Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ 2017 2018

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn tại bệnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Y Học

2019

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ RẮN LỤC

1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN BỊ RẮN LỤC CẮN

1.2.1. Lâm sàng

1.2.2. Triệu chứng tại chỗ

1.2.3. Triệu chứng toàn thân

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2 DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Rắn Lục Cắn

Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ là một chủ đề quan trọng trong y học. Bệnh rắn lục cắn không chỉ gây ra những triệu chứng nghiêm trọng mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Theo thống kê, mỗi năm có hàng ngàn trường hợp rắn cắn tại Việt Nam, trong đó rắn lục chiếm tỷ lệ cao. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị sẽ giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Bệnh Nhân Bị Rắn Lục Cắn

Bệnh nhân bị rắn lục cắn thường có các triệu chứng như đau, sưng nề tại vị trí cắn. Các triệu chứng này có thể xuất hiện ngay sau khi bị cắn hoặc sau vài giờ. Đặc biệt, triệu chứng hoại tử có thể xảy ra, gây ra những biến chứng nghiêm trọng. Theo nghiên cứu, tỷ lệ hoại tử ở bệnh nhân rắn lục cắn là rất cao, điều này đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ y tế.

1.2. Tình Hình Rắn Lục Cắn Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, số lượng bệnh nhân bị rắn lục cắn ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Theo thống kê, mỗi năm có khoảng 30.000 trường hợp rắn cắn, trong đó rắn lục chiếm tỷ lệ lớn. Việc nắm bắt tình hình này là cần thiết để có các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Điều Trị Bệnh Nhân Rắn Lục Cắn

Điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc chẩn đoán và điều trị kịp thời. Các triệu chứng lâm sàng có thể thay đổi nhanh chóng, gây khó khăn cho bác sĩ trong việc đưa ra quyết định điều trị. Hơn nữa, việc sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh các tác dụng phụ không mong muốn.

2.1. Các Triệu Chứng Khó Nhận Biết

Nhiều triệu chứng của bệnh nhân rắn lục cắn có thể bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác, dẫn đến chẩn đoán sai. Điều này có thể làm chậm trễ trong việc điều trị, ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe của bệnh nhân.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Sử Dụng Huyết Thanh Kháng Nọc

Việc sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn là rất quan trọng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cần phải có sự đánh giá kỹ lưỡng về tình trạng bệnh nhân trước khi quyết định sử dụng huyết thanh, nhằm giảm thiểu các tác dụng phụ có thể xảy ra.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Bệnh Nhân Rắn Lục Cắn

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ với phương pháp thu thập dữ liệu từ bệnh nhân bị rắn lục cắn. Các thông tin được ghi nhận bao gồm triệu chứng lâm sàng, kết quả xét nghiệm và phương pháp điều trị. Phương pháp này giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình bệnh nhân và hiệu quả điều trị.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân bị rắn lục cắn trong khoảng thời gian từ 2017 đến 2018. Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

3.2. Đạo Đức Trong Nghiên Cứu

Đạo đức trong nghiên cứu là rất quan trọng. Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều được thông báo rõ ràng về mục đích và quy trình nghiên cứu, đồng thời được yêu cầu đồng ý tham gia.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Đặc Điểm Lâm Sàng Bệnh Nhân Rắn Lục Cắn

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn rất đa dạng. Các triệu chứng như đau, sưng nề, và hoại tử là những dấu hiệu phổ biến. Hơn nữa, tỷ lệ bệnh nhân cần điều trị bằng huyết thanh kháng nọc cũng cao, cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh.

4.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Chính

Các triệu chứng lâm sàng chính của bệnh nhân bị rắn lục cắn bao gồm đau dữ dội, sưng nề tại vị trí cắn, và có thể xuất hiện hoại tử. Những triệu chứng này cần được theo dõi chặt chẽ để có biện pháp điều trị kịp thời.

4.2. Kết Quả Điều Trị

Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ hồi phục của bệnh nhân bị rắn lục cắn là cao khi được điều trị kịp thời. Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn gặp phải các biến chứng nghiêm trọng, đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Bệnh Nhân Rắn Lục Cắn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn rất đa dạng và phức tạp. Việc nhận diện sớm các triệu chứng và áp dụng phương pháp điều trị hiệu quả là rất quan trọng để giảm thiểu biến chứng và nâng cao tỷ lệ hồi phục cho bệnh nhân. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tình hình này.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn cho bệnh nhân bị rắn lục cắn. Điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Chuyên Gia Y Tế

