Đặt vấn đề Chuối là tên của một loại cây ăn quả thuộc chi Musa, có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc. Các bộ phận của chuối được mọi người sử dụng rất nhiều, đặc biệt là quả. Quả của nó đóng một vai trò quan trọng trong chế độ ăn uống hàng ngày của con người bằng cách cung cấp các yếu tố tăng trưởng cần thiết như vitamin và các khoáng chất thiết yếu, giúp duy trì cuộc sống khỏe mạnh. Vì chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao nên chuối đem lại cho người dùng rất nhiều lợi ích như: giải độc cơ thể, tăng cường thị lực, giúp tăng lượng máu trong cơ thể, giảm huyết áp, chống lại ung thư.
Vì vậy mà nó được rất nhiều người ưa chuộng. Ở Việt Nam, cây chuối đã trở thành một trong những cây xóa đói giảm nghèo, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Với tổng diện tích chuối đạt trên 200.000 ha, chiếm 19% tổng diện tích cây ăn trái. Bên cạnh việc có khí hậu nhiệt đới nên Việt Nam rất thuận lợi cho việc trồng và phát triển nhiều giống chuối khác nhau.
Hiện nay, thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đối với quả chuối tươi và các sản phẩm chế biến ngày càng mở rộng và chuối được xem là mặt hàng xuất khẩu tiềm năng. Trong đất tồn tại nhiều nhóm sinh vật khác nhau như: động vật, thực vật và vi sinh vật. Các nhóm sinh vật này sống trong đất và tương tác qua lại lẫn nhau trong các mối quan hệ: cộng sinh, ký sinh, đối kháng. Cộng sinh là hiện tưởng hai loài hợp tác, hỗ trợ nhau cùng phát triển, trong đó điển hình là mối quan hệ cộng sinh giữa nấm rễ và rễ cây.
Nấm cộng sinh điều phối chất dinh dưỡng cho cây, thúc đẩy sự đồng hóa phosphate cũng như các ion khác như kẽm, đồng, nitơ, bảo vệ cây khỏi các nấm gây bệnh khác và tuyến trùng, làm tăng chất lượng đất và giúp cây chủ chống chịu sự tác động của các kim loại (Gonzalez-Chavez & cs. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nấm cộng sinh trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp. 1 Xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, tôi thực hiện đề tài: “Phân lập và nghiên cứu đặc điểm của một số chủng nấm cộng sinh rễ cây chuối”. Mục đích, ý nghĩa của đề tài 1.
Mục đích Nghiên cứu đặc điểm của một số chủng nấm cộng sinh rễ cây chuối, tuyển chọn ra các chủng tiềm năng có khả năng phân giải phosphate khó tan, kali khó tan để làm cơ sở nghiên cứu chế phẩm sinh học giúp cây sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng và góp phần phát triển một nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường. Ý nghĩa Cung cấp thông tin về các chủng nấm cộng sinh tiềm năng có khả năng sinh tổng hợp các chất kích thích sinh trưởng cây trồng, là tiền đề cung cấp nguyên liệu giống cho sản xuất các loại chế phẩm sinh học. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về chuối 2.
Nguồn gốc, vị trí cây chuối Chuối là tên gọi cho các loài cây thuộc chi Musa, họ Musaceae, là một loại cây ăn quả hàng đầu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới (Al-Harthi & Al-Yahyai, 2009). Thân chính nằm dưới đất còn gọi là thân ngầm, từ thân ngầm mọc ra các nhánh được gọi là chồi. Bẹ lá được hình thành, quyện chặt với nhau tạo nên thân giả. Chuối thuộc cây sinh sản vô tính.
Hoa chuối lưỡng tính, đầu hoa thường ra một hoa đực riêng, không sinh sản, còn được gọi là bắp chuối. Các hoa cái ở trên hoa đực và không cần được thụ phấn vẫn tạo được quả chuối. Hoa chuối xuất hiện trên thân giả giữa bẹ và cuống lá. Mỗi thân giả chỉ mang một buồng chuối, vòng đời của nó kết thúc khi thu hoạch buồng.
