Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về ung thư đại - trực tràng 1. Dịch tễ học ung thư đại - trực tràng Ung thư đại - trực tràng (UTĐTT) không chỉ là khối u ác tính phổ biến trong hệ thống tiêu hóa, mà còn là nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến ung thư trên toàn thế giới.118 trường hợp chẩn đoán mới mắc bệnh ung thư và có 616.714 ca tử vong, trong đó UTĐTT đứng vị trí thứ 4 ở cả 2 giới với 155.098 trường hợp mới mắc chiếm 7,3% [44]. Tỉ lệ mắc ung thư đại - trực tràng cao nhất ở Úc và New Zealand [46].
Với sự gia tăng nhanh chóng, tỉ lệ mắc và tử vong toàn cầu của UTĐTT được dự đoán sẽ trải qua mức tăng 60% hơn 2,2 triệu trường hợp mới và 1,1 triệu tử vong vào năm 2030 [16]. Tại Việt Nam năm 2018, 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là gan, phổi, dạ dày, đại - trực tràng và vòm họng; trong khi đó ở nữ giới: ung thư vú, đại - trực tràng, phổi, dạ dày và gan những bệnh phổ biến [45]. Dự đoán tỉ lệ mắc của 5 loại ung thư phổ biến hàng đầu ở TP.HCM và Hà Nội đến năm 2025 không phân biệt giới tính, số trường hợp (tỉ lệ%) lần lượt: ung thư phổi 8.509 (23,4), đại - trực tràng 6.971 (8,2) và ung thư gan 2. Cơ chế phân tử trong bệnh sinh ung thư đại - trực tràng UTĐTT mang đặc điểm đa dạng, không đồng nhất ở mức độ phân tử, thể hiện qua các con đường sinh ung khác nhau, có thể vừa riêng lẻ nhưng cũng có khi phối hợp các con đường sinh ung với nhau, để gây ra một cá thể bệnh lý riêng biệt.
Từ một biểu mô bình thường trở thành ung thư, có ít nhất ba con đường khác nhau trong bệnh sinh UTĐTT: bất ổn định nhiễm sắc thể, bất ổn định vi vệ tinh, methyl hóa đảo CpG [65], [75]. Bất ổn định nhiễm sắc thể Năm 1990, Fearon và Vogelstein đã đưa ra một lộ trình sinh UTĐTT với các sự kiện phân tử then chốt, diễn biến thành một chuỗi qua nhiều giai đoạn gây biến đổi từ một niêm mạc bình thường thành tổn thương u tuyến và cuối cùng là ung thư. Tuy nhiên, cơ chế phân tử trong bệnh sinh của ung thư đại - trực tràng thì lộ trình này chưa giải thích hết được và sự bắt đầu của nó có liên quan đến gen ức chế khối u là APC, tiếp theo là kích hoạt đột biến KRAS và các biến đổi ác tính sau đó bị thúc đẩy bởi các đột biến bổ sung trong các con đường TGF-, PIK3CA và TP53. Con đường này dự đoán có ít nhất 7 đột biến riêng biệt thì mới hình thành ung thư [65].
Con đường bất ổn định nhiễm sắc thể (CIN), cũng được coi là con đường cổ điển vì nó là nguyên nhân đại diện cho 80% đến 85% của tất cả các trường hợp UTĐTT [37], được đặc trưng bởi sự mất cân bằng về số lượng nhiễm sắc thể, phá hủy phản ứng ADN, tác động đến các gen quan trọng liên quan đến việc duy trì chức năng tế bào như: APC, KRAS, PI3K và TP53 [60]. KRAS và PI3K bị đột biến dẫn đến sự kích hoạt liên tục của MAP kinase, do đó làm tăng sự tăng sinh tế bào [60]. TP53 mã hóa cho protein gọi là p53, nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể 17 (17p13.1) có vai trò rất quan trọng trong điều hòa chu kỳ tế bào để duy trì sự ổn định của bộ gen. Khi có tổn thương ở ADN, p53 làm ngừng chu kỳ tế bào ở pha G1, trước pha S cho đến khi ADN bị tổn thương được sửa chữa, nếu không còn khả năng sửa chữa ADN thì p53 có thể làm cho tế bào chết theo chương 5 trình (apoptosis) và bị loại khỏi cơ thể nhờ vào hiện tượng thực bào.