Các chuyên gia y tế cần được đào tạo thêm về đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn để có thể chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc nâng cao nhận thức về tình trạng này là rất cần thiết.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ 2017 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong năm qua, rắn lục xuất hiện ồ ạt, bất thƣờng ở nhiều tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng và cả nƣớc nói chung đã và vẫn đang thành chủ đề nóng, khiến cho ngƣời dân lo lắng. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới báo cáo 2,5 triệu trƣờng hợp bị rắn cắn/năm [58],[59]. Tại châu Á rắn cắn nhiều hơn các châu lục khác, hằng năm số ngƣời bị rắn cắn ở Pakistan là 40000 ngƣời, tại Sri Lanka là 33000 ngƣời và ở Ấn Độ là 46000 [40][42]. Nƣớc Mỹ có khoảng 6000- 8000 ngƣời bị rắn cắn/năm, tử vong do rắn hổ là 9%, do rắn lục là 0,2% [43].

Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 30.000 trƣờng hợp rắn cắn. Bệnh viện Chợ Rẫy trong những năm 1999-2001 có 1527 ca rắn cắn, tử vong 2,7%, đặc trƣng nhiều là rắn hổ 91,3% [2]. Nhƣng đến 2013 ghi nhận rắn cắn nhiều nhất là rắn lục 63% [20]. Theo thống kê của Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai rắn độc cắn đứng hàng thứ 5 trong các trƣờng hợp ngộ độc nhập viện [4].

Tại bệnh viện Chợ Rẫy, nghiên cứu của Lê Thanh Bình (2008) ghi nhận số lƣợng bệnh nhân nhập viện do rắn độc cắn là: 667 do rắn Lục, 334 do rắn Hổ Đất, rắn Chàm Quạp 259, rắn Hổ Mèo 142, rắn Cạp Nia 24 và rắn Hổ Chúa 18 bệnh nhân [2]. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Thảo và Mai Thị Dụ[11] triệu chứng sƣng, đau chiếm 100%, hoại tử 20%, 66,7% trƣờng hợp bị DIC. Trong nghiên cứu của Halesha và cộng sự xuất huyết tiêu hóa chiếm 14%, xuất huyết nội sọ chiếm 1,8% và DIC chiếm 2,2% [37]. Tác giả Christopher 2 (2015) nghiên cứu tại Australia [34] trên họ Rắn Lục là 95% sƣng, đau tại chỗ; 58% có dấu hiệu xuất huyết.

Nhìn chung, đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn đa dạng, chủ yếu triệu chứng nặng liên quan đến rối loạn đông máu. Trong điều trị, huyết thanh kháng nọc rắn là giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, Halesha B.R cho rằng chỉ nên sử dụng HTKNR khi đã đƣợc cân nhắc lợi ích trên hẳn nguy cơ [37]. Theo Mai Đức Thảo và Nguyễn Thị Dụ [11]tỉ lệ tử vong là 7,5%; kết quả nghiên cứu của Chiristine Karlson Stiber tử vong 0,4% do bệnh nhân mức độ nặng [33].

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi mong muốn mô tả đặc điểm của bệnh nhân bị rắn lục cắn và nhận định kết quả điều trị tại Cần Thơ. Do đó, chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ƣơng Cần Thơ 2017-2018” nhằm các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ 2017-2018. Nhận xét về các biện pháp điều trị và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân bị rắn lục cắn tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ 2017-2018.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ RẮN LỤC Việt Nam là nƣớc có sự đa dạng về các loài rắn. Riêng về các loài rắn lục, hiện ghi nhận 22 loài thuộc họ rắn lục Viperida[15]. Riêng nhóm rắn lục có màu xanh (thuộc giống Trimeresurus) có 8 loài. Loài phổ biến nhất là rắn lục mép trắng (hay còn gọi là rắn lục đuôi đỏ, rắn lục tre: Trimeresurus albolabris).

Họ Rắn Lục: rắn Lục Đuôi Đỏ (Trimeresurus albolabris), rắn Lục Xanh (Trimeresurus stejnegeri), rắn Chàm Quạp (Rhodostoma malayii hay Colloselasma rhodostoma)[15]. Từ đầu mùa hạ đến đầu đông là thời kỳ hoạt động tìm mồi và sinh sản. Rắn ngủ đông từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11. Mùa xuân rắn rời khỏi hang ra sƣởi nắng[13].

Rắn hoạt động chủ yếu ban ngày có rắn Ráo, rắn Biển. Từ chiều tối tới đêm có rắn Cạp Nong, Cạp Nia, rắn Lục. Sự hoạt động của rắn còn tùy thuộc vào diễn biến của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Rắn Hổ thƣờng hoạt động ban đêm, khô ráo, nhƣng cũng thấy hoạt động lúc chạng vạng tối khi trời mùa hạ nóng bức.

