ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi hệ tiết niệu là bệnh thƣờng gặp của đƣờng tiết niệu, với tỉ lệ bệnh đƣợc báo cáo từ 11-13% ở nam và 5,6-7% ở nữ [7], [33]. Bệnh đứng hàng thứ ba trong các bệnh lý tiết niệu, đứng sau bệnh lý nhiễm khuẩn niệu và bệnh lý tiền liệt tuyến [45]. Tần suất bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới, lứa tuổi mắc bệnh từ 30 đến 50 tuổi. Có nhiều yếu tố thuận lợi gây sỏi tiết niệu nhƣ chế độ ăn; nƣớc uống có chứa nhiều calci, phosphats, oxalat; khí hậu nóng và yếu tố di truyền [1].
Theo nghiên cứu của tác giả Đàm Văn Cƣơng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sỏi tiết niệu là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (53,97%) trong tất cả các bệnh lý hệ tiết niệu sinh dục [4]. Trƣớc đây, để lấy sỏi thận, ngƣời ta dùng phƣơng pháp mổ mở là chủ yếu, với thời gian hậu phẫu kéo dài, bệnh nhân chịu nhiều đau đớn và để lại sẹo dài sau mổ. Từ thập niên 1980 đến nay, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ trong y học có nhiều phƣơng pháp điều trị sỏi thận ít xâm lấn nhƣ tán sỏi qua da, tán sỏi qua nội soi niệu quản ngƣợc dòng, tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi thận bằng phẫu thuật nội soi trong hoặc sau phúc mạc. Việc áp dụng các phƣơng pháp điều trị sỏi thận ít xâm lấn không chỉ giảm phí cho bệnh nhân, ít biến chứng và thời gian hồi phục nhanh mà còn có giá trị thẩm mỹ cao, kéo giảm số trƣờng hợp tiến hành phẫu thuật mổ mở lấy sỏi chỉ còn khoảng 5%.
Lựa chọn phƣơng pháp điều trị nào tùy thuộc vào vị trí, tính chất, số lƣợng sỏi, tình trạng chức năng thận, trang thiết bị hiện có và kinh nghiệm của phẫu thuật viên… Sự ra đời phƣơng pháp tạo khoang sau phúc mạc với một bong bóng của Gaur (1992) trong mổ lấy sỏi niệu quản và bể thận nội soi qua đƣờng sau phúc mạc đã mở ra một chân trời mới cho các nhà niệu khoa [24], [15]. Phƣơng 2 pháp phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi ngày nay đã chứng tỏ đƣợc nhiều ƣu thế, giảm đƣợc các tai biến, biến chứng nhƣ: nguy cơ tổn thƣơng các tạng trong phúc mạc, mạch máu, thoát vị tạng qua vết mổ… Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi đã đƣợc áp dụng phổ biến tại nhiều bệnh viện trong cả nƣớc và đã thu đƣợc nhiều kết quả tốt, ít tốn kém hơn các phƣơng pháp tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi niệu quản - thận nội soi ngƣợc dòng bằng laser…. Với tỷ lệ thành công cao của phƣơng pháp lấy sỏi nội soi sau phúc mạc đã đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho ngƣời bệnh. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang, siêu âm và đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phƣơng pháp nội soi sau phúc mạc lấy sỏi tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ƣơng Cần Thơ năm 2018- 2019” với các mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1.
Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang, siêu âm của bệnh nhân sỏi bể thận tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018 - 2019. Đánh giá kết quả điều trị sỏi bể thận bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc lấy sỏi tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ năm 2018-2019. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về giải phẫu học thận và khoang sau phúc mạc 1.
Sơ lƣợc về giải phẫu học thận 1. Vị trí và hình thể ngoài Mỗi ngƣời có hai thận nằm phía sau phúc mạc, ở hai bên cột sống, thận bên phải thấp hơn thận bên trái. Cực trên thận ngang mức đốt sống D11 (bên trái ngang bờ trên D11, bên phải ngang bờ dƣới D11). Cực dƣới thận ngang mức mỏm ngang đốt sống L3, cách mào chậu 3-5 cm (bên trái ngang bờ trên L3, bên phải ngang bờ dƣới L3).
