Tổng quan luận án

Phẫu thuật ghép thận là phương pháp điều trị thay thế thận tối ưu cho bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối. So với phương pháp lọc máu chu kỳ, ghép thận giúp người bệnh không bị phụ thuộc vào máy lọc máu tại bệnh viện, cải thiện chất lượng cuộc sống, phục hồi cả chức năng nội tiết và ngoại tiết của thận, đồng thời tiết kiệm chi phí điều trị trong dài hạn. Trên thế giới, mỗi năm có trên 100.000 trường hợp ghép tạng, trong đó ghép thận chiếm gần 70% với tỷ lệ sống thêm sau 1 năm và 5 năm đạt từ 85% đến 90%. Tại Việt Nam, kể từ ca ghép thận đầu tiên được thực hiện thành công vào tháng 6 năm 1992 tại Bệnh viện Quân y 103, kỹ thuật ghép thận đã phát triển rộng rãi và trở thành phẫu thuật thường quy tại nhiều trung tâm y tế lớn.

Trong phẫu thuật ghép thận, kỹ thuật mạch máu giữ vai trò quyết định đối với sự thành bại của ca mổ và chức năng lâu dài của thận ghép. Chất lượng tạng ghép phụ thuộc trực tiếp vào đặc điểm giải phẫu mạch máu thận người cho, tình trạng mạch máu vùng chậu người nhận và kỹ thuật khâu nối miệng mạch. Ghép thận từ người cho sống cho phép phẫu thuật viên chủ động thăm dò, đánh giá giải phẫu mạch máu trước mổ qua chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT), từ đó lập kế hoạch xử trí các biến đổi mạch máu như thận nhiều động mạch, tĩnh mạch thận ngắn, hoặc xơ vữa mạch máu vùng chậu. Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Vũ Ngọc Thắng thực hiện đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm mạch máu và đánh giá kết quả kỹ thuật khâu nối mạch máu trong ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Quân y 103" nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Nghiên cứu một số đặc điểm mạch máu của thận ghép và mạch máu vùng chậu của người nhận trong phẫu thuật ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Quân y 103.
  2. Đánh giá kết quả kỹ thuật khâu nối mạch máu trong phẫu thuật ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Quân y 103.

Nghiên cứu được triển khai trên đối tượng các cặp người cho - người nhận thận sống tại Bệnh viện Quân y 103 thuộc Học viện Quân y, chuyên ngành Ngoại khoa (Mã số: 9720104), chuyên ngành Ngoại thận và tiết niệu.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống y văn quốc tế và trong nước về giải phẫu học mạch máu, kỹ thuật khâu nối và các biến chứng mạch máu sau ghép thận:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Lịch sử và dịch tễ học: Ca ghép thận thành công đầu tiên trên người diễn ra năm 1954 tại Boston (Hoa Kỳ) do Murray và Meril thực hiện. Hướng dẫn ghép thận của Hội Tiết niệu Châu Âu (EAU, 2018) chỉ ra tỷ lệ biến chứng huyết khối động mạch từ 0,5% đến 3,5%, huyết khối tĩnh mạch từ 0,5% đến 4%, và hẹp động mạch thận ghép từ 1% đến 25%.
  • Giải phẫu và phân loại mạch máu: Uflacker R. (1997) thống kê 12 kiểu cấp máu cho thận, ghi nhận tỷ lệ một động mạch thận đơn độc vào rốn thận chiếm 55,3%, các biến đổi phân nhánh và nhiều động mạch chiếm 44,7%. Adachi (1928) phân chia động mạch chậu trong thành 5 nhóm hình thái (Type I đến Type V) dựa trên nguyên ủy của các động mạch mông trên, mông dưới, thẹn trong và động mạch rốn.
  • Biến đổi giải phẫu và kỹ thuật khâu nối: Mazzucchi E. và cộng sự (2006) khảo sát 64 ca thận nhiều động mạch so với 292 ca một động mạch (tỷ lệ nhiều động mạch là 17,9%), áp dụng các kỹ thuật ghép đôi nòng súng (17,2%), cắm tận - bên động mạch phụ vào động mạch chính (9,4%), nối động mạch cực dưới với động mạch thượng vị (7,8%), hoặc thắt động mạch cực dưới 10% nhu mô (6,2%). Zivko P. và cộng sự (2020) nghiên cứu trên 250 ca ghép thận, xác định 16,4% có nhiều động mạch và khẳng định việc xử trí đúng kỹ thuật mang lại tỷ lệ sống tương đương thận đơn mạch.
  • Kỹ thuật xử trí tĩnh mạch thận ngắn: Jia-Yu F. và cộng sự (2012), Han D. (2014), Nghiem D. (2008) mô tả các kỹ thuật cuộn tròn và tạo hình xoắn ốc bằng tĩnh mạch hiển hoặc tĩnh mạch sinh dục giúp làm dài tĩnh mạch thận thêm từ 2,0 cm đến 4,5 cm (trung bình 2,5 ± 0,7 cm).
  • Biến chứng mạch máu: Ahmed S. (2009) nghiên cứu 1.785 ca ghép thận từ người cho sống, ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu chung là 2,9% (huyết khối động mạch 0,6%, co thắt động mạch 0,1%, hẹp động mạch 0,3%, huyết khối tĩnh mạch 0,06%, xuất huyết 1,8%). Mehmet H. và cộng sự (2016), Reyna-Sepúlveda F. (2011–2015) ghi nhận hẹp động mạch thận là biến chứng muộn phổ biến nhất (chiếm từ 1% đến 23%), ưu tiên điều trị can thiệp nội mạch qua da dưới DSA.

