ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý xẹp thân đốt sống (XTĐS) hay gặp do nhiều nguyên nhân. Hay gặp nhất là do tình trạng lo ng xƣơng ng y tăng, thân đốt sống mất độ vững chắc, yếu dần, khô và bị nén xẹp lại, làm gãy các bè sụn, thân đốt sống giảm dần độ cao, lâu dần có thể bị nứt hoặc vỡ do mất nƣớc, độ bền vững giảm dần. khiến cột sống bị biến dạng. Biến dạng thân đốt sống l một đặc trƣng, đƣợc xác định dựa trên hình ảnh chụp X quang v đƣợc phân loại dựa vào hình thái xẹp.
Xẹp thân đốt sống do lo ng xƣơng thƣờng gặp ở các đốt sống ngực, thắt lƣng [1]. Ngoài ra XTĐS còn do các nguyên nhân khác nhƣ do chấn thƣơng, do các bệnh lý tại thân đốt sống (u máu, nang xƣơng) hoặc do di căn ung thƣ… Bệnh lý XTĐS tiến triển dần dần, mức độ đau ng y c ng tăng lên, có thể thấy biến dạng cong vẹo, gù và các biến chứng thần kinh. Năm 2008, điều tra dịch tễ của Tromso trên 2.887 trƣờng hợp nam và nữ từ 38-87 tuổi cho thấy tỷ lệ ở nam và nữ lần lƣợt lên đến 13,8% và 11,8% [2]. Để chẩn đoán XTĐS, ngƣời bệnh cần đƣợc thăm khám sức khỏe định kỳ, theo dõi diến biến lâm s ng để đánh giá mức độ tiến triển của bệnh nhƣ tình trạng đau, mức độ biến dạng cột sống.
Chụp X-quang, cộng hƣởng từ hạt nhân, đo các góc biến dạng và mật độ xƣơng l những phƣơng pháp cần thiết có giá trị để chẩn đoán v tiên lƣợng. Thời kỳ đầu của bệnh có thể điều trị bằng tập vật lý phục hồi, thay đổi chế độ lao động và sinh hoạt, mang nẹp chỉnh hình, bổ sung các thuốc giảm đau chống viêm, chống lo ng xƣơng… Khi tình trạng thoái hóa thân đốt sống đ ở mức độ nặng, không đáp ứng với các thuốc thì phải phẫu thuật để làm vững cột sống. Một trong những kỹ thuật đƣợc ứng dụng phổ biến hiện nay để điều trị xẹp thân đốt sống là bơm xi măng xƣơng qua da v o thân đốt sống bị xẹp. lần đầu tiên báo cáo kết quả ứng dụng bơm xi măng điều trị u máu ở thân đốt sống ngực [3].
Tiếp theo đó, nhiều tác giả khác nhƣ Jensen M. Các tác giả đều nhận xét rằng đây l kỹ thuật ít xâm lấn, an toàn, giảm đau hiệu quả ngay sau khi bơm v cảỉ thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời bệnh nhanh chóng hơn so với điều trị bảo tồn…Mặc dầu vậy, các tác giả cũng khuyến cáo về một số biến cố, biến chứng có thể gặp nhƣ tr n xi măng ra ngo i đốt sống, xẹp thân đốt sống thứ phát ở các đốt kế cận… Ở Việt Nam, một số tác giả nhƣ Nguyễn Văn Thạch (năm 2010), Trịnh Văn Cƣờng (2017), Phạm Minh Thông (2008), Đỗ Mạnh Hùng (2018), Hà Văn Lĩnh (2021), Đo n Anh Tuấn (2022), Trịnh Bá Thắng (2021) và Hoàng Gia Du (2022) đ có những báo cáo kết quả ứng dụng kỹ thuật bơm xi măng v o điều trị lo ng xƣơng v 1 số bệnh lý khác [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]. Tuy nhiên, những nghiên cứu ban đầu này chỉ đơn thuần là chuyển giao ứng dụng kỹ thuật mới, cỡ mẫu nghiên cứu còn khiêm tốn, thời gian theo dõi chƣa d i nên kết quả thu đƣợc chƣa cho thấy một số vấn đề quan trọng cần lƣu ý. Bệnh viện đa khoa Đức Giang đ triển khai kỹ thuật bơm xi măng có bóng v không bóng trong điều trị xẹp đốt sống do loãng xƣơng từ 10/2012 nhƣng chƣa có những báo cáo phân tích kỹ lƣỡng về mối liên quan giữa các yếu tố nhƣ mật độ xƣơng, đặc điểm tổn thƣơng trên X-quang, MRI.
