Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU HỌC MÔ NHA CHU Mô nha chu gồm có: nướu răng, dây chằng nha chu, xê măng răng và xương ổ răng [4], [8]. Nướu răng Đặc điểm mô học: nướu răng có 2 phần [4]. - Biểu mô: gồm biểu mô kết nối không sừng hoá và biểu mô nướu miệng sừng hoá và biểu mô khe nướu.
- Mô liên kết: gồm tế bào, chủ yếu là nguyên bào sợi, sợi mô liên kết: Các bó sợi collagen được sắp xếp theo chiều hướng chức năng xác định. Đặc điểm giải phẫu: nướu là phần tiếp nối của niêm mạc miệng che phủ xương ổ và bao quanh cổ răng [4], [32]. Gồm có: - Nướu viền (nướu rời): là phần nướu bao quanh cổ răng, không bám dính trực tiếp vào răng và tạo vách mềm của khe nướu. Nướu viền giới hạn từ bờ viền nướu đên rãnh nướu.
Bờ nướu cách cổ răng khoảng 0,5 – 2mm và uốn lượn theo đường nối men-xê măng. - Nướu dính: là phần nướu giới hạn từ rãnh nướu đến đường tiếp nối nướu niêm mạc. Nướu dính không có lớp mô liên kết lỏng lẽo, ít sợi collagen, dính chặt vào răng và xương bên dưới. Bề mặt nướu dính khi thổi khô có vẻ lấm tấm da cam.
Chiều cao của nướu dính thay đổi từ 1-9mm và khuynh hướng tăng theo tuổi. - Khe nướu: là khoảng giới hạn giữa răng và nướu tự do, có đáy là biểu mô kết nối. Khe nướu lành mạnh lâm sàng hiếm khi vượt quá độ sâu 3mm. - Gai nướu là phần nối giữa các răng kế cận nhau, lấp đầy khoảng trống giữa các răng này như vậy ở mỗi khoảng trống giữa hai răng kế cận, bên dưới tiếp 4 điểm của răng này có 2 gai nướu: gai nướu ngoài và gai nướu trong được nối liền nhau bằng yên nướu cong lõm theo chiều ngoài trong.
Đặc điểm lâm sàng của nướu lành mạnh [4], [32]: - Màu sắc: nướu lành mạnh thường có màu hồng nhạt. Vẻ nhạt này so sánh với màu đỏ hơn của niêm mạc miệng do độ dày và tình trạng sừng hóa ở bề mặt biểu mô nướu. Màu của nướu nói chung có thể thay đổi tùy thuộc sắc tố, mật độ và lưu lượng tuần hoàn ngang qua mô. - Bề mặt: có vẻ lấm tấm da cam khi thổi khô nhưng mật độ lấm tấm này thay đổi đáng kể.
- Hình dạng: phụ thuộc vào độ rộng vùng kẽ răng hay phụ thuộc hình dạng và vị trí răng trên cung răng. - Độ bền chắc: nướu phải săn chắc, đàn hồi và bám chặt vào mô cứng bên dưới. Nướu viền có thể di động nhẹ và áp sát vào mặt răng. Sự tạo thành dây chằng nha chu Là một lớp mô liên kết gồm nhiều tế bào nhiều sợi, nằm giữa bề mặt xê măng và xương ổ răng bao quanh chân răng, nối răng vào xương ổ [8].
Đặc điểm giải phẫu: dây chằng chiếm một khoảng hẹp giữa hai bề mặt canxi hóa là xê măng và xương ổ răng. Khoảng hẹp này gọi là khoảng dây chằng nha chu hay khe khớp. Trên phim X quang khoảng dây chằng nha chu có dạng đường thấu quang song song với bề mặt chân răng. Bề dày của khoảng này thay đổi từ 0,1 – 0,25mm tùy thuộc tuổi, giai đoạn mọc răng, đặc điểm chức năng của răng hay lực đặt lên răng.