Các nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu giải phẫu người Việt Nam: Nguyễn Quang Quyền, Trịnh Văn Minh và Trịnh Xuân Đàn xác định động mạch thận người Việt có đường kính 4–7 mm (chiếm 84,51%), chiều dài động mạch trái 2–4 cm, động mạch phải dài hơn động mạch trái khoảng 1 cm; tỷ lệ thận có nhiều động mạch chiếm 19,44%–30%, nhiều tĩnh mạch chiếm 19,44% (chủ yếu ở thận phải với 2 tĩnh mạch chiếm 16,67%).
  • Nghiên cứu phẫu thuật ghép thận: Nguyễn Thanh Liêm nghiên cứu 54 ca ghép thận sống tại Bệnh viện 103, Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Nhi Trung ương, ứng dụng nối nòng súng, nối tận - bên động mạch cực vào thân chính, hoặc thắt động mạch cực nhỏ cấp máu <2 cm² nhu mô. Đoàn Quốc Hưng và cộng sự (2016) nghiên cứu 176 ca tại Bệnh viện Việt Đức ghi nhận 19,89% có 2 động mạch thận (xử trí bằng 2 miệng nối riêng rẽ với ĐMCN chiếm 13,64%, 1 miệng nối ĐMCN và 1 miệng nối ĐM chậu gốc chiếm 5,11%, tạo hình nòng súng chiếm 1,11%). Trương Hoàng Minh và cộng sự (2016) tại Bệnh viện Nhân dân 115 ghi nhận 12,8% bất thường động mạch và 12% bất thường tĩnh mạch. Dư Thị Ngọc Thu (1998–2011 và 1992–2013) tại Bệnh viện Chợ Rẫy nghiên cứu kỹ thuật chuyển vị tĩnh mạch chậu ngoài sang phải khi tĩnh mạch thận phải ngắn và phân tích 287 ca ghép thận với tỷ lệ mổ lại do chảy máu là 1,04%. Nguyễn Minh Tuấn (2020) tại Bệnh viện Việt Đức khảo sát 84 ca ghép thận có bất thường mạch máu ghi nhận tỷ lệ chảy máu sau mổ là 6%, hẹp động mạch 1,2%, huyết khối động mạch 1,2%. Lê Anh Tuấn và cộng sự (2017) tại Bệnh viện Quân y 103 báo cáo 213 ca ghép thận với tỷ lệ nhiều động mạch là 14,55%.

Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù ghép thận đã trở thành thường quy, các biến đổi mạch máu ở thận người hiến và mạch chậu người nhận vẫn đặt ra thách thức lớn. Chưa có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện và đối chiếu chi tiết giữa chẩn đoán hình ảnh tiền phẫu (MSCT, Doppler) với thương tổn thực tế trong mổ, cũng như tổng kết đầy đủ các giải pháp xử trí kỹ thuật khâu nối thích ứng với giải phẫu mạch máu người Việt Nam tại Bệnh viện Quân y 103. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, hạn chế biến chứng mạch máu và nâng cao chức năng thận ghép.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Nguyên lý giải phẫu định khu và huyết động học: Vị trí tương quan giữa hệ mạch máu thận và hệ mạch máu chậu (động mạch chậu chung, chậu ngoài, chậu trong và tĩnh mạch chậu). Áp dụng các phân loại giải phẫu chuẩn mực: bảng phân loại 12 dạng cấp máu của Uflacker R. cho động mạch thận và phân loại 5 dạng động mạch chậu trong của Adachi.
  • Nguyên lý tái lập lưu thông mạch máu: Kỹ thuật phục hồi mạch máu tận - tận, tận - bên, tạo hình mạch nòng súng, cắm lại nhánh mạch cực, chuyển vị mạch máu chậu và sử dụng vật liệu ghép tự thân (tĩnh mạch hiển, tĩnh mạch sinh dục) hoặc vật liệu tổng hợp (PTFE, Dacron).
[Người cho thận sống]                  [Người nhận thận]
                        [Kỹ thuật khâu nối mạch máu]
                        [Đánh giá kết quả sau ghép]

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp tiến cứu và hồi cứu, theo dõi dọc kết quả phẫu thuật và chức năng thận sau ghép.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các cặp người cho và người nhận thận sống được thực hiện phẫu thuật ghép thận tại Bệnh viện Quân y 103.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Người cho sống tình nguyện, đủ điều kiện sức khỏe và pháp lý theo quy định; người nhận bị suy thận mạn giai đoạn cuối có chỉ định ghép thận.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Thận ghép lấy từ người cho chết não, người cho có bất thường bệnh lý mạch máu thận nghiêm trọng không thể tái tạo, hoặc hồ sơ bệnh án không đầy đủ dữ liệu theo dõi.
  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
    • Thu thập chỉ số nhân khẩu học, nguyên nhân suy thận, thời gian lọc máu chu kỳ trước ghép, xét nghiệm nồng độ Ure và Creatinin máu.
    • Đo đạc kích thước, số lượng, chiều dài động mạch và tĩnh mạch thận trên phim MSCT và đối chiếu trực tiếp sau khi lấy thận tại bàn rửa.
    • Đánh giá mạch máu chậu qua siêu âm Doppler, thăm dò phẫu tích trực tiếp mức độ xơ vữa thành mạch.
    • Ghi nhận chi tiết kỹ thuật khâu nối động mạch, tĩnh mạch, thời gian khâu nối, thời gian thiếu máu nóng/lạnh, thời gian xuất hiện nước tiểu tại bàn mổ.
    • Theo dõi sau ghép: lượng nước tiểu 24 giờ, biến thiên Ure và Creatinin máu, thông số huyết động qua siêu âm Doppler mạch máu thận ghép (chỉ số sức cản RI, vận tốc dòng chảy tâm thu SV), ghi nhận các biến chứng mạch máu (chảy máu, huyết khối, hẹp động mạch).
    • Số liệu được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng các thuật toán thống kê y học chuyên dụng; so sánh các biến định lượng bằng kiểm định t-student, biến định tính bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) hoặc Fisher's exact test.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở giải phẫu học, các biến đổi hình thái và các kỹ thuật can thiệp mạch máu trong ghép thận:

  • Giải phẫu thận và mạch máu thận: Trình bày chi tiết hình thái, kích thước, thể tích thận người Việt Nam theo Nguyễn Quang Quyền và Trịnh Văn Minh. Phân tích nguyên ủy, đường kính (4–7 mm chiếm 84,51%), chiều dài và các dạng phân nhánh sớm của động mạch thận. Hệ thống hóa các biến đổi số lượng động mạch (1 động mạch chiếm 70–75%, nhiều động mạch chiếm 25–30%) và động mạch cực thận (chiếm 14,7%). Tĩnh mạch thận được mô tả về sự hợp lưu (86,5% có 1 thân chính), đường kính (0,8–1,5 cm) và chiều dài chênh lệch giữa hai bên (tĩnh mạch thận trái dài 41–70 mm, tĩnh mạch thận phải ngắn 15–30 mm).
  • Giải phẫu mạch máu vùng chậu: Mô tả đường đi, kích thước của động mạch chậu chung, động mạch chậu ngoài và động mạch chậu trong; phân tích 5 dạng phân nhánh của động mạch chậu trong theo Adachi; mô tả tương quan mặt phẳng nông - sâu của bó mạch chậu liên quan đến việc chọn vị trí đặt thận ghép (ưu tiên ghép thận trái người cho vào hố chậu phải người nhận và ngược lại).
  • Các kỹ thuật khâu nối mạch máu: Phân tích chi tiết chỉ định và quy trình kỹ thuật:
    • Động mạch: Khâu nối tận - tận với ĐMCT (chỉ Prolene 5.0/6.0); khâu nối tận - bên với ĐMCN hoặc ĐM chậu chung; kỹ thuật ghép đôi 2 động mạch thành thân chung kiểu nòng súng; cắm động mạch cực nhỏ vào động mạch chính kiểu tận - bên; nối động mạch cực dưới vào động mạch thượng vị dưới; kỹ thuật sử dụng cầu nối mạch tự thân hoặc PTFE trong trường hợp động mạch ngắn hoặc xơ vữa nặng.
    • Tĩnh mạch: Khâu nối tận - bên với TMCN hoặc TM chậu chung; xử trí khi có nhiều tĩnh mạch (thắt nhánh nhỏ cực dưới, ghép nòng súng, làm 2 miệng nối riêng); các giải pháp cho tĩnh mạch thận ngắn (kỹ thuật cuộn tròn, kỹ thuật tạo hình xoắn ốc của Jia-Yu F. và Nghiem D., kỹ thuật chuyển vị tĩnh mạch chậu ngoài sang phải theo Dư Thị Ngọc Thu).
  • Biến chứng mạch máu: Cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán và hướng xử trí đối với chảy máu miệng nối/rốn thận (1–16 ngày sau mổ), hẹp động mạch thận (1–23%, xuất hiện sau khoảng 3 tháng), huyết khối động mạch thận (0,2–3,5%), huyết khối tĩnh mạch thận (0,1–8,2% trong 7 ngày đầu) và bóc tách động mạch chậu ngoài.
Đặc điểm giải phẫu / Kỹ thuật Thận bên phải Thận bên trái Ứng dụng ngoại khoa
Chiều dài động mạch thận Dài hơn bên trái ~1 cm 2 – 4 cm ĐM phải thuận lợi về chiều dài khi khâu nối
Chiều dài tĩnh mạch thận Ngắn (15 – 30 mm) Dài (41 – 70 mm) TM trái thuận lợi cho ghép; TM phải cần kỹ thuật kéo dài/chuyển vị
Tĩnh mạch đổ về bổ sung Thường không nhận nhánh Nhận TM thượng thận, TM sinh dục, TM thắt lưng Cắt thắt các nhánh bên khi phẫu tích thận trái
Tỷ lệ nhiều tĩnh mạch Chiếm đa số các trường hợp Hiếm gặp Cần tính toán số lượng miệng nối hoặc thắt nhánh phụ

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm và thu thập số liệu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các bệnh nhân được ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Quân y 103 thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ.
  • Quy trình phẫu thuật:
    • Phẫu thuật lấy thận ở người cho: Phẫu tích bảo tồn tối đa cuống mạch và động mạch cực, kỹ thuật cắt sát tĩnh mạch chủ dưới đối với thận phải.
    • Xử lý thận tại bàn rửa: Bơm rửa dung dịch bảo quản qua từng catheter động mạch riêng biệt, phẫu tích bộc lộ cuống mạch, tiến hành tạo hình mạch (ghép nòng súng, cắm nhánh cực tận - bên, kéo dài tĩnh mạch) nhằm rút ngắn thời gian thiếu máu nóng khi ghép.
    • Phẫu thuật ở người nhận: Mở hố chậu theo đường mổ Gibson ngoài phúc mạc, bộc lộ động mạch và tĩnh mạch chậu ngoài, đánh giá độ xơ vữa; tiến hành khâu nối tĩnh mạch trước (tận - bên với TMCN), sau đó khâu nối động mạch (tận - tận với ĐMCT hoặc tận - bên với ĐMCN).
  • Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá: Đánh giá độ phục hồi tưới máu mô thận, thời gian tái tưới máu, thời gian xuất hiện dòng nước tiểu tại bàn mổ; diễn biến sinh hóa máu (Ure, Creatinin) các ngày sau mổ; đo đạc huyết động học miệng nối qua siêu âm Doppler màu định kỳ; ghi nhận các tai biến trong mổ và biến chứng hậu phẫu.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, tự nguyện hiến tạng không vì mục đích thương mại, được hội đồng y đức Học viện Quân y phê duyệt.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày các số liệu thực chứng thông qua các bảng thống kê và biểu đồ:

