Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh siêu âm x quang và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc lấy sỏi tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ n

Chuyên khảo y tế phân tích Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh siêu âm x quang và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Ngoại Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2019

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về giải phẫu học thận và khoang sau phúc mạc

1.2. Bệnh lý sỏi thận

1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phương pháp nghiên cứu

1.3.3. Đạo đức nghiên cứu

1.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học X-quang, siêu âm của đối tượng nghiên cứu

1.4.3. Đánh giá kết quả điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Sỏi Bể Thận và Phương Pháp Nội Soi

Sỏi hệ tiết niệu là một bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến 11-13% nam giới và 5.6-7% nữ giới. Bệnh này đứng thứ ba trong các bệnh lý tiết niệu, sau nhiễm khuẩn niệu và bệnh lý tiền liệt tuyến. Trước đây, phẫu thuật mở là phương pháp chính để lấy sỏi thận, gây đau đớn và để lại sẹo lớn. Tuy nhiên, sự phát triển của y học đã mang đến các phương pháp ít xâm lấn hơn như tán sỏi qua da, tán sỏi nội soi ngược dòng, và phẫu thuật nội soi. Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc đã chứng minh được nhiều ưu điểm, giảm thiểu nguy cơ tổn thương các tạng trong phúc mạc và mạch máu. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

1.1. Giải Phẫu Thận và Khoang Sau Phúc Mạc Liên Quan Sỏi Bể Thận

Thận nằm sau phúc mạc, ở hai bên cột sống. Thận phải thấp hơn thận trái khoảng 2cm. Kích thước trung bình của thận là cao 12cm, rộng 6cm và dày 3cm. Thận được bao bọc bởi cân Gerota, một cấu trúc quan trọng trong phẫu thuật thận. Khoang sau phúc mạc kéo dài từ cơ hoành đến tiểu khung, chứa thận, tuyến thượng thận, niệu quản và các mạch máu lớn. Hiểu rõ giải phẫu này rất quan trọng cho việc thực hiện phương pháp nội soi an toàn và hiệu quả.

1.2. Dịch Tễ Học và Gánh Nặng Kinh Tế của Sỏi Bể Thận

Sỏi tiết niệu là một bệnh lý phổ biến, với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 2-20% và tỷ lệ tái phát cao. Bệnh gây ra nhiều triệu chứng khó chịu và có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Chi phí điều trị sỏi thận là một gánh nặng lớn cho hệ thống y tế. Tại Việt Nam, sỏi tiết niệu chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh lý điều trị tại khoa Ngoại tiết niệu. Việc nghiên cứu và cải tiến các phương pháp điều trị sỏi bể thận là rất cần thiết.

II. Thách Thức Trong Điều Trị Sỏi Bể Thận Hiện Nay Tổng Quan

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị sỏi bể thận, mỗi phương pháp đều có những hạn chế nhất định. Phẫu thuật mở truyền thống có thể gây đau đớn và thời gian phục hồi kéo dài. Các phương pháp ít xâm lấn hơn như tán sỏi ngoài cơ thể có thể không hiệu quả đối với sỏi lớn hoặc sỏi ở vị trí khó tiếp cận. Phương pháp nội soi sau phúc mạc có thể gặp khó khăn trong việc tạo khoang và tiếp cận sỏi. Do đó, việc đánh giá và cải tiến các phương pháp điều trị sỏi bể thận là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu biến chứng.

2.1. Các Biến Chứng và Tái Phát Sỏi Bể Thận Sau Điều Trị

Một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị sỏi bể thận là nguy cơ biến chứng và tái phát. Các biến chứng có thể bao gồm nhiễm trùng, chảy máu, tổn thương các cơ quan lân cận và hẹp niệu quản. Tỷ lệ tái phát sỏi bể thận cũng khá cao, đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý để phòng ngừa. Việc theo dõi và điều trị kịp thời các biến chứng và tái phát là rất quan trọng để duy trì chức năng thận.

