Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tính.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108

Chuyên ngành

Nội tim mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

175
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tính

Bệnh nhân mắc đái tháo đường týp 2 thường có nhiều triệu chứng lâm sàng khác nhau. Triệu chứng phổ biến nhất là đau cách hồi, xảy ra khi bệnh nhân đi bộ và giảm khi nghỉ ngơi. Theo phân loại Rutherford, triệu chứng này có thể được phân loại từ mức độ nhẹ đến nặng, với các giai đoạn từ không triệu chứng đến loét và hoại tử chi dưới. Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân này cho thấy sự liên quan mật thiết giữa bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) và tình trạng đái tháo đường. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng đau cách hồi chiếm khoảng 30-40% trong số bệnh nhân mắc BĐMCDMT có đái tháo đường. Việc phát hiện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời, tránh các biến chứng nghiêm trọng như cắt cụt chi.

1.1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường thường không rõ ràng, dẫn đến việc chẩn đoán muộn. Đau cách hồi là triệu chứng chính, nhưng nhiều bệnh nhân không nhận ra hoặc không báo cáo triệu chứng này. Theo nghiên cứu, có khoảng 20% bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng, điều này làm tăng nguy cơ biến chứng. Ngoài ra, các triệu chứng khác như tê bì, lạnh chân, và loét cũng thường gặp. Việc theo dõi và đánh giá triệu chứng lâm sàng là cần thiết để phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

II. Đặc điểm cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ

Các xét nghiệm cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Các phương pháp như đo chỉ số cổ chân - cánh tay (ABI), siêu âm Doppler, và chụp động mạch cản quang được sử dụng để xác định mức độ tổn thương động mạch. Nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, và hút thuốc lá có tỷ lệ mắc BĐMCDMT cao hơn. Cụ thể, tỷ lệ mắc BĐMCDMT ở bệnh nhân có tăng huyết áp lên đến 50%. Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ này là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

2.1. Các yếu tố nguy cơ

Yếu tố nguy cơ chính của BĐMCDMT bao gồm tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, và đái tháo đường. Theo nghiên cứu, bệnh nhân có đái tháo đường có nguy cơ mắc BĐMCDMT cao gấp 2-4 lần so với người không mắc. Ngoài ra, việc hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Các nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ đồng thời sẽ có tỷ lệ mắc BĐMCDMT cao hơn, do đó việc phát hiện và can thiệp sớm các yếu tố này là rất cần thiết.

III. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và tổn thương động mạch

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ tổn thương động mạch ở bệnh nhân mắc BĐMCDMT có đái tháo đường. Cụ thể, bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng thường có chỉ số ABI thấp hơn, cho thấy mức độ hẹp động mạch nghiêm trọng hơn. Hơn nữa, các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp và rối loạn lipid máu cũng có ảnh hưởng lớn đến mức độ tổn thương động mạch. Việc phân tích mối liên quan này giúp các bác sĩ có cái nhìn tổng quan hơn về tình trạng bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

3.1. Phân tích mối liên quan

Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng cho thấy rằng bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng thường có chỉ số ABI thấp hơn, cho thấy mức độ tổn thương động mạch nghiêm trọng hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ đồng thời sẽ có tỷ lệ tổn thương động mạch cao hơn. Việc hiểu rõ mối liên quan này là rất quan trọng để xây dựng các chiến lược điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Tổng quan về BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 1. Giải phẫu động mạch chi dưới Về mặt giải phẫu, chi dưới được phân chia thành hai thành phần gồm đai chi (hay đai chậu) và phần tự do của chi. Hệ thống động mạch chi dưới gồm động mạch chậu (bao gồm động mạch chậu chung, động mạch chậu trong và động mạch chậu ngoài) và động mạch đùi chung (kể cả các nhánh), động mạch khoeo, các động mạch cẳng chân, các cung động mạch bàn chân kèm các động mạch đốt bàn và ngón [13].

Động mạch chậu Động mạch (ĐM) chậu gốc (hay còn gọi là động mạch chậu chung) bắt đầu từ chỗ chia đôi của ĐM chủ bụng ngang mức L4/L5, gồm ĐM chậu gốc trái và ĐM chậu gốc phải. ĐM chậu gốc chia thành ĐM chậu trong và ĐM chậu ngoài. ĐM chậu trong đi xuống chia nhiều ĐM nhỏ và cấp máu cho vùng tiểu khung. ĐM chậu ngoài là ĐM cấp máu chính cho chi dưới.