  • Đặc điểm chung: Phân bố lứa tuổi, giới tính, nguyên nhân gây suy thận mạn giai đoạn cuối (viêm cầu thận mạn, viêm thận bể thận mạn, bệnh thận đa nang...), thời gian lọc máu trước mổ và các bệnh lý nội khoa kết hợp (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid).
  • Khảo sát đặc điểm mạch máu:
    • Thống kê thể tích thận ghép, vị trí lấy thận (thận phải / thận trái).
    • Tương quan giữa chẩn đoán số lượng, kích thước động mạch và tĩnh mạch trên phim chụp MSCT tiền phẫu với hình ảnh thực tế sau khi phẫu tích lấy thận tại bàn rửa.
    • Đường kính động mạch chậu trên siêu âm Doppler; tỷ lệ và mức độ xơ vữa thành mạch chậu sau phẫu tích, mối liên quan giữa xơ vữa động mạch với tuổi bệnh nhân và thời gian lọc máu chu kỳ trước ghép.
  • Kỹ thuật khâu nối mạch máu:
    • Tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật xử trí khi thận có nhiều động mạch (ghép nòng súng, cắm nhánh cực tận - bên, nối 2 miệng rời) và nhiều tĩnh mạch hoặc tĩnh mạch ngắn.
    • Tỷ lệ các kỹ thuật khâu nối động mạch (tận - tận với ĐMCT, tận - bên với ĐMCN) và tĩnh mạch (tận - bên với TMCN, TM chậu chung).
  • Kết quả sau mổ:
    • Thời gian phẫu thuật, thời gian thiếu máu nóng, thời gian thiếu máu lạnh, thời gian thực hiện miệng nối mạch máu.
    • Tình trạng tưới máu nhu mô thận ghép và thời gian xuất hiện nước tiểu tại bàn mổ tương quan với số lượng động mạch và kỹ thuật khâu nối.
    • Diễn biến phục hồi chức năng thận: Số lượng nước tiểu 24 giờ, tốc độ giảm nồng độ Creatinin và Ure huyết thanh qua các mốc thời gian theo dõi.
    • Kết quả siêu âm Doppler mạch máu thận ghép: Trở kháng động mạch (RI), vận tốc dòng chảy tâm thu (SV).
    • Tỷ lệ các biến chứng mạch máu sớm và muộn (chảy máu miệng nối, huyết khối tắc mạch, hẹp động mạch thận ghép).

Chương 4: BÀN LUẬN

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện của nghiên cứu với các công trình y văn trong nước và quốc tế:

  • Đặc điểm bệnh nhân và giải phẫu mạch máu: Bàn luận về mối liên quan giữa tuổi, thời gian lọc máu chu kỳ với mức độ xơ hóa, vôi hóa động mạch chậu người nhận; độ chính xác và giá trị định hướng chiến lược mổ của chụp MSCT mạch máu trong việc phát hiện các biến đổi giải phẫu cuống mạch thận.
  • Chiến thuật và kỹ thuật khâu nối mạch máu:
    • Xử trí nhiều động mạch: Phân tích ưu nhược điểm của kỹ thuật tạo hình nòng súng so với nối riêng rẽ 2 miệng nối vào ĐMCN; cơ sở lựa chọn cắm động mạch cực vào động mạch chính hoặc thắt nhánh cực trên nhỏ không ảnh hưởng tưới máu đài bể thận và niệu quản.
    • Xử trí tĩnh mạch thận: Phân tích tính an toàn của phương pháp khâu nối tận - bên TMCN; hiệu quả của kỹ thuật chuyển vị tĩnh mạch chậu ngoài và tạo hình kéo dài tĩnh mạch thận khi gặp tĩnh mạch thận phải ngắn.
  • Đánh giá kết quả chức năng thận và biến chứng mạch máu: Bàn luận về thời gian phục hồi chức năng lọc qua chỉ số Creatinin máu; phân tích các yếu tố nguy cơ dẫn đến biến chứng chảy máu miệng nối, huyết khối động - tĩnh mạch và hẹp động mạch thận ghép; đối chiếu tỷ lệ biến chứng của nghiên cứu với các báo cáo của Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Việt Đức và các trung tâm ghép tạng quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết về đặc điểm giải phẫu học mạch máu thận ghép từ người cho sống và mạch máu vùng chậu người nhận trên quần thể bệnh nhân Việt Nam tại Bệnh viện Quân y 103.
  2. Xác lập giá trị đối chiếu giữa chẩn đoán hình ảnh học tiền phẫu bằng MSCT đa dãy với thực tế giải phẫu cuống mạch sau lấy thận, khẳng định vai trò quyết định của chẩn đoán hình ảnh trong việc lập chiến lược phẫu thuật mạch máu.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật xử lý và tạo hình các biến đổi giải phẫu phức tạp của mạch máu thận ghép (thận nhiều động mạch, động mạch phân nhánh sớm, tĩnh mạch thận ngắn) ngay tại bàn rửa (Back-table), giúp giảm thiểu thời gian thiếu máu nóng khi đặt tạng vào hố chậu.
  2. Ứng dụng linh hoạt và an toàn các kỹ thuật khâu nối động mạch (nối tận - tận ĐMCT, tận - bên ĐMCN, tạo hình nòng súng, cắm nhánh cực) và tĩnh mạch (nối tận - bên TMCN, chuyển vị tĩnh mạch chậu), góp phần kiểm soát tỷ lệ biến chứng mạch máu ở mức thấp và đảm bảo chức năng thận ghép phục hồi sớm sau phẫu thuật.

Kiến nghị và đề xuất

  • Cần thực hiện thường quy chụp MSCT đa dãy có tiêm thuốc cản quang tái tạo mạch máu 3D cho tất cả người hiến thận sống để đánh giá số lượng, kích thước, chiều dài và các nhánh cực trước mổ.
  • Phẫu thuật viên cần làm chủ các kỹ thuật tạo hình mạch máu tại bàn rửa và kỹ thuật chuyển vị mạch máu chậu để chủ động xử lý các tình huống giải phẫu khó, đặc biệt đối với thận lấy bên phải có tĩnh mạch ngắn hoặc người nhận có xơ vữa mạch chậu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm phẫu thuật (Bệnh viện Quân y 103) trên nhóm đối tượng ghép thận từ nguồn người cho sống, chưa bao gồm các trường hợp lấy tạng từ người cho chết não (vốn có kỹ thuật lấy vạt mạch Carrel Patch rộng rãi hơn).
  • Số lượng các biến dị giải phẫu mạch máu hiếm gặp (như 3 động mạch thận, động mạch xuất phát lạc chỗ từ động mạch chủ ngực hoặc động mạch chậu) còn chiếm tỷ lệ nhỏ, đòi hỏi thời gian tích lũy mẫu dài hơn để phân tích đa biến.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi dọc đánh giá lưu lượng dòng máu, chỉ số sức cản mạch máu (RI) và hình thái miệng nối mạch máu thận ghép bằng siêu âm Doppler định kỳ sau 5 năm và 10 năm.
  • Mở rộng nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật tái tạo mạch máu phức tạp sử dụng vật liệu nhân tạo hoặc mạch ghép đồng loại cho những trường hợp bệnh nhân ghép thận có tổn thương xơ vữa động mạch chủ - chậu phức tạp hoặc ghép thận lại lần hai, lần ba.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho các đối tượng và chuyên ngành:

  • Phẫu thuật viên Ngoại Tiết niệu và Phẫu thuật Mạch máu: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật bộc lộ, tạo hình mạch máu tại bàn rửa, kỹ thuật khâu nối mạch máu chậu và cách xử trí các biến dị mạch máu cuống thận.
  • Bác sĩ chuyên ngành Thận học - Ghép tạng: Nắm bắt cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng và quy trình chẩn đoán các biến chứng mạch máu sớm và muộn (hẹp ĐM, huyết khối ĐM/TM) để có hướng xử trí nội khoa hoặc can thiệp nội mạch kịp thời.
  • Học viên sau đại học (Bác sĩ Nội trú, Chuyên khoa II, Nghiên cứu sinh): Tham khảo khung phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh và phẫu thuật thực nghiệm trong lĩnh vực ghép tạng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tĩnh mạch thận trái thường được ưu tiên lựa chọn hơn tĩnh mạch thận phải trong ghép thận từ người cho sống?