Rắn lục hay chính xác hơn gọi là Họ Rắn lục là một họ rắn độc đƣợc tìm thấy trên khắp thế giới, trừ một số khu vực nhƣ châu Nam Cực, Úc, Ireland, Madagascar, Hawaii, một loạt các hòn đảo biệt lập và ở trên vòng Bắc Cực. Tất cả các loài rắn trong họ này đều có các răng nọc tƣơng đối dài và có khớp nối cho phép đâm sâu và bơm nọc rắn[13].1 Sơ bộ đặc điểm hình thái của rắn lục Các loài rắn lục có xƣơng hàm trên ngắn, có 2 móc độc lớn ở phía trƣớc hàm, có ống dẫn nọc thông với tuyến độc. Đầu hình tam giác phủ 4 toàn vảy nhỏ hoặc lẫn vảy lớn phân biệt rất rõ với cổ[[15], [25]. Đa số loài có hố má trung gian giữa mắt và mũi.

Hố má có chức năng cảm giác nhiệt, nhờ đó rắn nhận biết con mồi có máu nóng (chim, thú) ở gần chúng.1 Đặc điễm giải phẫu rắn độc[15]  Hình thái: rắn dài khoảng 40-65 cm, lƣng màu xanh lá cây, đôi khi có các vệt trắng mờ ngang thân, hai bên sƣờn có sọc màu trắng sát với bụng (sọc này thƣờng không có hoặc rất mờ ở con cái), phần mút đuôi thƣờng có màu đỏ tía (nên gọi là rắn lục đuôi đỏ).2 Rắn lục tre[60]  Phân bố: rắn lục mép trắng phân bố ở vùng rừng trong cả nƣớc, kể cả các đảo lớn.  Tập tính: rắn sống trên đất hay trên cây (thân bám và đuôi cuộn vào cành cây treo mình để rình mồi), cách mặt đất từ 0,2-1,5 m. Rắn ăn động 5 vật có xƣơng sống nhƣ thú nhỏ, thằn lằn, ếch nhái, có khi ăn cả côn trùng. Rắn thƣờng không chủ động tấn công ngƣời[15].2 Nọc độc Nọc độc đƣợc tiết ra từ các tuyến nọc riêng, thƣờng là có nối với cuống răng độc bằng một ống dẫn.

Nọc độc của rắn có 3 chức năng sau [15]: - Bất động con mồi. - Tiêu hoá con mồi. - Đe doạ kẻ thù.1 Các thành phần của nọc rắn Nọc rắn bao gồm hơn 20 thành phần khác nhau, chủ yếu là protein gồm các enzym và độc tố dạng polypeptide. Nói chung mỗi thành phần có độc tính khác nhau, khi có mặt trong cơ thể bệnh nhân tƣơng tác với nhau trở nên phức tạp hơn.

Cùng một loại rắn ở các nơi khác nhau có thể có các độc tính khác nhau. Thành phần hóa học gồm: Cacbon, Hiđro, Oxy, Nitơ, Lƣu Huỳnh, Phốt Pho, và một lƣợng nhỏ Kẽm [13]. Nọc rắn mới tiết ra là một chất lỏng trong, màu trắng đến vàng nhạt có mùi tanh và đắng, có độ dính cao [13]. Nếu làm khô nọc rắn trong chân không, nọc sẽ ở dƣới dạng tinh thể nhỏ màu vàng và giữ nguyên độc tính đến hàng chục năm, 90-95% là Protein và Polypeptid.

Ở nhiệt độ 1000C, tia cực tím hoặc phơi nắng nọc bị hủy trong 1 giờ. Các hóa chất thuốc tím 1%, Cloramin T 5%, Axit Cromic, Hypoclorit vôi hoặc nƣớc Javel hủy toàn bộ nọc. Tanin trong vỏ ổi, củ chuối, cau gây kết tủa nọc; mủ đu đủ làm giảm yếu tố tán huyết; Cholesterol trong mật trăn, rắn, heo gây hủy nọc [15], [25]. 6 Sau đây là giới thiệu khái quát về các loại độc tố trong nọc rắn (đối chiếu các tài liệu với bệnh cảnh lâm sàng rắn cắn ở nƣớc ta) [13].1 Các loại độc tố trong nọc rắn[13] Loại nọc rắn Tác dụng lâm sàng Loại rắn Độc tố với cơ Tổn thƣơng toàn bộ cơ vân Rắn hổ mang các Độc tố với thận Trực tiếp gây tổn thƣơng thận loại, rắn lục Độc tố gây hoại Trực tiếp gây tổn thƣơng tổ chức ở vị trí Rắn lục, rắn tử tổ chức cắn và chi bị cắn hổ mang thƣờng Độc tố với quá Tác dụng với quá trình đông máu bình Rắn lục trình đông máu thƣờng, gây chảy máu hoặc hình thành huyết khối Độc tố với Tổn thƣơng thành mạch, gây chảy máu thành mạch Bên cạnh các thành phần trên, trong nọc rắn còn có thể có chứa hyaluronidase, là một yếu tố gây tiêu huỷ tổ chức liên kết giúp nọc rắn lan tràn nhanh.