Khi hẹp, tắc ĐM chậu ngoài sẽ gây thiếu máu cho chi dưới [14]. Động mạch đùi khoeo ĐM chậu ngoài sau khi đi qua dây chằng bẹn thì đổi tên thành ĐM đùi chung, sau đó tách ra 2 nhánh tận là ĐM đùi sâu và ĐM đùi nông. ĐM đùi đi ở mặt trước đùi, dần đi vào trong, sau đó chui qua vòng gân khép rồi đổi tên thành ĐM khoeo. ĐM đùi sâu cung cấp máu cho hầu hết các cơ ở đùi.

ĐM đùi nông cấp máu chính cho các cơ ở vùng cẳng và bàn chân. Động mạch khoeo đi xuống tới bờ dưới cơ khoeo thì chia ra ba nhánh tận là ĐM chày trước, ĐM chày sau và ĐM mác và bảy nhánh bên (cấp máu vùng gối), tạo nhiều nhánh nối tiếp giữa các nhánh bên và các nhánh tận, hình thành hai mạng mạch phong phú là mạng mạch khớp gối và mạng mạch bánh chè [15]. Giải phẫu hệ động mạch đùi khoeo Động mạch cẳng bàn chân Động mạch cẳng bàn chân bao gồm các ĐM vùng cẳng chân (ĐM chày trước, ĐM chày sau, ĐM mác) và các ĐM vùng bàn chân (ĐM mu chân, ĐM gan chân trong, ĐM gan chân ngoài). ĐM chày trước là một trong ba nhánh tận của ĐM khoeo, bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng chân trước.

Đoạn 2/3 trên của ĐM chày trước nằm trên màng gian cốt, đoạn 1/3 dưới nằm ở trên xương chày và khớp cổ chân, rồi tiếp tục đi xuống dưới chui qua giữa các gân duỗi bàn chân và đổi tên thành ĐM mu chân. Ở cổ chân, ĐM chày trước tách ra nhánh ĐM mắt cá trước ngoài, nối với nhánh xiên và các nhánh mắt cá ngoài của ĐM mác. Ngoài ra, còn vòng nối ĐM gan chân ngoài của ĐM chày trước và ĐM gan chân ngoài của ĐM 5 chày sau để cấp máu cho bàn chân. Nhờ các vòng nối này mà trong can thiệp có thể đưa dụng cụ từ ĐM mác, chày sau sang can thiệp ĐM chày trước khi có tổn thương và ngược lại [16].

ĐM chày sau là nhánh tận chính của ĐM khoeo từ bờ dưới cơ khoeo hay cung gân cơ khép. ĐM chày sau chia rất nhiều nhánh bên cung cấp cho phần lớn các cơ vùng cẳng chân sau. Khi chạy xuống rãnh cơ gấp dài ngón cái ở mặt trong xương gót, chia làm hai ngành tận là ĐM gan chân trong và ĐM gan chân ngoài [17]. ĐM mác là nhánh tận, tách từ thân chày mác.

Lúc đầu ĐM mác nằm giữa cơ chày sau và cơ gấp dài ngón cái rồi đi sâu vào giữa cơ gấp dài ngón cái và xương mác tới cổ chân và chia các nhánh tận cho cổ chân và gót. ĐM mác có các nhánh mắt cá sau ngoài nối với ĐM mắt cá trước ngoài của ĐM chày trước và nhánh nối tiếp nối với ĐM chày sau. Đây là các vòng nối quan trọng trong can thiệp cẳng và bàn chân [13]. Giải phẫu hệ động mạch cẳng bàn chân 1.

Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) là bệnh vữa xơ các mạch máu cung cấp máu cho một phần hoặc toàn bộ chi dưới với triệu chứng đau cách 6 hồi trên 2 tuần [3]. Khái niệm này loại trừ các trường hợp thiếu máu cấp tính do chấn thương, vết thương, huyết khối trên các động mạch lành, tai biến do phẫu thuật hay thủ thuật can thiệp nội mạch máu [18]. Dịch tễ học BĐMCDMT là bệnh lý tim mạch phổ biến, đứng thứ ba sau bệnh ĐM vành, đột quị não và đang dần trở thành vấn đề toàn cầu khi ảnh hưởng hơn 200 triệu người trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu của cuộc điều tra dinh dưỡng và sức khỏe tại Mỹ năm 1999 – 2000 (nghiên cứu NHANES) trên 2174 người > 40 tuổi, tỷ lệ hiện mắc BĐMCDMT chiếm 4,3%, trong đó số lượng bệnh nhân mắc BĐMCDMT có bệnh đái tháo đường kèm theo chiếm 10,8% [8].

Nhiều nghiên cứu cho thấy đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT lên 2 - 4 lần và khoảng 12 - 20% bệnh nhân BĐMCDMT có kèm theo đái tháo đường [19]. Theo nghiên cứu Framingham, đái tháo đường làm tăng nguy cơ đau cách hồi lên 3,5 lần ở nam và 8,6 lần ở nữ [20]. Một trong những lý do khiến tỷ lệ mắc BĐMCDMT ngày càng tăng cao là bởi bệnh tiến triển âm thầm, chỉ có dưới 20% bệnh nhân được báo cáo là có triệu chứng. Bên cạnh đó, tổn thương thần kinh ngoại vi do đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến thần kinh cảm giác, làm các triệu chứng của BĐMCDMT càng thêm mờ nhạt khiến tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn so với người không mắc bệnh đái tháo đường.

Nghiên cứu của Shu J. Nguy cơ phát triển BĐMCDMT tương xứng với mức độ nặng và thời gian bị bệnh đái tháo đường. Theo nghiên cứu UKPDS, HbA1c tăng lên mỗi 1% sẽ làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT 28% [9]. Khi so sánh BĐMCDMT giữa hai nhóm mắc đái tháo đường và không mắc đái tháo đường, nghiên cứu của Lange S.

đã chỉ ra tỷ lệ mắc BĐMCDMT ở nhóm đái tháo đường cao hơn hẳn với tỷ lệ 26,3% so với 15,3%. Bên cạnh đó, bệnh đái tháo đường còn làm tăng nguy cơ loét bàn chân do tắc mạch, hoại tử, và cắt cụt chi ở bệnh nhân mắc BĐMCDMT. Theo kết quả nghiên cứu của Bild D.E và cộng sự, bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ cắt cụt chi ở bệnh nhân có BĐMCDMT gấp 7 - 15 lần so với bệnh nhân không mắc đái 7 tháo đường, tỷ lệ cắt cụt chi hàng năm ở những bệnh nhân này là 0,6%. So sánh tổn thương động mạch ở bệnh nhân có và không có đái tháo đường Bệnh động mạch chi dưới Đái tháo đường Không đái tháo đường Giới Nam = Nữ Nam > Nữ Tuổi Trẻ hơn Cao tuổi Tiến triển Nhanh Từ từ Hai bên Một bên Tổn thương Động mạch dưới gối Động mạch trên gối Tắc hẹp nhiều đoạn Một đoạn Tuần hoàn bàng hệ Bị tổn thương Không hoặc ít ảnh hưởng Bệnh nhân mắc BĐMCDMT kèm theo đái tháo đường thường có xu hướng nằm viện lâu hơn, chịu nhiều gánh nặng điều trị hơn và tốn nhiều nguồn lực y tế hơn so với bệnh nhân BĐMCDMT đơn thuần [22].

Đái tháo đường thường liên quan đến tổn thương động mạch chi dưới đoạn dưới gối (động mạch chày trước, chày sau, động mạch mác…), trong khi các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc thường có liên quan đến tổn thương các động mạch chậu - đùi [7]. Tỷ lệ đồng mắc BĐMCDMT và đái tháo đường đặc biệt cao ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ chi dưới cấp tính, với gần 50% bệnh nhân trong một nghiên cứu thiếu máu cục bộ chi cấp tính [23]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy BĐMCDMT làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột qụy và tử vong do nguyên nhân tim mạch. Bệnh nhân BĐMCDMT có tỷ lệ biến cố tim mạch trong vòng 5 năm, bao gồm NMCT và đột qụy là 20%, và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân là 30% [24].