Tĩnh mạch thận trái có chiều dài giải phẫu lớn hơn đáng kể (từ 41 mm đến 70 mm) so với tĩnh mạch thận phải (chỉ từ 15 mm đến 30 mm). Chiều dài tĩnh mạch trái đủ dài giúp phẫu thuật viên dễ dàng thực hiện miệng nối tận - bên với tĩnh mạch chậu ngoài người nhận mà không bị căng kéo. Nếu lấy thận phải, tĩnh mạch ngắn gây khó khăn khi khâu nối và có thể đòi hỏi các kỹ thuật phức tạp như cắt lẹm thành tĩnh mạch chủ dưới, kéo dài tĩnh mạch bằng tĩnh mạch hiển/sinh dục, hoặc chuyển vị tĩnh mạch chậu.

2. Kỹ thuật tạo hình mạch máu "nòng súng" được chỉ định và thực hiện như thế nào khi thận ghép có 2 động mạch?

Kỹ thuật tạo hình nòng súng (pantaloons) được chỉ định khi thận ghép có 2 động mạch có đường kính tương đương nhau và nằm gần nhau ở vùng cuống thận. Phẫu thuật viên tiến hành xẻ dọc một đoạn ngắn ở thành đối diện của hai động mạch tại bàn rửa, sau đó khâu ghép hai mép lại với nhau bằng chỉ mạch máu nhỏ (Prolene 6.0 hoặc 7.0) để tạo thành một miệng nối thân chung duy nhất trước khi đem khâu nối tận - bên vào động mạch chậu ngoài của người nhận.

3. Phương pháp xử trí hẹp động mạch thận ghép sau phẫu thuật được khuyến cáo ưu tiên là gì?

Hẹp động mạch thận ghép (thường xuất hiện khoảng 3 tháng sau mổ với biểu hiện tăng huyết áp kháng trị và suy giảm chức năng thận) được ưu tiên điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch qua da: nong bóng và đặt stent mạch máu dưới hướng dẫn của chụp mạch số hóa xóa nền (DSA). Phương pháp này có tỷ lệ thành công ban đầu trên 80%. Phẫu thuật tạo hình lại miệng nối chỉ được chỉ định khi can thiệp qua da thất bại hoặc do động mạch bị gấp khúc cơ học nghiêm trọng.

4. Kỹ thuật chuyển vị tĩnh mạch chậu ngoài được áp dụng trong tình huống nào?

Kỹ thuật chuyển vị tĩnh mạch chậu ngoài được chỉ định trong các trường hợp ghép thận phải có tĩnh mạch thận ngắn vào hố chậu phải. Phẫu thuật viên phẫu tích bộc lộ toàn bộ tĩnh mạch chậu chung và tĩnh mạch chậu ngoài, thắt cắt các nhánh tĩnh mạch chậu trong để giải phóng và di động toàn bộ khối tĩnh mạch chậu đưa sang phía ngoài và nông hơn so với động mạch chậu, từ đó thu hẹp khoảng cách miệng nối và tránh gây căng miệng khâu tĩnh mạch thận.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Ngọc Thắng đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra, cung cấp bức tranh toàn diện về đặc điểm giải phẫu mạch máu thận ghép và mạch chậu người nhận tại Bệnh viện Quân y 103. Công trình đã chuẩn hóa và khẳng định tính hiệu quả, an toàn của các kỹ thuật xử lý biến đổi mạch máu, từ tạo hình nòng súng, cắm nhánh cực đến kỹ thuật chuyển vị tĩnh mạch chậu trong ghép thận từ người cho sống. Các kết quả nghiên cứu góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu biến chứng mạch máu, bảo tồn chức năng thận ghép và nâng cao chất lượng điều trị ngoại khoa ghép tạng tại Việt Nam.