Chuối chứa nhiều chất đường bột, đạm, xơ, sinh tố và khoáng chất, đặc biệt có hàm lượng kali rất cao và 10 loại acid amin thiết yếu. Cây chuối (Nguồn: Internet) 3 Ở Việt Nam, chuối là loại cây được trồng phổ biến khắp đất nước từ Bắc vào Nam. Đây là loại trái cây cho thu hoạch quanh năm, và đã trở thành sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của ngành rau quả nước ta. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: "Đối với mặt hàng chuối, giá trị xuất khẩu chuối trong 3 quý đầu năm 2022 đạt gần 390 triệu USD, tăng gần 63% so với cùng ký 2021.
Với kết quả này, xuất khẩu chuối đã vượt qua xoài để thành loại trái cây có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai, chỉ sau trái thanh long. Diện tích và sản lượng chuối ở Việt Nam 2017 2018 2019 2020 2021 Diện tích trồng (nghìn ha) 140 145,7 150 152,8 154,2 Diện tích cho sản phẩm 125,4 129,2 133,6 136,6 138,3 (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) 2041,5 2095,6 2194,2 2267,5 2346,9 Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2021 Chuối của Việt Nam rất đa dạng về chủng loại với nhiều giống chuối chất lượng như: chuối tiêu, chuối tây, chuối ngự. được trồng rải rác khắp các tỉnh thành cả nước. Một số giống chuối nổi tiếng ở Việt Nam là: chuối tiêu hồng Khoái Châu, Hưng Yên; Chuối Laba Đà Lạt, Lâm Đồng; Chuối già hương, Đồng Nai.
Vai trò, ứng dụng của chuối trong đời sống Tất cả các bộ phận trên cây chuối đều có giá trị sử dụng. Sản phẩm chính của cây chuối là quả chuối, chuối còn giàu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là kali, vitamin B6 và vitamin C. Do quả chuối có giá trị dinh dưỡng như vậy nên từ lâu người ta đã sử dụng chuối như một nguồn thực phẩm quan trọng. Trong công nghiệp, một trong những nguyên liệu được dùng trong công nghiệp ép dầu phải kể đến chuối.
Dầu chuối làm nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm như làm bánh kẹo, sữa hộp. Không dừng lại ở đấy, vỏ chuối còn được xử lý tạo nhựa sinh học nhằm góp phần xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp (Nguyễn 4 Thị Trúc Mai & cs., 2015) hay sử dụng xơ chuối để sản xuất giấy gói (Ramdhonee & Jeetah, 2017). Trong nông nghiệp, chuối là loại cây phát triển lâu năm, nên rễ chuối phát triển mạnh, ăn sâu, phá vỡ lớp đất chai cứng, đưa nước và dinh dưỡng xuống tầng đất sâu hơn. Khi cây mẹ chết đi, thì hệ rễ trong đất sẽ phân hủy, trả lại một lượng hữu cơ cho đất, tạo môi trường cho sinh vật, vi sinh vật đất phát triển.
Tại Việt Nam, chuối vị ngọt, tính lạnh. Có công dụng tốt trong việc dùng cho người bị táo bón, sốt nóng khát nước, mụn nhọt, trĩ xuất huyết, tăng huyết áp, tác dụng an thai. Ngoài ra quả chuối như là một loại thuốc tiêu hóa tuyệt vời, hỗ trợ nhu động ruột và chứa chất xơ tốt cho đường ruột, làm giảm táo bón, loét dạ dày, đồng thời chuối còn chứa nhiều chất chống oxy hóa, chống lão hóa. Hoa chuối cũng chứa rất nhiều vitamin, axit amin thiết yếu giúp tăng cường trao đổi chất, tăng cường sức khỏe sinh sản.
