuộng. Lùng là loài cây mọc tự nhiên có thân ngầm và mọc thành các bụi, trong bụi các cây thƣờng mọc xen kẽ nhau với khoảng cách các cây với nhau không quá nhiều, tạo nên mội khối kết dính có sức chống chịu cao với ngoại lực tự nhiên. Điều này giúp cho loài Lùng có vai trò quan trọng trong việc chóng xói mòn, rửa trôi đất. Tuy nhiên trong những năm gần đây do tình trạng khai thác quá mức, với nhu cầu quá lớn từ các doanh nghiệp, làm cho quá trình khai thác thiếu kiểm soát từ ngƣời dân địa phƣơng.
Ngoài ra tác động từ các hoạt động sinh sống của con ngƣời nhƣ: đốt nƣơng làm rãy, lấn chiếm diện tích rừng… Dẫn đến diện tích phân bố của loài Lùng bị giảm mạnh trong thời gian ngần đây, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng sinh thái. Đến nay, cũng đã có một số ít các nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và phân bố, tình hình sinh trƣởng, khả năng gây trồng của loài Lùng. Tuy nhiên nhƣ vậy là chƣa đủ để bảo tồn và phát triển một cách bền vững loài. Với 1 những tính năng hữu ích nhƣ vậy, việc cây Lùng bị khai thác với mục đích kinh tế là không tránh khỏi, vì vậy mà cần có biện pháp hợp lý trong công tác bảo tồn cũng nhƣ phát triển loài, nhân nuôi, trồng thử tại một số điểm khác nhau trong thới gian tới, sẽ giúp cho loài phát triển tốt và bền vững, vừa đảm bảo nhu cầu kinh tế của địa phƣơng và đảm bảo hệ sinh thái ít bị tác động.
Tại khu vực xã Tân Xuân – huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La, thuộc địa phận trong khu rừng đặc dụng của khu BTTN Xuân Nha, là khu vực có sự phân bố tự nhiên của loài Lùng với diện tích lớn và có sự phát triển tƣơng đối ổn định. Việc đánh giá đặc điểm phân bố, cấu trúc rừng tại khu vực này chƣa thể hiện đƣợc hết đƣợc đặc tính của loài phục vụ cho việc phái triển loài tại khu vực. Do vậy tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố, cấu trúc và mật độ rừng Lùng (Bambusa longissima Nov) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La”. Với mong muốn thu thập đƣợc một số thông tin của loài Lùng làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển bền vũng tài nguyên Lùng tại địa phƣơng.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) rất có giá trị. Có tới hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên này.
Tre thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có trên 14 triệu ha rừng tre nứa phân bố từ 510 vĩ Bắc đến 470 vĩ Nam. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Nƣớc nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre.
Nƣớc nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nƣớc Ấn Độ, các nƣớc Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Ngọc Mão và nhóm tác giả, 2006). Nƣớc nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre. Nƣớc nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nƣớc Ấn Độ, các nƣớc Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Ngọc Mão và nhóm tác giả, 2006). Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về tre trúc như sau: Năm 1868 nghiên cứu của các tác giả Munro với tựa đề “Nghiên cứu về Bambusaceae” sau đó tác giả Gamble viết về “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” năm 1896.
Trong đó tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố Ấn độ và một số phân bố ở Myanma, Malaysia, Indonesia, Srilanca, Pakistan. Tổ chức PAO (1992), (2007) đã đƣa ra danh lục 192 loài cũng nhƣ đặc điểm phân bố theo đai cao của một số loài tre trúc thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dƣơng.Z (1988), (1996) đã nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Đông 3 Nam Á.A Widjaja (1995) khi giới thiệu về tài liệu tre trúc của Đông Nam Á đã đề cập tới thông tin về tên khoa học, tên địa phƣơng, phân bố địa lý của loài, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái của một số loài.Tewari đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc phân bố châu Á, tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện. Độ cao phân bố từ sát mặt biển lên cao trên 4000m. Tác giả xây dựng đƣợc vùng phân bố chung cho tre nứa và bản đồ phân bố của một số chi tre trúc quan trọng của thế giới.