2.2. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kết Quả Điều Trị Sỏi Bể Thận

Kết quả điều trị sỏi bể thận phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm kích thước, vị trí và thành phần của sỏi, tình trạng chức năng thận, kinh nghiệm của phẫu thuật viên và trang thiết bị hiện có. Bệnh nhân có các bệnh lý nền như tiểu đường, tăng huyết áp hoặc suy thận có thể có kết quả điều trị kém hơn. Việc đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố này trước khi quyết định phương pháp điều trị là rất quan trọng.

III. Phương Pháp Nội Soi Sau Phúc Mạc Giải Pháp Điều Trị Sỏi

Phương pháp nội soi sau phúc mạc là một kỹ thuật ít xâm lấn để lấy sỏi bể thận. Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách tạo một khoang sau phúc mạc và đưa các dụng cụ nội soi vào để tiếp cận và lấy sỏi. Phương pháp này có nhiều ưu điểm so với phẫu thuật mở truyền thống, bao gồm ít đau đớn hơn, thời gian phục hồi nhanh hơn và ít để lại sẹo hơn. Tuy nhiên, phương pháp nội soi sau phúc mạc đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại.

3.1. Kỹ Thuật Tạo Khoang Sau Phúc Mạc Trong Phẫu Thuật Nội Soi

Việc tạo khoang sau phúc mạc là một bước quan trọng trong phương pháp nội soi. Có nhiều kỹ thuật tạo khoang khác nhau, bao gồm sử dụng bóng nong, bơm khí hoặc sử dụng các dụng cụ đặc biệt. Kỹ thuật tạo khoang phải đảm bảo an toàn và tạo đủ không gian để phẫu thuật viên thao tác. Việc lựa chọn kỹ thuật tạo khoang phù hợp phụ thuộc vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên và trang thiết bị hiện có.

3.2. Các Dụng Cụ và Thiết Bị Cần Thiết Cho Phẫu Thuật Nội Soi Sỏi

Phẫu thuật nội soi sỏi bể thận đòi hỏi các dụng cụ và thiết bị chuyên dụng, bao gồm ống nội soi, nguồn sáng, camera, dụng cụ cắt đốt và dụng cụ lấy sỏi. Các dụng cụ này phải có chất lượng tốt và được bảo trì thường xuyên để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình phẫu thuật. Việc sử dụng các dụng cụ và thiết bị hiện đại có thể giúp phẫu thuật viên thực hiện phẫu thuật một cách dễ dàng và chính xác hơn.

IV. Nghiên Cứu Tại Cần Thơ Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị

Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã khảo sát đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu về tuổi, giới tính, triệu chứng, kích thước sỏi, vị trí sỏi và các biến chứng sau phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp nội soi sau phúc mạc là một phương pháp an toàn và hiệu quả để điều trị sỏi bể thận.

4.1. Phân Tích Đặc Điểm Lâm Sàng Bệnh Nhân Sỏi Bể Thận

Nghiên cứu đã phân tích các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân sỏi bể thận, bao gồm tuổi, giới tính, tiền sử bệnh lý, triệu chứng và các xét nghiệm cận lâm sàng. Kết quả cho thấy đa số bệnh nhân có triệu chứng đau lưng, tiểu máu và nhiễm trùng tiết niệu. Kích thước sỏi trung bình là khoảng 1-2cm. Việc phân tích đặc điểm lâm sàng giúp bác sĩ chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Nội Soi Sỏi Bể Thận Tại Cần Thơ

Nghiên cứu đã đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc, bao gồm tỷ lệ thành công, thời gian phẫu thuật, thời gian nằm viện và các biến chứng sau phẫu thuật. Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp này là khá cao, thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện tương đối ngắn. Các biến chứng sau phẫu thuật thường nhẹ và có thể điều trị được.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kinh Nghiệm Điều Trị Sỏi Bể Thận

Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ có thể được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn lâm sàng. Các bác sĩ có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân sỏi bể thận. Kinh nghiệm điều trị có thể giúp các bác sĩ thực hiện phẫu thuật một cách an toàn và hiệu quả hơn.