Hiệu quả điều trị giữa hai nhóm có bóng và không bóng, những biến cố, biến chứng có thể xảy ra. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm mật độ xƣơng, X-quang, cộng hƣởng từ của xẹp thân đốt sống và kết quả bơm xi măng điều trị xẹp thân đốt sống" đƣợc thực hiện với hai mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm mật độ xương, hình ảnh X-quang và cộng hưởng từ của xẹp thân đốt sống. Đánh giá kết quả bơm xi măng điều trị xẹp thân đốt sống do loãng xương tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu cột sống và ứng dụng 1. Sơ lược về giải phẫu cột sống Cột sống đƣợc liên kết bởi các đốt sống cổ, đốt sống ngực, thắt lƣng v các đốt cùng cụt. Các đốt sống tiếp nối với nhau từ hộp sọ đến khung chậu, tạo th nh cột trụ cong hình chữ S làm giá đỡ cho toàn bộ cơ thể.
Cột sống bảo vệ tủy sống nằm trong ống sống. Mỗi đốt sống bao gồm ba phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, các mỏm đốt sống và một lỗ đốt sống. Thân đốt sống hình trụ dẹt, có hai mặt gian đốt sống, một vành chung quanh, ở phía sau có nhiều lỗ cho mạch máu v o nuôi xƣơng [16]. Đốt sống ngực *Nguồn: Frank H.
N (2016) [17] Thân đốt sống là phần lớn nhất nằm ở phía trƣớc với kích thƣớc thay đổi tùy từng phân đoạn. Các thân nhỏ nhất ở vùng cổ và lớn dần về phía vùng thắt lƣng. Thân đốt sống có cấu tạo, đảm nhận chức năng chịu trọng lực của 4 cơ thể. Bề mặt trên v dƣới của đốt sống phẳng, tác dụng hỗ trợ tải trọng theo chiều dọc, ngay cả khi không có sự can thiệp của các cấu trúc khác thì thân đốt sống có thể duy trì ổn định khi chịu tải trọng rất lớn.
Chịu lực của thân đốt sống đƣợc thể hiện ở cấu trúc bên trong do không phải là một khối xƣơng đặc mà là lớp vỏ xƣơng bao quanh khoang xốp đƣợc cấu tạo bởi các bè xƣơng sắp xếp thành trụ dọc và bè ngang. Cấu trúc này giúp hấp thụ và triệt tiêu lực tác động đột ngột lên đốt sống. Hình ảnh cắt đứng dọc của thân đốt sống *Nguồn: Bogduk N. (2005) [18] Các bè xƣơng sắp xếp theo chiều dọc v ngang, đốt sống còn đƣợc tăng cƣờng sức mạnh từ các bè xƣơng chạy xiên chéo theo hình nan quạt từ mỏm ngang, cung sau chạy qua cuống v o thân đốt sống.
Các bè xƣơng n y có tác dụng truyền lực từ các thành phần phía sau v o thân đốt sống v tăng khả năng chịu lực dồn ép theo chiều dọc đốt sống. Cấu trúc bè xƣơng của đốt sống * Nguồn: Bogduk N. (2005) [18] Phần thân đốt sống ngực khá dày, phía hai bên có bốn diện khớp để tiếp nối với đầu sau của xƣơng sƣờn nên vùng cột sống ngực khá ít di động. Các mỏm khớp đƣợc kết nối theo mặt phẳng ngang, hoạt động chính của cột sống đoạn ngực là theo chiều ngang nhƣ nghiêng thân mình, các động tác nhƣ gập duỗi, tịnh tiến, xoay khá hạn chế.
Nhóm đốt sống thắt lƣng có phần thân đốt to, mỏm khớp đƣợc theo chiều dọc cho phép các hoạt động gập duỗi. Vùng cột sống từ T10-L2 dễ bị tổn thƣơng nhất khi gặp chấn thƣơng. Đây là khu vực chuyển tiếp từ vùng cứng v ít di động (cột sống ngực) với vùng cột sống thắt lƣng khá linh hoạt [18]. 6 Kích thƣớc của thân v cuống sống tăng dần từ trên xuống dƣới, khi bơm xi măng qua cuống thƣờng dùng kim nhỏ (13G) cho các đốt sống ngực cao từ T10 trở lên, v kim 11G cho các đốt sống từ T10 trở xuống.