Khoảng dây chằng nha chu dãn rộng tối đa khi răng chịu lực quá mức và mỏng hơn khi răng không còn răng đối kháng. Đặc điểm mô học: dây chằng nha chu có nguồn gốc từ bao răng, là một mô liên kết mềm biệt hóa để giữ răng vào ổ răng. Các sợi của dây chằng một đầu 5 vùi trong xê măng đầu kia xâm nhập vào thành xương ổ (xương ổ chính danh). Một số nhóm sợi mảnh của dây chằng nha chu xuất hiện ngay khi chân răng vừa được thành lập.
Vào lúc đó, các tế bào của bao răng tăng mạnh, những tế bào ở lớp gần nhất với chân răng biệt hóa thành nguyên bào xê măng và bắt đầu tạo khuôn xê măng. Những tế bào ở ngoài nhất của bao răng biệt hóa thành nguyên bào xương và tạo thành lớp xương lợp mặt trong ổ răng. Đa số tế bào giữa 2 lớp (trong cùng và ngoài cùng) của bao răng biệt hóa thành nguyên bào sợi, tạo ra sợi collagen của thành phần dây chằng nha chu mà về sau bị vùi trong xê măng và xương ổ [4]. Chức năng của dây chằng nha chu: - Duy trì tương quan giữa răng với mô cứng và mô mềm.
- Duy trì hoạt động sinh học của xương, xê măng. - Vô hiệu hóa lực va chạm và lực nhai đến xương. - Dinh dưỡng và cảm giác. Xê măng răng Là thành phần mô liên kết khoáng hóa, không mạch máu, tạo thành một lớp bao phủ quanh chân răng giải phẫu [4], [32].
Đặc điểm mô học: người ta phân biệt 2 loại chính. - Có tế bào: nguyên bào xê măng bị vùi trong khuôn xê măng do nó tạo ra (cấu trúc gần giống xương), thành xê măng bào có khả năng tiếp tục tạo xê măng trong quá trình tồn tại. + Xê măng sợi hỗn hợp có tế bào: chứa xê măng bào sản phẩm của nó là sợi collagen nội sinh và cả sợi ngoại sinh (Sharpey). Duy trì việc tạo xê măng trong đời sống.
6 + Xê măng sợi nội sinh có tế bào: chứa xê măng bào và collagen. Là sản phẩm đặc hiệu của nguyên bào xê măng. Được tạo thành trong các quá trình hàn gắn: mòn ngót, sửa chữa nứt gãy chân răng. - Không có tế bào: nguyên bào xê măng rút lui khỏi khuôn xê măng.
+ Xê măng không sợi không tế bào: là khuôn xê măng, chưa rõ nguồn gốc. Được tạo ra trước khi răng mọc, lợp một vùng bề mặt men vùng cổ. + Xê măng sợi ngoại sinh không tế bào: Ở vùng cổ và vùng giữa chân răng. Sợi ngoại sinh (sợi Sharpey) là sản phẩm của nguyên bào sợi của túi răng.
+ Xê măng trung gian: ở vùng cổ răng, lợp lên một phần men. Ở giữa ngà và xê măng sợi hỗn hợp có tế bào hoặc xê măng sợi ngoại sinh không tế bào. Có tác giả cho đây là một dạng ngà ngoại biên đặc biệt. Xương ổ răng Đặc điểm mô học: xương ổ phát triển cùng với sự phát triển của răng.
Thoạt tiên là một khối xương mỏng hình vỏ trứng xung quanh mầm răng. Dần dần chân răng phát triển dài ra, xương ổ giữ tốc độ phát triển tương quan với răng. Các xương ổ bắt đầu phát triển ở tuần thứ 8 của bào thai. Các vách xương phát triển giữa các mầm răng để hình thành những hốc xương riêng biệt [8], [35].
- Xương ổ giữa các răng gọi là xương vách răng, xương ổ giữa các chân răng của răng nhiều chân gọi là vách chân răng. - Xương ổ gồm hai phần: xương ổ chính danh và xương nâng đỡ. Đặc điểm giải phẫu: - Nhìn từ mặt ngoài vào mặt trong mào xương ổ đi theo một đường uốn cong dạng vỏ sò, mào xương ổ tương ứng với xương kẽ răng và xương giữa các chân răng ở về phía thân răng hơn. - Mào xương đi song song và giữa khoảng cách không đổi thường là 1 – 2mm về phía chóp so với đường nối men – xê măng.