5.1. Hướng Dẫn Chăm Sóc Bệnh Nhân Sau Phẫu Thuật Nội Soi Sỏi

Chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi sỏi bể thận là rất quan trọng để đảm bảo phục hồi nhanh chóng và giảm thiểu biến chứng. Bệnh nhân cần được theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn, tình trạng đau và các biến chứng có thể xảy ra. Bệnh nhân cũng cần được hướng dẫn về chế độ ăn uống, sinh hoạt và sử dụng thuốc để phòng ngừa tái phát sỏi bể thận.

5.2. Phòng Ngừa Tái Phát Sỏi Bể Thận Chế Độ Ăn Uống và Sinh Hoạt

Phòng ngừa tái phát sỏi bể thận là một phần quan trọng trong điều trị. Bệnh nhân cần tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý, bao gồm uống đủ nước, hạn chế ăn các thực phẩm giàu oxalate, purine và muối. Bệnh nhân cũng cần duy trì cân nặng hợp lý và tập thể dục thường xuyên. Việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa có thể giúp giảm nguy cơ tái phát sỏi bể thận.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Sỏi Bể Thận

Nghiên cứu đã cung cấp những thông tin quan trọng về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này là một lựa chọn điều trị hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân sỏi bể thận. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu lớn hơn và dài hạn hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và các biến chứng của phương pháp này.

6.1. So Sánh Hiệu Quả Các Phương Pháp Điều Trị Sỏi Bể Thận

Cần có thêm các nghiên cứu so sánh hiệu quả của phương pháp nội soi sau phúc mạc với các phương pháp điều trị sỏi bể thận khác, như tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi qua da và phẫu thuật mở. Các nghiên cứu này cần đánh giá các yếu tố như tỷ lệ thành công, thời gian phẫu thuật, thời gian nằm viện, chi phí và các biến chứng sau phẫu thuật.

6.2. Nghiên Cứu Về Các Yếu Tố Nguy Cơ và Phòng Ngừa Sỏi Bể Thận

Cần có thêm các nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ gây sỏi bể thận và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Các nghiên cứu này có thể giúp xác định các đối tượng có nguy cơ cao mắc sỏi bể thận và đưa ra các khuyến cáo phòng ngừa phù hợp. Các biện pháp phòng ngừa có thể bao gồm thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt và sử dụng thuốc.

08/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh siêu âm x quang và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc lấy sỏi tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ n

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi hệ tiết niệu là bệnh thƣờng gặp của đƣờng tiết niệu, với tỉ lệ bệnh đƣợc báo cáo từ 11-13% ở nam và 5,6-7% ở nữ [7], [33]. Bệnh đứng hàng thứ ba trong các bệnh lý tiết niệu, đứng sau bệnh lý nhiễm khuẩn niệu và bệnh lý tiền liệt tuyến [45]. Tần suất bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới, lứa tuổi mắc bệnh từ 30 đến 50 tuổi. Có nhiều yếu tố thuận lợi gây sỏi tiết niệu nhƣ chế độ ăn; nƣớc uống có chứa nhiều calci, phosphats, oxalat; khí hậu nóng và yếu tố di truyền [1].

Theo nghiên cứu của tác giả Đàm Văn Cƣơng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sỏi tiết niệu là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (53,97%) trong tất cả các bệnh lý hệ tiết niệu sinh dục [4]. Trƣớc đây, để lấy sỏi thận, ngƣời ta dùng phƣơng pháp mổ mở là chủ yếu, với thời gian hậu phẫu kéo dài, bệnh nhân chịu nhiều đau đớn và để lại sẹo dài sau mổ. Từ thập niên 1980 đến nay, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ trong y học có nhiều phƣơng pháp điều trị sỏi thận ít xâm lấn nhƣ tán sỏi qua da, tán sỏi qua nội soi niệu quản ngƣợc dòng, tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi trong hoặc sau phúc mạc. Việc áp dụng các phƣơng pháp điều trị sỏi thận ít xâm lấn không chỉ giảm phí cho bệnh nhân, ít biến chứng và thời gian hồi phục nhanh mà còn có giá trị thẩm mỹ cao, kéo giảm số trƣờng hợp tiến hành phẫu thuật mổ mở lấy sỏi chỉ còn khoảng 5%.