Các rễ thần kinh, mạch máu nằm sát bờ dƣới của cuống sống, do đó khi chọc kim thƣờng tránh l m tổn thƣơng bờ dƣới của cuống sống. Điểm chọc của kim ƣu tiên ở nửa trên của cuống sống. Bơm xi măng có bóng, phải dùng Troca có đƣờng kính lớn (khoảng 4.5mm) cho các đốt sống ngực cao, đƣờng v o ngo i cuống để tránh l m vỡ cuống sống. Cuống sống D12 có hƣớng đi thẳng từ trƣớc ra sau, c ng lên cao, cuống đốt sống ngực có xu hƣớng chếch ra ngo i.
Khi chọc kim không nên hƣớng mũi kim v o trung tâm dễ gây thủng cuống sống, chọc kim cả hai bên để xi măng trám đều trong thân đốt sống. Loãng xƣơng, bệnh lý xẹp thân đốt sống do loãng xƣơng Năm 1994, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đ đƣa ra định nghĩa thống nhất về lo ng xƣơng nhƣ sau: lo ng xƣơng l một bệnh lý của xƣơng với đặc điểm khối lƣợng xƣơng suy giảm, vi cấu trúc của xƣơng bị hƣ hỏng, dẫn đến tình trạng xƣơng bị yếu v hậu quả l tăng nguy cơ g y xƣơng [19]. Năm 2001, định nghĩa trên đƣợc chỉnh sửa th nh “tình trạng bệnh lý của hệ thống xƣơng với đặc điểm độ vững chắc của xƣơng bị suy giảm, gia tăng nguy cơ g y xƣơng. Độ vững chắc của xƣơng phản ánh sự kết hợp của mật độ chất khoáng v chất lƣợng xƣơng [19].
Chẩn đoán lo ng xƣơng theo tiêu chuẩn của WHO Bình thƣờng –Normal T-score ≥ -1 Thƣa xƣơng- Osteopenia -2,5 < T-score < -1 Lo ng xƣơng- Osteoporosis T-score ≤ -2,5 Lo ng xƣơng nặng –Severe osteoporosis T-score ≤ -2,5 v kèm theo g y xƣơng * Nguồn: theo WHO (2004) [19] 7 Lo ng xƣơng đặc trƣng tình trạng mất chất khoáng xƣơng từ từ, kín đáo, thay đổi dần cấu trúc xƣơng. G y xƣơng do lo ng xƣơng l một biến chứng, giảm chất lƣợng cuộc sống v nguy cơ gây tử vong. Trong những năm gần đây, một số mô hình tiên lƣợng giúp cho thầy thuốc v ngƣời bệnh có thể đánh giá nguy cơ g y xƣơng nhƣ mô hình của FRAX và Garvan. Cả hai mô hình này dựa trên mật độ xƣơng v các yếu tố nguy cơ nhƣ tiền sử g y xƣơng, độ tuổi, giới tính, tiền sử gia đình, trọng lƣợng cơ thể thấp, hút thuốc lá, sử dụng Corticoid để phân tích v đƣa ra yếu tố nguy cơ g y xƣơng trong vòng 5 năm, 10 năm.
Hai mô hình n y cho thấy hiệu quả tiên lƣợng g y xƣơng ở quần thể ngƣời da trắng, hiệu quả ở quần thể các nƣớc châu Á chƣa rõ r ng [20]. Theo Tổ chức lo ng xƣơng thế giới, với khoảng 100 triệu ngƣời mắc bệnh lo ng xƣơng thì có khoảng ba triệu ngƣời bị XTĐS. Có khoảng 25% ngƣời bệnh nữ trên 50 tuổi và 40% ở ngƣời bệnh nam từ 80-85 tuổi [19]. Ở những ngƣời bị lo ng xƣơng nặng, các hoạt động đơn giản h ng ng y nhƣ bƣớc ra khỏi bồn tắm, hắt hơi mạnh, nâng vật nhẹ cũng có thể gây XTĐS.
Lo ng xƣơng mức độ trung bình, g y XTĐS thƣờng do ngã hoặc cố gắng nâng vật nặng. Lo ng xƣơng tiến triển sẽ l m thay đổi độ vững chắc của xƣơng, mật độ xƣơng v chất lƣợng của xƣơng kém dần [19].