Những đột biến mất chức năng gen p53, sẽ dần dẫn đến ung thư và là dấu hiệu cảnh báo chuyển đổi từ tiền xâm lấn sang xâm lấn. Đột biến p53 được tìm thấy ở u tuyến (5%), polyp ác tính (50%) và UTĐTT xâm lấn (75%) [67]. Bất ổn định vi vệ tinh Bổ sung cho lộ trình bất ổn định nhiễm sắc thể của Fearon và Vogelstein, một kiểu hình khác riêng biệt của UTBM tuyến đại - trực tràng đã được khám phá, đó là tình trạng bất ổn định vi vệ tinh MSI [72]. Vi vệ tinh cũng được gọi là lặp lại các cặp ngắn, sự lặp đi lặp lại xảy ra trong toàn bộ bộ gen, có thể có một hoặc nhiều nucleotide được lặp lại.
Chiều dài chuỗi nucleotide lặp lại này dao động từ 1-4 nucleoted, các cấu trúc lặp đi lặp lại này, dễ bị lỗi trong quá trình sao chép đối với các trường hợp khiếm khuyết hệ thống MMR (dMMR), sự tích lũy các lỗi trong chuỗi vi vệ tinh còn gọi là bất ổn định vi vệ tinh (MSI) [32]. Trong tế bào có chứa các gen sửa lỗi bắt cặp sai bị đột biến, nên không thể nhận ra các lỗi bắt cặp sai trong quá trình nhân đôi hoặc tái tổ hợp ADN, dẫn đến các lỗi này được lặp lại và được sao chép liên tục từ nhiều lần đến hàng trăm lần giữa các cặp base: A với C, G với T (bình thường A của mạch này liên kết với T của mạch kia bằng hai liên kết hidrô và ngược lại; G của mạch này liên kết với C của mạch kia bằng ba liên kết hidrô và ngược lại). Chức năng hệ thống sửa lỗi bắt cặp sai bị rối loạn có thể do hai cơ chế: (1) cơ chế đột biến dòng mầm các gen sửa lỗi bắt cặp sai như trong hội chứng Lynch (HNPCC), còn được gọi là ung thư đại - trực tràng di truyền không đa polyp hoặc (2) cơ chế biểu sinh gây bất hoạt một gen sửa lỗi bắt cặp sai nào đó, phổ biến nhất là gen MLH1 [21], [41]. Gen MLH1 và MSH2 là hai gen bị ảnh hưởng thường xuyên nhất trong hội chứng Lynch [15], đột biến dòng mầm của gen MLH1 hoặc MSH2 gây ung thư đại - trực tràng có tình trạng bất 6 ổn định vi vệ tinh mức độ cao (MSI-H), còn với đột biến gen MSH6 gặp trong tình trạng bất ổn định vi vệ tinh mức độ thấp (MSI-L) [64].
Hội chứng Lynch chiếm khoảng 3% trong tổng số các trường hợp có liên quan MSI [22], [26]. Methyl hóa đảo CpG (ND-đảo CpG) Là những vùng thuộc bộ gen mà có chứa một tần suất cao các vị trí CpG. Methyl hóa ADN có thể xảy ra tại base cytosine tại vị trí cặp đôi nucleotide cytosine (C) và guanine (G) trên 1 chuỗi đơn, nucleotid C và G được liên kết bởi 1 gốc phosphat. Với con đường methyl hóa đảo CpG sự methyl hóa mức độ cao di truyền học biểu sinh của ADN xảy ra, dẫn đến việc ức chế sự biểu lộ gen bằng cách methyl hóa các chất hoạt hóa.