Lựa chọn phƣơng pháp điều trị nào tùy thuộc vào vị trí, tính chất, số lƣợng sỏi, tình trạng chức năng thận, trang thiết bị hiện có và kinh nghiệm của phẫu thuật viên… Sự ra đời phƣơng pháp tạo khoang sau phúc mạc với một bong bóng của Gaur (1992) trong mổ lấy sỏi niệu quản và bể thận nội soi qua đƣờng sau phúc mạc đã mở ra một chân trời mới cho các nhà niệu khoa [24], [15]. Phƣơng 2 pháp phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi ngày nay đã chứng tỏ đƣợc nhiều ƣu thế, giảm đƣợc các tai biến, biến chứng nhƣ: nguy cơ tổn thƣơng các tạng trong phúc mạc, mạch máu, thoát vị tạng qua vết mổ… Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi đã đƣợc áp dụng phổ biến tại nhiều bệnh viện trong cả nƣớc và đã thu đƣợc nhiều kết quả tốt, ít tốn kém hơn các phƣơng pháp tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi niệu quản - thận nội soi ngƣợc dòng bằng laser…. Với tỷ lệ thành công cao của phƣơng pháp lấy sỏi nội soi sau phúc mạc đã đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho ngƣời bệnh. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang, siêu âm và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phƣơng pháp nội soi sau phúc mạc lấy sỏi tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ƣơng Cần Thơ năm 2018- 2019” với các mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1.

Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang, siêu âm của bệnh nhân sỏi bể thận tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018 - 2019. Đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc lấy sỏi tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018-2019. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về giải phẫu học thận và khoang sau phúc mạc 1.

Sơ lƣợc về giải phẫu học thận 1. Vị trí và hình thể ngoài Mỗi ngƣời có hai thận nằm phía sau phúc mạc, ở hai bên cột sống, thận bên phải thấp hơn thận bên trái. Cực trên thận ngang mức đốt sống D11 (bên trái ngang bờ trên D11, bên phải ngang bờ dƣới D11). Cực dƣới thận ngang mức mỏm ngang đốt sống L3, cách mào chậu 3-5 cm (bên trái ngang bờ trên L3, bên phải ngang bờ dƣới L3).

Thận phải thấp hơn thận trái 2 cm. Kích thƣớc: cao khoảng 12 cm, rộng 6 cm, dầy 3 cm. Cân nặng khoảng trung bình khoảng 150 gam ở nữ và 135 gam ở nam [7], [28]. Vị trí hai thận: mặt phẳng đứng ngang minh họa cực trên 2 thận hơi nghiêng về giữa.

Mặt phẳng đứng dọc minh họa cực dƣới của thận hơi hƣớng về phía trƣớc “Nguồn: Campbell’s Urology 10th 2012”[15]. 4 Thận nằm sau phúc mạc, trong một ổ đƣợc giới hạn bởi hai lá: lá trƣớc và lá sau. Trong đó lá trƣớc đƣợc tăng cƣờng bởi mạc Todd, lá sau dính vào cột sống. Trong ổ thận có lớp mỡ quanh thận [7], [36], [48].

Thận đƣợc bao bọc bởi một bao mỡ lỏng lẻo (mạc Zuckerkandl), đƣợc chứa trong cân Gerota. Cân Gerota là một cấu trúc đa lớp , là sự hợp nhất giữa cân cơ thắt lƣng chậu và cân cơ vuông thắt lƣng ở phía sau, sau đó chạy ra phía trƣớc bao bọc thận. Cân Gerota là một cấu trúc rất quan trọng trong phẫu thuật thận, đây là lớp mô liên kết bao bọc thận và tuyến thƣợng thận. Ở phía trƣớc, cân chạy ra đến trƣớc thận, mạch máu thận, động mạch chủ bụng và tĩnh mạch chủ dƣới rồi hợp nhất với lá trƣớc đối bên.