Nhìn vào bản đồ phân bố này ta có thể thấy đƣợc trung tâm phân bố của tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới thuộc Châu Á trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaisya, Trung Phi, Nam Mỹ, và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ. Về phân loại tre trúc là các loài thuộc họ Hòa thảo ( Poaceae) tre trúc có số lƣợng loài lớn nhất trong họ này, trên thế giới có khoảng 1250 loài thuộc 75 chi. Ở Châu Á có số lƣợng loài phong phú nhất với khoảng 900 loài thuộc 65 chi. Ở Châu Á thì Trung Quốc có số lƣợng loài lớn nhất với 500 loài và 39 chi, thứ 2 là Indonesia với 135 loài thuộc 21 chi và thứ 3 là Ấn Độ với 130 loài thuộc 18 chi.
Theo Dransfield đó là chi Bambusa có nhiều loài nhất với 37 loài, sau đó đến chi Schizostachyum khoảng 30 loài và chi Dendrocalamus có khoảng 29 loài. Nghiên cứu về phân loại và phân bố của loài Lùng (Bambusa longissima Nov) Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều những nghiên cứu về sự phân bố cũng nhƣ những đặc điểm sinh trƣởng của nhiều loài cây trong nhiều phân họ khác nhau đƣợc thế giới biết đến nhƣ một số loài tre trúc trong họ hòa thảo, các loài cây trong nhóm lấy măng, đã có nhiều nghiên cứu kỹ lƣỡng và đạt đƣợc nhiều kết quả cao. Tuy nhiên đến nay trên thế giới hầu nhƣ có rất ít những công trình nghiên cứu nào nói về cây Lùng (Bambusa longissima Nov), thuộc chi (Bambusa). Phân loại và phân bố các loài tre nứa ở Việt Nam Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài tre trúc thuộc 26 chi đƣợc các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam đã phần nào đánh giá đƣợc tính đa dạng về thành phần loài tre trúc ở nƣớc ta.
Tuy nhiên mới chỉ có 80 loài đƣợc định danh, còn lại là các loài chƣa có tên. Theo QĐ 1116/QĐ/BNN-KL, đến hết ngày 31/12/2004 tổng diện tích rừng tre nứa tự nhiên thuần loài là 799,130ha, diện tích rừng tre trúc tự nhiên pha gỗ là 682,642ha và diện tích tre trúc trồng là 81,484ha (chủ yếu là Luồng). Trong nhiều năm trở lại đây, rất nhiều chi mới loài mới đƣợc các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và bổ sung vào danh lục tre nứa của nƣớc nhà. Công trình nghiên cứu đâu tiên về tre nứa ở Việt Nam là Camus and Camus (1923) đã thống kê có 73 loài tre nứa của Việt Nam.
Năm 1978 Phạm Văn Dũng công bố Việt Nam có khoảng 50 loài. Năm 1999 Phạm Ngọc Hộ đã thống kê đƣợc 123 loài, số lƣợng loài tre trúc của Việt Nam tăng lên đáng kể. Không dừng lại ở đó vào giai đoạn 2001 -2003, Nguyễn Tứ Ƣởng, Lê Viết Lâm (Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) cùng với GS. Xia Nianhe, chuyên gia phân loại tre (chi Bambusa) của Viện thực vật Quảng Châu, Trung Quốc đã xác định ở Việt Nam có 113 loài của 22 chi, kiểm tra và cập nhập 11 tên khoa học mới, đặc biệt đƣa ra 6 chi và 22 loài tre lần đầu đƣợc định tên khoa học ở Việt Nam cho hệ thực vật Việt Nam, đƣa ra 22 loài cần đƣợc xem xét để xác nhận loài mới.
TS Nguyễn Hoàng Nghĩa cùng 2 chuyên gia phân loại tre Trung Quốc là GS. Li Dezhu, Phó Viện trƣởng Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam ( chuyên gia chi Dendrocalamus) và GS. Xia Nianhe, chuyên gia phân loại tre (chi Bambusa) tiếp tục cộng tác nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tre trúc nƣớc ta tiếp tục nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện có của Việt Nam ban đầu đã đƣa ra danh sách gồm 194 loài 5 của 26 chi tre trúc của Việt Nam, phần lớn trong số đó là chƣa có tên. Một số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chƣa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chƣa định tên, chi Le (Gigantochloa) với 16 loài thì có 14 loài chƣa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài thì 8 loài chƣa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài chƣa có tên.