Ngoài tác dụng gây độc, vì bản chất là các protein nên nọc rắn cũng có thểkích thích đáp ứng miễn dịch thông qua IgE gây sốc phản vệ và tử vong sau khi bị rắn cắn[25].2 Động học của nọc độc Số lƣợng nọc độc rất thay đổi, tuỳ thuộc nhiều yếu tố: chủng rắn, kích cỡ con rắn, mức độ vết thƣơng cơ học, một răng độc hay cả hai cùng xuyên qua da, số nhát cắn. Bản thân con rắn cũng có thể tự kiểm soát việc nọc độc có đƣợc tống ra khi cắn hay không. Có một tỷ lệ các trƣờng hợp bị rắn độc cắn mà số lƣợng nọc độc đƣợc bơm ít, không đủ gây triệu chứng nhiễm độc (gọi là “vết cắn khô”). Ví dụ, tỷ lệ vết cắn khô với rắn hổ mang có thể tới 30 %.

Tuy nhiên rắn độc không bao giờ hết nọc độc, kể cả sau khi đã cắn nhiều lần, rắn cũng không trở nên ít độc hơn sau khi ăn mồi. Nọc độc trong hầu hết các trƣờng hợp đƣợc vận chuyển theo đƣờng bạch huyết về tuần hoàn hệ thống. Một số trƣờng hợp hãn hữu, nọc đƣợc bơm trực tiếp vào tĩnh mạch (dễ gây sốc phản vệ, nhiễm độc nhanh hơn). Đây là cơ sở cho việc băng ép chứ không garo.

Nọc đƣợc thải trừ phần lớn qua đƣờng tiêu hóa và thận trong 3-4 ngày. Tuy nhiên, do nọc rắn gắn vào các tế bào xung quanh vết cắn hay một số tế bào của hệ thống bạch huyết và sẽ giải phóng từ từ trong cơ thể ở những ngày sau. Do đó có hiện tƣợng tái phát triệu chứng trên lâm sàng, có trƣờng hợp xuất hiện vào ngày thứ 10 sau khi bị rắn cắn [4], [7]. Các yếu tố ảnh hƣởng tốc độ hấp thu, mức độ nặng của nhiễm độc và tốc độ thải trừ nọc độc: độ sâu của vết thƣơng, số lƣợng nọc độc đƣợc bơm vào, kích thƣớc và tác dụng của các thành phần có trong nọc, kích cỡ, tuổi, tình trạng bệnh lý khác của nạn nhân đang có và hoạt động của nạn nhân sau khi bị cắn.

Do vậy, các độc tố gây hoại tử và các độc tố khác tác dụng tại chỗ có thể có tác dụng lâm sàng hầu nhƣ ngay lập tức sau khi cắn hoặc đốt vì chúng đã có sẵn sàng ngay tại cơ quan đích, trong khi đó các độc tố tác dụng trên toàn thân trƣớc hết phải đi vào tuần hoàn hệ thống[16].3 Dịch tễ học 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Bệnh Nhân Bị Rắn Lục Cắn Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân bị rắn lục cắn, cũng như hiệu quả của các phương pháp điều trị được áp dụng tại bệnh viện. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và nhân viên y tế hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh nhân mà còn cung cấp thông tin quý giá cho việc cải thiện quy trình điều trị và chăm sóc sức khỏe.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Đánh giá đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng hiệu quả điều trị bệnh do ấu trùng gnathostoma spp bằng albendazole và ivermectin tại viện sốt rét ký sinh trùng, nơi nghiên cứu về hiệu quả điều trị các bệnh ký sinh trùng. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị sớm áp xe gan amip tại bv đa khoa tp cần thơ cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các bệnh lý liên quan đến gan. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng các loại biến chứng và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân xơ gan, giúp bạn nắm bắt được các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình điều trị bệnh nhân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.