Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SINH LÝ CỦA MÀNG ỐI VÀ NƯỚC ỐI 1. Nguồn gốc và chức năng của màng ối Ngay sau khi thụ tinh, trứng phân bào rất nhanh. Từ một tế bào trứng phân chia thành tế bào mầm, rồi 4 tế bào mầm, các tế bào phân chia đều nhau. Sau đó, tế bào mầm phân chia không đều nhau thành 4 tế bào mầm to và 4 tế bào mầm nhỏ.
Các tế bào mầm to tiếp tục phân chia và phát triển thành bào thai với 2 lớp tế bào lớp thai ngoài và lớp thai trong. Ở giữa 2 lớp thai này sẽ phát triển thêm lớp thai giữa. Về phía lưng của thai, một số tế bào của lớp thai ngoài tan đi tạo thành một buồng gọi là buồng ối, bên trong chứa nước ối. Thành của buồng ối gọi là màng ối.
Khi được hình thành, khoang ối chứa đầy dịch trong mà nguồn gốc có thể từ huyết thanh của người mẹ, đó là nước ối. Khi thai được 8 tuần, khoang ối bao phủ toàn bộ phôi. Trong khoang ối, phôi và sau này là thai nhi hoàn toàn dầm mình trong nước ối [2], [3], [20], [32]. Màng ối là một màng mỏng, trong suốt, bóng và rất bền.
Màng ối bao bọc quanh buồng nước ối, mặt thai nhi của lá thai, phủ lên bản đệm và bao quanh dây rốn từ điểm xuất phát từ nhau đến rốn thai nhi. Màng ối không có mạch máu và thần kinh, là một màng bán thấm, có ảnh hưởng đến thành phần nước ối trong suốt quá trình thai nghén. Rối loạn cấu trúc biểu mô màng ối có liên quan chặt chẽ đến các bất thường về thể tích dịch ối. Nếu màng ối rách không đúng thời điểm, tức là ối vỡ non, ối vỡ sớm sẽ dễ đưa đến nhiễm khuẩn ối và làm suy thai [3].
Nguồn gốc, chức năng của nước ối 1. Nguồn gốc tạo thành nước ối Nước ối xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ tinh. Lúc đó, buồng ối nằm độc lập trong mầm phôi, chứa dịch kẽ của phôi. Từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 28 sau thụ tinh, tuần hoàn nhau thai được hình thành, có sự thẩm thấu giữa tuần hoàn và nước ối.
Sau đó, nước ối được tạo thành từ 3 nguồn là thai nhi, màng ối và mẹ. Sự tái hấp thu nước ối được thực hiện chủ yếu qua đường tiêu hóa của thai nhi. Từ tuần thứ 20, thai nuốt nước ối. Ngoài ra, nước ối còn được tái hấp thu qua da, dây rốn và màng ối.
Như vậy, hiện tượng tuần hoàn của nước ối, nước ối luôn được đổi mới [3]. Chức năng của nước ối Trong thai kỳ nước ối có chức năng nuôi dưỡng phôi thai. Sau khi lá nhau được thành lập, nước ối đảm bảo cho sự sống và phát triển của thai. Thai đủ tháng hấp thu khoảng 500ml nước ối mỗi ngày.
Lượng nước ối này vào ruột tạo ra phân su, vào máu góp phần ra dịch nội và ngoại bào, được lọc một phần bởi thận và tạo ra nước tiểu. Ngoài ra, nước ối còn điều hòa thân nhiệt cho thai nhi, trao đổi nước điện giải giữa thai nhi và mẹ, giúp cho sự bình chỉnh của thai nhi và cho phép thai cử động tự do trong tử cung. Trong lúc chuyển dạ, nước ối tiếp tục bảo vệ thai nhi khỏi những sang chấn và nhiễm trùng, sự thành lập đầu ối tạo thuận lợi cho sự xóa mở cổ tử cung. Sau khi ối vỡ, tính nhờn của nước ối làm trơn ống sinh dục giúp thai dễ sinh hơn lúc sinh [4].
NGUYÊN NHÂN ỐI VỠ NON 1. Một số khái niệm về tình trạng vỡ ối Ối vỡ non là tình trạng ối vỡ màng đệm và màng ối trước khi chuyển dạ, xảy ra trước tuần 37.