Cung với hàm lượng chất xơ cao, thân chuối giúp làm chậm quá trình giải phóng đường và chất béo dự trữ trong cơ thể. Có thể làm nước ép thân chuối để loại độc tố khỏi cơ thể, giúp lợi tiểu, làm sạch cơ thể. Đồng thời quả chuối giàu vitamin C và vitamin B6 giúp cơ thể hấp thụ sắt tốt hơn, tăng cường huyết sắc tố, cải thiện sức khỏe của tim mạch. Tổng quan về nghiên cứu nấm cộng sinh rễ cây trồng trên thế giới và ở Việt Nam 2.
Giới thiệu về nấm cộng sinh Nấm rễ - Mycorrhiza là nấm cộng sinh với rễ cây. Thuật ngữ này được Frank sử dụng đầu tiên năm 1885 khi phát hiện mối liên hệ giữa sợi nấm và rễ cây thông cũng như đối với một số cây lá rộng khác. Bắt nguồn từ chữ Hy Lạp “Mykes” có nghĩa là nấm và “Rhiza” có nghĩa là rễ, tạo thành Mycorrhiza (nấm rễ) (Hall & Abbott, 1984. Nấm nội sinh ở rễ cây nên được gọi là nấm rễ, cây mang nấm được gọi là rễ - nấm.
Nấm rễ là một trong những loại nấm phân bố nhiều nhất trên toàn cầu, hình thành mối liên kết cộng sinh với hơn 80% các loài thực vật trên cạn (Behrooz & 5 cs. Mối quan hệ cộng sinh được hình thành giữa thực vật và nấm có lợi cho sự phát triển của thực vật, khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, chất lượng đất và khả năng chống chịu áp lực (Bi & cs. Trong mối quan hệ đó, thường có quan hệ cộng sinh là cả hai loài cùng sống chung và cùng tồn tại. Sự cộng sinh giữa nấm và rễ cây mang lại lợi ích cho cả hai bên, nấm sẽ nhận được từ cơ thể thực vật các chất dinh dưỡng còn thực vật nhận được từ nấm các chất dinh dưỡng khác và nước.
Không phải tất cả các loài trong khu hệ nấm trong đất đều cộng sinh với tất cả nấm trong các loại nấm của rễ cây mà có loài trong khu hệ nấm ở rễ sẽ cộng sinh được với cây này nhưng loại này chưa chắc đã cộng sinh với các loài cây khác. Phân loại nấm cộng sinh trong rễ Dựa vào đặc điểm hình thái, nấm cộng sinh trong rễ thành 3 loại: nấm rễ nội ngoại cộng sinh, nẫm rễ ngoại cộng sinh và nấm rễ nội cộng sinh (Gerdemann Jw & Nicolson, 1963). Nấm ngoại cộng sinh (Ectomycorrhiza) Nấm rễ ngoại cộng sinh là nấm có sợi nấm bao quanh rễ dinh dưỡng chưa hóa gỗ, không xuyên qua các tế bào mô rễ mà chỉ kéo dài giữa các tế bào. Đặc trưng cơ bản của chúng là: Trên bề mặt rễ dinh dưỡng hình thành một màng nấm (mantle) do các sợi nấm đan chéo nhau.
Giữa các tế bào tầng vỏ rễ hình thành một mạng lưới do thể sợi nấm sinh trưởng mà thành. Do tác dụng của nấm rễ, bộ rễ ngắn, to, giòn và có màu sắc khác nhau, tán rễ và biểu bì không có lông hút, bề mặt màng có nhiều sợi nấm kéo dài ra. Nấm rễ ngoại cộng sinh có hình dạng và màu sắc nhất định rất dễ nhận biết bằng mắt thường. Tính đa dạng của chúng được biểu hiện rất khác nhau ở mỗi cây chủ và nấm rễ khác nhau.
Nấm nội cộng sinh (Endomycorrhiza) Nấm rễ nội cộng sinh là nấm với thể sợi nấm xuyên qua các tế bào rễ. Đặc trưng của nấm nội cộng sinh như: Không hình thành màng ở bề mặt rễ mà chỉ có các sợi nấm lưa thưa. Tuy nhiên, thể sợi nấm kéo dài giữa các khoảng gian bào, nhưng không hình thành mạng lưới Hartig. Sợi nấm xuyên qua vách tế bào vào trong tạo thành vòi hút.