7 - Nhìn từ phía mặt nhai xương ổ có dạng đường viền lượn sóng, lõm ở kẽ răng giúp cải thiện hình dạng nướu và tạo lối vào để kiểm soát mảng bám. Nướu răng Dây chằng nha chu Xương ổ răng Xê măng răng Hình 1. Cấu trúc giải phẫu mô nha chu (Nguồn: Practical Periodontics, 2015 [30]) 1. NGUYÊN NHÂN VÀ SINH BỆNH HỌC BỆNH VIÊM NHA CHU 1.
Vi khuẩn và mảng bám vi khuẩn Nhiều bằng chứng cho thấy tác nhân gây bệnh viêm nha chu (VNC) là vi khuẩn. VNC được cho là do một nhóm nhỏ các vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí bắt màu gram âm xâm nhiễm vào vùng dưới nướu. VNC khởi đầu là một mảnh bám vi khuẩn, mảng bám này được tạo thành từ các vi khuẩn và chất nền (gồm protein, lipid và polysaccarid) bám dính vào bề mặt răng. Trong mảng bám răng bình thường có sự hiện diện chủ yếu là các cầu khuẩn Gram dương như Streptococcus và Actinomyces.
Trong đó vi khuẩn Actinobacillus Actinomycetemcomytans và Porphyromonas gingivalis được xem là nguyên nhân gây bệnh VNC. Mảng bám không bị loại bỏ bởi tia nước. 8 Vì vậy, VNC là một bệnh nhiễm khuẩn. Khởi phát và tiến triển của bệnh phụ thuộc vào vai trò của vi khuẩn trong mảng bám răng mà trong đó có những chủng đặc hiệu chiếm ưu thế và đáp ứng miễn dịch của vật chủ [10].
Vai trò của đáp ứng miễn dịch Bình thường có sự cân bằng hệ tạp khuẩn ở miệng. Bất kỳ sự thay đổi nào phá vỡ trạng thái cân bằng này, do vi khuẩn phát triển quá mức hay do sức khỏe răng miệng hoặc sức khỏe toàn thân bị suy giảm, sẽ gây ra bệnh. Như vậy bệnh sinh của VNC liên quan đến sự tương tác giữa các yếu tố vi khuẩn và cơ thể, đồng thời chịu sự tác động thêm bởi yếu tố di truyền và yếu tố môi trường. Vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong bệnh căn của VNC, nhưng đáp ứng miễn dịch của cơ thể là yếu tố quyết định gây VNC, sự hiện diện của vi khuẩn không phải là yếu tố quyết định gây bệnh [4], [10].
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH NHA CHU 1. Hút thuốc lá Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới rằng số lượng người hút thuốc lá trên toàn thế giới là hơn 1 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 1,7 tỷ trong năm 2025. Đến năm 2030, khoảng 10 triệu người sẽ chết hàng năm là kết quả của việc sử dụng thuốc lá, với 70% số đó trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Hút thuốc là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh nha chu và từ lâu đã gắn liền với bệnh nha chu và mất răng [18].
Những nghiên cứu gần đây cho thấy những người hút thuốc lá có chỉ số mảng bám, túi nha chu sâu, vị trí mất bám dính, vôi răng, mất nhiều răng và dễ bị những sang thương vùng chẽ răng nhiều hơn những người không hút thuốc lá. Sang thương nha chu và tính trầm trọng của bệnh tỉ lệ với số lượng điếu hút trong một ngày (hơn 10 đến 15 điếu / ngày) và thời gian hút. Bệnh nhân (BN) sẽ không đáp ứng với phương pháp điều trị bằng phương pháp phẫu thuật hay không phẫu thuật thì dấu chứng giảm độ sâu túi và mức 9 độ tạo bám dính cũng ít hơn.