Phía sau, nó hòa vào cơ thắt lƣng chậu và mặt bên các đốt sống. Phía trên, hai lá trƣớc và sau hợp nhất để bao bọc tuyến thƣợng thận và dính vào mạc chằng hoành. Phía dƣới, hai lá trƣớc và sau không hợp nhất mà hòa lẫn với các mô liên kết của vùng chậu [28], [36]. Mặt cắt dọc qua thận “Nguồn: Anatomy of the kidney and ureter” [36] 5 Xoang thận: thông ra ngoài ở rốn thận.

Xoang thận có bó mạch, thần kinh và bể thận đi qua. Thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm. Chỗ lồi hình nón gọi là nhú thận, cao khoảng 4-10 mm. Đầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ nƣớc tiểu vào bể thận.

Chỗ lõm úp vào nhú thận gọi là các đài thận nhỏ. Mỗi thận thƣờng có từ 7-14 đài thận nhỏ, hợp lại thành 2 hay 3 đài thận lớn. Các đài thận lớn hợp lại thành bể thận. Bể thận nối tiếp với niệu quản.

Bể thận thƣờng có biến đổi giải phẫu đáng kể, bể thận có thể nằm hoàn toàn bên ngoài xoang thận hoặc có thể bị vùi sâu trong xoang. Giữa 2 dạng hình dáng này có nhiều hình dáng trung gian của bể thận. Nếu một hòn sỏi nằm ở bể thận ngoài xoang sẽ dễ lấy hơn so với bể thận trong xoang [36]. Liên quan Phía trên: liên quan đến tuyến thƣợng thận mỗi bên.

Phía trong: liên quan với tĩnh mạch chủ dƣới bên phải và động mạch chủ bụng bên trái. Phía trƣớc: thận phải liên quan với gan, đại tràng góc gan, đoạn D2, D3 tá tràng. Thận trái liên quan đến dạ dày, lách, hổng tràng, đại tràng góc lách và tụy. Mỗi thận đƣợc che phủ bởi ruột: một phần tá tràng, đại tràng.

Liên quan đến đoạn tá tràng sau phúc mac là rất quan trọng vì thỉnh thoảng lầm với bể thận dãn [28]. Phía sau: xƣơng sƣờn 12 bắt chéo ngang thận, chia thận thành 2 tầng: tầng ngực liên quan đến phổi và màng phổi, tầng bụng liên quan với thành lƣng. Do thận nằm một nửa tầng ngực, một nửa tầng bụng nên bình thƣờng khi khám thận chỉ sờ thấy cực dƣới thận. Khi thận to vƣợt quá vòm hoành thì phát hiện dễ dàng hơn.

Liên quan phía trƣớc thận phải (a), thận trái (b) “Nguồn: Kidney and Ureter Anatomy” [28]. Liên quan phía sau thận phải “Nguồn: Kidney and Ureter Anatomy” [28] Động mạch: động mạch thận xuất phát từ động mạch chủ ngang mức L1 và L2, động mạch thận trái ngắn hơn động mạch thận phải, chạy sau tĩnh mạch chủ dƣới. Có nhều hơn một động mạch thận và thƣờng là dị dạng. Tĩnh mạch: tĩnh mạch thận phải dẫn lƣu máu từ thận phải và đổ về tĩnh mạch chủ dƣới.