Thận phải thấp hơn thận trái 2 cm. Kích thƣớc: cao khoảng 12 cm, rộng 6 cm, dầy 3 cm. Cân nặng khoảng trung bình khoảng 150 gam ở nữ và 135 gam ở nam [7], [28]. Vị trí hai thận: mặt phẳng đứng ngang minh họa cực trên 2 thận hơi nghiêng về giữa.
Mặt phẳng đứng dọc minh họa cực dƣới của thận hơi hƣớng về phía trƣớc “Nguồn: Campbell’s Urology 10th 2012”[15]. 4 Thận nằm sau phúc mạc, trong một ổ đƣợc giới hạn bởi hai lá: lá trƣớc và lá sau. Trong đó lá trƣớc đƣợc tăng cƣờng bởi mạc Todd, lá sau dính vào cột sống. Trong ổ thận có lớp mỡ quanh thận [7], [36], [48].
Thận đƣợc bao bọc bởi một bao mỡ lỏng lẻo (mạc Zuckerkandl), đƣợc chứa trong cân Gerota. Cân Gerota là một cấu trúc đa lớp , là sự hợp nhất giữa cân cơ thắt lƣng chậu và cân cơ vuông thắt lƣng ở phía sau, sau đó chạy ra phía trƣớc bao bọc thận. Cân Gerota là một cấu trúc rất quan trọng trong phẫu thuật thận, đây là lớp mô liên kết bao bọc thận và tuyến thƣợng thận. Ở phía trƣớc, cân chạy ra đến trƣớc thận, mạch máu thận, động mạch chủ bụng và tĩnh mạch chủ dƣới rồi hợp nhất với lá trƣớc đối bên.
Phía sau, nó hòa vào cơ thắt lƣng chậu và mặt bên các đốt sống. Phía trên, hai lá trƣớc và sau hợp nhất để bao bọc tuyến thƣợng thận và dính vào mạc chằng hoành. Phía dƣới, hai lá trƣớc và sau không hợp nhất mà hòa lẫn với các mô liên kết của vùng chậu [28], [36]. Mặt cắt dọc qua thận “Nguồn: Anatomy of the kidney and ureter” [36] 5 Xoang thận: thông ra ngoài ở rốn thận.
Xoang thận có bó mạch, thần kinh và bể thận đi qua. Thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm. Chỗ lồi hình nón gọi là nhú thận, cao khoảng 4-10 mm. Đầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ nƣớc tiểu vào bể thận.
Chỗ lõm úp vào nhú thận gọi là các đài thận nhỏ. Mỗi thận thƣờng có từ 7-14 đài thận nhỏ, hợp lại thành 2 hay 3 đài thận lớn. Các đài thận lớn hợp lại thành bể thận. Bể thận nối tiếp với niệu quản.
Bể thận thƣờng có biến đổi giải phẫu đáng kể, bể thận có thể nằm hoàn toàn bên ngoài xoang thận hoặc có thể bị vùi sâu trong xoang. Giữa 2 dạng hình dáng này có nhiều hình dáng trung gian của bể thận. Nếu một hòn sỏi nằm ở bể thận ngoài xoang sẽ dễ lấy hơn so với bể thận trong xoang [36]. Liên quan Phía trên: liên quan đến tuyến thƣợng thận mỗi bên.
Phía trong: liên quan với tĩnh mạch chủ dƣới bên phải và động mạch chủ bụng bên trái. Phía trƣớc: thận phải liên quan với gan, đại tràng góc gan, đoạn D2, D3 tá tràng. Thận trái liên quan đến dạ dày, lách, hổng tràng, đại tràng góc lách và tụy. Mỗi thận đƣợc che phủ bởi ruột: một phần tá tràng, đại tràng.
Liên quan đến đoạn tá tràng sau phúc mac là rất quan trọng vì thỉnh thoảng lầm với bể thận dãn [28]. Phía sau: xƣơng sƣờn 12 bắt chéo ngang thận, chia thận thành 2 tầng: tầng ngực liên quan đến phổi và màng phổi, tầng bụng liên quan với thành lƣng. Do thận nằm một nửa tầng ngực, một nửa tầng bụng nên bình thƣờng khi khám thận chỉ sờ thấy cực dƣới thận. Khi thận to vƣợt quá vòm hoành thì phát hiện dễ dàng hơn.