Trong UTĐTT thường xảy ra đồng thời hai dạng methyl hóa: (1) giảm methyl hóa khắp bộ gen (phần lớn là ở các trình tự ADN lặp lại) và (2) tăng methyl hóa vùng promoter của các gen chiến lược [18]. Chẩn đoán ung thư đại - trực tràng 1. Lâm sàng Biểu hiện thường gặp nhất của những u ở đại tràng phải là đau bụng (20,9%), khó chịu ở vùng bụng (16,4%), chán ăn hay thiếu máu (6,96%), đôi khi sút cân (18,3%). Những tổn thương ở đại tràng bên trái thường là rối loạn thay đổi thói quen đi cầu (13,9%), triệu chứng tắc ruột (13,92%), chảy máu thường gặp khi khối u ở trực tràng (55,06%) [69].
Cận lâm sàng Công thức máu: thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc do tình trạng chảy máu rỉ rả. Chức năng gan bị ảnh hưởng khi bệnh ở giai đoạn muộn, bệnh di căn gan nhiều ổ. Xét nghiệm khác: CEA, CA 19-9, … CEA (Carcinoembryonic Antigen) là xét nghiệm thường được dùng trong UTĐTT. Tuy nhiên CEA có tính đặc hiệu tương đối và có độ nhạy không cao, đặc biệt là các trường hợp giai đoạn sớm.
Khi UTĐTT giai đoạn I 7 chỉ có 4% bệnh nhân (BN) mắc bệnh có CEA tăng cao (>5 ng/mL), trong khi 25%, 44% và 65% BN tương ứng với giai đoạn II, III và IV [33]. Vì vậy CEA không được dùng để tằm soát hoặc chẩn đoán. Sau phẫu thuật triệt để, nồng độ CEA thường trở về bình thường sau 4-6 tuần. Đây là một dấu hiệu có giá trị theo dõi tình trạng tái phát của bệnh.
Nội soi kèm sinh thiết là xét nghiệm bắt buộc phải thực hiện. Trong trường hợp không thể nội soi đánh giá toàn bộ khung đại tràng do tắc, nguy cơ thủng ruột thì phải thực hiện lại sau khi phẫu thuật cắt đoạn đại tràng nhằm tránh bỏ sót một ung thư nguyên phát thứ hai. X quang đại tràng cản quang hoặc đối quang kép cho một cách nhìn tổng thể toàn bộ khung đại tràng, cũng như phát hiện những trường hợp dò từ u qua đoạn đại tràng hoặc ruột non khác. Siêu âm bụng, X quang phổi, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp cộng hưởng từ (MRI), nhằm hổ trợ đánh giá tình trạng lan tràn của ung thư [52].
Chẩn đoán giai đoạn UTĐTT Giai đoạn thật sự của bệnh chỉ được đánh giá chính xác bằng thăm khám các tạng trong khi mổ và sau khi xét nghiệm giải phẫu bệnh. Hệ thống phân loại TNM được Denoix, P., đề xuất vào những năm 1940 và 1950, phân chia giai đoạn ung thư dựa trên 3 yếu tố: khối u (Tumor), hạch (Node), và di căn (Metastasis). Hiện nay phân loại TNM giải phẫu bệnh ung thư biểu mô đại - trực tràng theo phiên bản thứ 8 của AJCC [13], [48]. Khối u nguyên phát TX: Không thể đánh giá khối u nguyên phát T0: Không có bằng chứng về khối u nguyên phát Tis: Ung thư tại chỗ T1: Khối u xâm lấn lớp dưới niêm mạc T2: Khối u xâm lấn lớp cơ 8 T3: Khối u xâm lấn quá lớp cơ vào lớp dưới thanh mạc hoặc đến vùng mô quanh đại tràng không được phủ phúc mạc.
T4: Khối u xâm lấn qua thanh mạc vào cơ quan hoặc cấu trúc kế cận và/thủng vào phúc mạc tạng. T4a: U xâm lấn qua thanh mạc và thủng vào phúc mạc tạng T4b: U xâm lấn cơ quan kế cận Hạch vùng Nx: Không thể đánh giá được di căn hạch vùng N0: Không có di căn hạch vùng N1: Di căn 1-3 hạch vùng N1a: Di căn 1 hạch N1b: Di căn 2-3 hạch N1c: Nốt tổn thương dưới thanh mạc hoặc mạc treo hoặc vùng đại - trực tràng không được phúc mạc che phủ và không có di căn hạch vùng.