Trong số bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ chi dưới cấp tính, có khoảng 30% phải cắt cụt chi, và tỷ lệ tử vong trong 6 tháng là 20%. Theo nghiên cứu ARIC, nam giới mắc BĐMCDMT có nguy cơ đột qụy hoặc thiếu máu não thoáng qua cao gấp 4 – 5 lần người không mắc BĐMCDMT, dù mối liên quan này ở nữ không có ý nghĩa thống kê. Khoảng 12 - 25% người mắc BĐMCDMT có rối loạn dòng chảy do hẹp động mạch cảnh phát hiện trên siêu âm 8 Doppler. Mức độ nặng của BĐMCDMT tương quan với mức độ nặng và độ hẹp của động mạch cảnh.

Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường được tái thông mạch vành chiếm khoảng 25% - 30% và lên đến 60% trường hợp NMCT cấp. Tỷ lệ biến cố tim mạch và đột quỵ, bao gồm tử vong và không tử vong, đều có xu hướng tăng ở bệnh nhân BĐMCDMT kèm theo đái tháo đường so với bệnh nhân BĐMCDMT đơn thuần [7]. Điều đáng chú ý là hầu hết bệnh nhân bị BĐMCDMT không có triệu chứng lâm sàng điển hình của đau cách hồi. Nghiên cứu PARTNER thực hiện trên 6417 đối tượng cho thấy có 29% bị BĐMCDMT nhưng chỉ 11% trong số những người bị BĐMCDMT có triệu chứng đau cách hồi điển hình.

Gần 1/3 không có triệu chứng và 55% trong số còn lại có triệu chứng không điển hình gây khó khăn cho việc phát hiện sớm, chẩn đoán và can thiệp điều trị [25]. Cơ chế bệnh sinh của bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Nhìn chung, cơ chế bệnh sinh của BĐMCDMT ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường cũng tương tự với bệnh nhân không mắc đái tháo đường, nhưng sự hiện diện của bệnh đái tháo đường là yếu tố thúc đẩy. Vữa xơ động mạch (atherosclerosis) là một hình thức cụ thể của xơ cứng động mạch, trong đó thành động mạch dày lên như kết quả của sự tích tụ canxi và các chất béo như cholesterol và triglyceride [20]. Sự tiến triển của xơ vữa và tổn thương động mạch xảy ra rất sớm thậm chí ngay từ giai đoạn tiền đái tháo đường.

Tổn thương lớp nội mạc là một điểm nổi bật của đái tháo đường, liên quan đến tăng glucose máu, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid, đề kháng insulin. Rối loạn chức năng nội mạc là dấu hiệu biến chứng sớm của biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Quá trình này bao gồm các thay đổi trong sao chép gene, giải phóng các cytokines, các yếu tố phát triển và các tế bào kết tập, thay đổi chuyển hoá lipids và tình trạng ôxy hoá, tăng sản xuất các gốc oxy hoá tự do.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mắc bệnh động mạch chi dưới mạn tính là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bị bệnh động mạch chi dưới mạn tính. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về mối liên hệ giữa đái tháo đường và các biến chứng mạch máu, đồng thời đề xuất các biện pháp can thiệp hiệu quả để quản lý và điều trị bệnh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các chuyên gia y tế và nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về các biến chứng liên quan đến đái tháo đường, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ lâm sàng bệnh võng mạc đái tháo đường và hiệu quả biện pháp can thiệp tại tỉnh hà nam, nghiên cứu này tập trung vào bệnh võng mạc đái tháo đường, một biến chứng phổ biến khác của bệnh đái tháo đường. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu biến đổi nồng độ và giá trị tiên lượng của hstroponin t ntprobnp hscrp ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim không st chênh lên được can thiệp động mạch vành qua da thì đầu cung cấp thông tin về các dấu ấn sinh học trong bệnh tim mạch, một lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến bệnh động mạch chi dưới. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị ntprobnp trong dự báo suy tim và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các chỉ số sinh học trong tiên lượng bệnh tim mạch.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn mở ra các góc nhìn mới trong nghiên cứu và điều trị các bệnh lý liên quan.