Liên quan phía trƣớc thận phải (a), thận trái (b) “Nguồn: Kidney and Ureter Anatomy” [28]. Liên quan phía sau thận phải “Nguồn: Kidney and Ureter Anatomy” [28] Động mạch: động mạch thận xuất phát từ động mạch chủ ngang mức L1 và L2, động mạch thận trái ngắn hơn động mạch thận phải, chạy sau tĩnh mạch chủ dƣới. Có nhều hơn một động mạch thận và thƣờng là dị dạng. Tĩnh mạch: tĩnh mạch thận phải dẫn lƣu máu từ thận phải và đổ về tĩnh mạch chủ dƣới.
Tĩnh mạch thận trái dẫn lƣu máu từ thận trái, tĩnh mạch thƣợng thận trái, tĩnh mạch sinh dục trái và đổ về tĩnh mạch chủ dƣới [28]. Hình thể trong Thận là một tạng đặc, có nhu mô dày 15-18 mm, bao bọc thận là vỏ thận dai và chắc. Nhu mô thận đƣợc chia thành 2 vùng: Vùng tủy chứa các tháp Malpighi, mỗi tháp tƣơng ứng với mỗi đài nhỏ. Trong đó chứa hệ thống ống góp trƣớc khi đổ vào đài thận.
giữa các tháp Malpighi là tổ chức khe thận bao gồm mạch máu, thần kinh và bạch huyết. 8 Vùng vỏ thận là nơi chứa các đơn vị chức năng thận (nephron). Mỗi thận chứa 1-1,5 triệu nephron. Cuống thận dài từ 2-9 cm.
Nằm trong cuốn thận bao gồm: động mạch thận, tĩnh mạch thận, thần kinh, bạch huyết. Trong đó tĩnh mạch nằm dƣới trƣớc động mạch [7]. Giải phẫu thận. “Nguồn: Campbell’s Urology 10th 2012” [35].
Hệ thống động mạch thận * Phân chia động mạch thận: Khoảng 98% động mạch thận xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ bụng ngay dƣới động mạch mạc treo tràng trên (ngang sụn liên đốt L1-L2). Khoảng 67-78% mỗi thận có một động mạch tới cấp máu. Từ nguyên ủy, động mạch dài khoảng 3 cm đi trong cuốn thận, đi vào rốn thận, đƣợc kẹp giữa tĩnh mạch thận phía trƣớc và bể thận phía sau. Đến rốn thận hệ thống động mạch chính của thận đƣợc phân làm 2 nhánh: nhánh trƣớc và nhánh sau.
Động mạch thận 9 phụ là những động mạch khi đi vào rốn thận, chỉ cung cấp máu cho một vùng thận; động mạch không đi vào rốn thận cấp máu cho một vùng thận là động mạch xiên hay động mạch cực. Tỷ lệ động mạch cực dao dộng khoảng 14,2%-31,7%, trong đó động mạch cực trên nhiều hơn cực dƣới. *Phân chia đông mạch thận ngoài rốn: Nhánh trƣớc của động mạch thận chạy chếch xuống dƣới và chia thành 3-5 nhánh. Khoảng 64,6% các nhánh này tỏa ra che kín mặt trƣớc bể thận, sau đó mới đi vào rốn thận.
Nhánh sau động mạch thận có 2 đoạn: đoạn thứ nhất chạy ngang theo bờ trên của bể thận, sau đó động mạch này đổi hƣớng chạy thẳng xuống dƣới, bắt chéo với mép sau rốn thận hình chữ X để vào xoang thận. Khi vào xoang thận chia thành 3-5 nhánh chi phối phân thùy sau. * Phân chia động mạch trong thận: Nhánh động mạch trƣớc bể chia thành 3-4 nhánh bên và một nhánh cùng thƣờng ở ngoài rốn thận, các ngành này che phủ kín mặt trƣớc bể thận. Nhánh động mạch sau bể cũng tách ra thành 3-4 nhánh nhƣng ở sâu trong xoang thận và chỉ che phủ kín một phần bể thận, do đó phẫu thuật vào mặt sau bể thận ít nguy hiểm hơn mặt trƣớc.
Các nhánh này là các động mạch phân thùy thận, mỗi động mạch phân thùy tách cho 6-10 động mạch thùy.