Tĩnh mạch thận trái dẫn lƣu máu từ thận trái, tĩnh mạch thƣợng thận trái, tĩnh mạch sinh dục trái và đổ về tĩnh mạch chủ dƣới [28]. Hình thể trong Thận là một tạng đặc, có nhu mô dày 15-18 mm, bao bọc thận là vỏ thận dai và chắc. Nhu mô thận đƣợc chia thành 2 vùng:  Vùng tủy chứa các tháp Malpighi, mỗi tháp tƣơng ứng với mỗi đài nhỏ. Trong đó chứa hệ thống ống góp trƣớc khi đổ vào đài thận.

giữa các tháp Malpighi là tổ chức khe thận bao gồm mạch máu, thần kinh và bạch huyết. 8  Vùng vỏ thận là nơi chứa các đơn vị chức năng thận (nephron). Mỗi thận chứa 1-1,5 triệu nephron. Cuống thận dài từ 2-9 cm.

Nằm trong cuốn thận bao gồm: động mạch thận, tĩnh mạch thận, thần kinh, bạch huyết. Trong đó tĩnh mạch nằm dƣới trƣớc động mạch [7]. Giải phẫu thận. “Nguồn: Campbell’s Urology 10th 2012” [35].

Hệ thống động mạch thận * Phân chia động mạch thận: Khoảng 98% động mạch thận xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ bụng ngay dƣới động mạch mạc treo tràng trên (ngang sụn liên đốt L1-L2). Khoảng 67-78% mỗi thận có một động mạch tới cấp máu. Từ nguyên ủy, động mạch dài khoảng 3 cm đi trong cuốn thận, đi vào rốn thận, đƣợc kẹp giữa tĩnh mạch thận phía trƣớc và bể thận phía sau. Đến rốn thận hệ thống động mạch chính của thận đƣợc phân làm 2 nhánh: nhánh trƣớc và nhánh sau.

Động mạch thận 9 phụ là những động mạch khi đi vào rốn thận, chỉ cung cấp máu cho một vùng thận; động mạch không đi vào rốn thận cấp máu cho một vùng thận là động mạch xiên hay động mạch cực. Tỷ lệ động mạch cực dao dộng khoảng 14,2%-31,7%, trong đó động mạch cực trên nhiều hơn cực dƣới. *Phân chia đông mạch thận ngoài rốn: Nhánh trƣớc của động mạch thận chạy chếch xuống dƣới và chia thành 3-5 nhánh. Khoảng 64,6% các nhánh này tỏa ra che kín mặt trƣớc bể thận, sau đó mới đi vào rốn thận.

Nhánh sau động mạch thận có 2 đoạn: đoạn thứ nhất chạy ngang theo bờ trên của bể thận, sau đó động mạch này đổi hƣớng chạy thẳng xuống dƣới, bắt chéo với mép sau rốn thận hình chữ X để vào xoang thận. Khi vào xoang thận chia thành 3-5 nhánh chi phối phân thùy sau. * Phân chia động mạch trong thận: Nhánh động mạch trƣớc bể chia thành 3-4 nhánh bên và một nhánh cùng thƣờng ở ngoài rốn thận, các ngành này che phủ kín mặt trƣớc bể thận. Nhánh động mạch sau bể cũng tách ra thành 3-4 nhánh nhƣng ở sâu trong xoang thận và chỉ che phủ kín một phần bể thận, do đó phẫu thuật vào mặt sau bể thận ít nguy hiểm hơn mặt trƣớc.

Các nhánh này là các động mạch phân thùy thận, mỗi động mạch phân thùy tách cho 6-10 động mạch thùy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Sỏi Bể Thận Bằng Phương Pháp Nội Soi Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mắc sỏi bể thận và hiệu quả của phương pháp nội soi trong điều trị. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh mà còn đưa ra những kết quả điều trị khả quan, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới who năm 2013, nơi cung cấp thông tin về các loại bệnh lý khác nhau. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane watermark cũng có thể mang lại những góc nhìn mới về các phương pháp điều trị hiện đại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại bv phụ sản tp cần thơ năm 2014 2015, giúp bạn nắm bắt thêm thông tin về sức khỏe sinh sản.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, mở rộng kiến thức và nâng cao hiểu biết trong lĩnh vực y học.